Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát # Top 10 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tóm tắt

GIẢI PHÁP MỚI CHO VẤN ĐỀ LẠM PHÁT

Giúp thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lạm phát- suy thoái

——————————————————

TÓM TẮT:

Giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách đưa tiền vào lưu thông trực tiếp nhờ vào các doanh nghiệp thương mại để luôn tôn trọng được nguyên tắc: “Tiền chỉ được đưa vào lưu thông khi trong xã hội đã có được vật tư, hàng hóa làm vật đối chứng; và khi vật tư, hàng hóa đó, vật đối chứng đó không còn, đã được bán đi tiêu thụ, thì tiền từ trong lưu thông phải được thu về”. Vì vậy chúng ta sẽ vẫn luôn có được sự cân đối Tiền- Hàng trong nền kinh tế luôn vận động và phát triển, lạm phát mặc nhiên sẽ được loại trừ. Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lạm phát- suy thoái. Giá trị đồng tiền quốc gia sẽ luôn được giữ vững và ổn định.

NỘI DUNG:

Written by Nguyen Cao Dung

.

Đã đăng tại:

Tủ sách Nghiên Cứu– (08-10-2010)

Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Phát Triển (IDR)- Đại học Kinh tế TPHCM

.

Sách hiện đang có mặt tại hệ thống nhà sách Nguyễn Văn Cừ tại chúng tôi và các tỉnh thành khác trên cả nước. Giá bán: 30.000 đồng.

Đây là một quyển sách hay và giải quyết triệt để bài toán lạm phát, và qua đó tạo ra được một nguồn vốn lưu động gần như không giới hạn cho các doanh nghiệp thương mại.

.

TÓM TẮT:

Update [17-05-2017]

Giải quyết vấn đề lạm phát bằng cách đưa tiền vào lưu thông trực tiếp nhờ vào các doanh nghiệp thương mại để luôn tôn trọng được nguyên tắc: “Tiền chỉ được đưa vào lưu thông khi trong xã hội đã có được (mua được) vật tư, hàng hóa làm vật đối chứng để đảm bảo giá trị đồng tiền; và khi vật tư, hàng hóa đó, vật đối chứng đó không còn, đã được bán đi tiêu thụ, thì tiền từ trong lưu thông phải được thu về”.

Vì vậy chúng ta sẽ vẫn luôn có được sự cân đối về mặt giá trị giữa Hàng hóa và Tiền tệ trong nền kinh tế luôn vận động và phát triển, lạm phát mặc nhiên sẽ được loại trừ. Chúng ta sẽ thoát khỏi vòng xoáy: cung tiền – lạm phát – suy thoái. Giá trị đồng tiền quốc gia sẽ luôn được giữ vững và ổn định.

Giải pháp này sẽ giúp các nước đang bị lạm phát cao như Venezuela, Zimbabue,… kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế thị trường của đất nước họ, từ đó sẽ kiểm soát và dần dần sẽ loại trừ được lạm phát. Giải pháp này cũng có thể giúp các nước muốn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung (như Cuba, Bắc Triều tiên, …) sang nền kinh tế thị trường một cách an toàn, hiệu quả, và tránh không gây ra những cú sốc lớn (do giá cả tăng cao) trong nền kinh tế, nhờ vào việc kiểm soát được sự cân đối về mặt giá trị giữa hàng hóa và tiền tệ trong nền kinh tế của đất nước họ.

Giải pháp này sẽ giúp các nước trên thế giới hoàn thiện thêm nền kinh tế thị trường, giúp các nước thoát khỏi vòng xoáy cung tiền- lam phát- suy thoái. Nền kinh tế thị trường của các nước sẽ nhanh chóng phát triển như bản thân nó có thể mà không còn bị tình trạng lạm phát hay thiểu phát níu kéo nó thụt lùi trở lại nữa.

.

Sách xuất bản trên Amazon (phiên bản tiếng Anh)

Sách xuất bản trên Amazon (phiên bản tiếng Việt)

Hướng dẫn mua sách trên Amazon

Bình chọn

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Thực Trạng Và Giải Pháp Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam Trong Những Năm Vừa Qua

GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đậu Quang SơnLỜI MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong suốt những thập kỷ vừa qua, bên cạnh sự gia tăng về sản lượng sản xuất và đời sống của người dân ngày càng được cải thiện là xu hướng tăng lên của giá cả trên phạm vi toàn thế giới.Lạm phát được hiểu là sự gia tăng mức giá chung qua thời gian. Bên cạnh một số ít tác động tích cực thì lạm phát có rất nhiều các ảnh hưởng không có lợi cho nền kinh tế, chính vì vậy mà lạm phát luôn là một vấn đề kinh tế vĩ mô được sự quan tâm của tất cả các quốc gia và của nhiều nhà kinh tế lớn. Khi bàn về lạm phát, mỗi nhà kinh tế đưa ra những quan điểm, những nội dung riêng, và lạm phát ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ khác nhau là không giống nhau.Chúng ta có thể khẳng định: ở Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2008 có sự biến động lớn về giá cả (từ thiểu phát vào năm 2000 đến lạm phát 2 con số vào năm 2008). Việc tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân, giải pháp về lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008 là một vấn đề quan trọng, giúp các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp, cũng như từng người dân hiểu rõ thực trạng lạm phát ở nước ta trong thời gian qua, trên cơ sở đó đề xuất ra

của đề tài được chia làm 3 chương:Chương 1: Lý luận chung về lạm phátChương 2: Tình hình lạm phát của Việt Nam giai đoạn 2000-2008Chương 3:Những kiến nghị và hoàn thiện các giải pháp. Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD2GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang SơnMỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………………………………………………..1MỤC LỤC………………………………………………………………………………………………………………….3CHƯƠNG I…………………………………………………………………………………………………………………4LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT…………………………………………………………………………….41.1. Những quan điểm về lạm phát…………………………………………………………………………….41.2. Đo lường lạm phát……………………………………………………………………………………………..51.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):……………………………………………………………………………51.2.2. Chỉ số giá điều chỉnh GDP (DGDP)………………………………………………………………61.3. Nguyên nhân của lạm phát………………………………………………………………………………….71.3.1. Theo mô hình tổng cung – tổng cầu……………………………………………………………….71.3.2. Các nguyên nhân của lạm phát từ phía tiền tệ…………………………………………………81.4. Tác động của lạm phát tới nền kinh tế………………………………………………………………….91.4.1. Tác động tích cực………………………………………………………………………………………..91.4.2. Các hiệu ứng tiêu cực…………………………………………………………………………………101.5. Giải pháp kiềm chế lạm phát……………………………………………………………………………..131.6. Những biện pháp chiến lược……………………………………………………………………………..14CHƯƠNG II………………………………………………………………………………………………………………14TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM………………………………………………………………..14GIAI ĐOẠN 2000-2008……………………………………………………………………………………………..142.1. Tình hình lạm phát giai đoạn 2000 – 2001………………………………………………………….162.1.1. Thực trạng…………………………………………………………………………………………………162.1.2 Nguyên nhân của lạm phát…………………………………………………………………………..16 2.1.3 Giải pháp…………………………………………………………………………………………………..182.2. Tình hình lạm phát giai đoạn 2002-2006…………………………………………………………….19 2.2.1. Nguyên nhân…………………………………………………………………………………………….19 2.2.2. Các giải pháp kiềm chế lạm phát……………………………………………………………….242.3. tình hình lạm phát giai đoạn 2007 – 2008……………………………………………………………262.3.1. Thực trạng:……………………………………………………………………………………………….262.3.2. Nguyên nhân……………………………………………………………………………………………..272.3.3. Giải pháp…………………………………………………………………………………………………..30CHƯƠNG III…………………………………………………………………………………………………………….38NHỮNG KIẾN NGHỊ VÀ HOÀN THIỆN CÁC GIẢI PHÁP………………………………………..383.1. Diễn biến kinh tế………………………………………………………………………………………………383.2. Giải pháp cho thời gian tiếp theo……………………………………………………………………….393.2.1. Các giải pháp trước mắt:…………………………………………………………………………….393.2.2. Các giải pháp dài hạn:………………………………………………………………………………..41KẾT LUẬN……………………………………………………………………………………………………………….43DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………………………44Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD3GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang SơnCHƯƠNG ILÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT1.1. Những quan điểm về lạm phát.Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt của đời sống kinh tế – xã hội hiện đại. Trong mỗi công trình nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế đưa ra các khái niệm khác nhau về lạm phát.Theo Các Mác trong bộ Tư bản: Lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưu thông những tờ giấy bạc thừa, dẫn đến giá cả tăng vọt. Nhà kinh tế học Samuelson thì cho rằng: Lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá cả chung. Theo ông: “Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng – giá bánh mì, dầu xăng, xe ôtô tăng; tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”.Còn Milton Friedman thì quan niệm: “Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài”. Ông cho rằng: “Lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Ý kiến đó của ông được đa số các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes tán thành.Dermot Mcleese cho rằng: Lạm phát là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung.Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồng nội tệ. Trong bối cảnh lạm phát, thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được càng ngày càng ít hàng hoá, dịch vụ hơn. Hay nói một cách khác, khi có lạm phát chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hoá cố định.Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD4GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang SơnNhư vậy, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng các quan điểm về lạm phát đều cho rằng lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung. Mức giá chung được hiểu không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hoá và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Một nền kinh tế có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hoá giảm, nếu như giá cả của các hàng hoá và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.Lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng liên tục trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá thì dường như giá cả chỉ đột ngột “bùng” lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát. Tuy nhiên trong thực tế mỗi cú sốc thường có ảnh hưởng kéo dài đối với nền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát.1.2. Đo lường lạm phát.Trên thực tế không chỉ tồn tại một phép đo chính xác duy nhất chỉ số lạm phát, vì chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng mà người ta gán cho mỗi hàng hoá trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Do đó có nhiều phép đo lường lạm phát phổ biến được sử dụng như sau:1.2.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):Đây là thước đo lạm phát được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, và ở Việt Nam chúng ta cũng sử dụng chỉ số này. Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự biến động giá của một “giỏ” hàng hoá và dịch vụ tiêu biểu cho cơ cấu tiêu dùng xã hội. “Giỏ” hàng hoá ở đây bao gồm một số hữu hạn các mặt hàng tiêu dùng như: lương thực thực phẩm, quần áo, nhà cửa, xăng dầu, chi phí đi lại, dịch vụ y tế, các dịch vụ khác phục vụ cuộc sống hàng ngày và được tính theo công thức:Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD5GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang Sơn010 01kti iiki iiP QCPIP Q===∑∑

Trong đó: Pi0: giá cả ở kỳ gốc của mặt hàng iPit : giá cả ở kỳ nghiên cứu của mặt hàng iQi0 : lượng tiêu dùng ở kỳ gốc của mặt hàng iChỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá cả bán lẻ hàng hoá và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của dân cư. Vì thế, nó được sử dụng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian và đo lường lạm phát, khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng. Kết quả là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua được một lượng hàng hoá và dịch vụ như cũ nhằm duy trì mức sống như trước của họ, hoặc với một thu nhập nhất định họ mua được lượng hàng hoá tiêu dùng ít hơn.1.2.2. Chỉ số giá điều chỉnh GDP (DGDP).101100% 100%nt ti in iGDPntri iiP QGDPDGDPP Q=== × = ×∑∑Việc tính chỉ số điều chỉnh GDP sẽ cho chúng ta biết sự thay đổi trong giá của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng trong nền kinh tế so với giá của thời kỳ được chọn làm gốc. Do vậy chúng ta có thể tính được tỷ lệ lạm phát:11100%t tGDP GDPptGDPD DgD−−−= ×Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD6GVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang Sơn1.3. Nguyên nhân của lạm phát.Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung, nên các nguyên nhân gây ra lạm phát chủ yếu bắt nguồn từ các yếu tố cung – cầu về hàng hoá và tiền tệ.1.3.1. Theo mô hình tổng cung – tổng cầu.1.3.1.1. Lạm phát do cầu kéo.Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu AD tăng lên mạnh mẽ. Bình thường nền kinh tế cân bằng tại điểm A với mức giá P0 và mức sản lượng Y0. Như vậy khi một trong các yếu tố tác động làm tổng cầu tăng lên thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển từ AD0 đến AD1 và sản lượng tăng lên, đồng thời giá cả tăng từ P0 đến P1 gây ra lạm phát.Theo trường phái trọng tiền thì các yếu tố gây ra lạm phát cầu kéo là những yếu tố làm tăng tổng cầu như cung tiền vượt mức kéo dài của NHTW. Nhưng theo quan điểm của phái Keynes thì ngoài yếu tố tăng cung tiền, lạm phát cầu kéo còn do yếu tố chi tiêu của Chính phủ tăng kéo dài.1.3.1.2. Lạm phát do chi phí đẩy.Do cơn sốc của giá cả thị trường đầu vào, đặc biệt là lương và giá cả các vật tư cơ bản (dầu, sắt thép…) là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển sang trái và nền kinh tế di chuyển từ điểm A đến điểm B. Tuy tổng cầu không thay đổi nhưng sản lượng giảm xuống và giá cả Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD7

r r IS*1 IS*o Y2 Yo Y1 YGVHD: TS. Lê Ngọc Thông HV: Đ ậu Quang Sơn– Đồng thời, trong giai đoạn này, lãi suất trên thế giới tăng, nhiều khi cao hơn lãi suất trong nước, làm giảm đầu tư (năm 2000 thâm hụt 754 triệu USD), đường IS* dịch chuyển sang trái, r* tăng làm giảm cầu tiền, đường LM* dịch phải. Tỷ giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khuyến khích xuất khẩu, NHNN vẫn cần thực hiện duy trì tỷ giá ổn định nên phải can thiệp thị trường làm LM* dịch trái. Thu nhập giảm và tỷ giá không đổi. Điều này tác động làm giảm tổng cầu, giá cả giảm.– Chi tiêu của Chính phủ chậm do nhiều dự án chậm được giải ngân, trong khi đó chi ngân sách của Chính phủ vượt dự toán trong 4 năm liên tiếp (1998-2001) cũng là những nhân tố làm đường tổng cầu dịch trái và giá cả giảm.2.1.2.2. Các nguyên nhân tác động đến tổng cung:– Giá cả các nguyên liệu đầu vào trên thế giới như giá dầu mỏ, giá lương thực thực phẩm giảm mạnh do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế. Đặc biệt là chỉ số giá lương thực thực phẩm trong 2 năm này liên tục âm như Biểu đồ CPI ở trên, trong khi tỷ trọng của nhóm hàng này chiếm đến 47,9% trong “giỏ” hàng hoá tiêu dùng của Việt Nam. Giá dầu cũng liên tục giảm, từ mức khoảng 30 USD/thùng đầu năm 2000 xuống còn 19,5 USD/thùng vào cuối năm 2001. Giá cả chi phí đầu vào giảm là nhân tố tác Tiểu luận PPNC khoa học CH 17A H – ĐKTQD17

Giải Pháp Cho Vấn Đề Biển Đông

Viết về đề tài trên theo lời yêu cầu, chúng tôi xin trình bày vài bước đi trong lộ trình đi tìm cách giải quyết – tức là các giải pháp trung gian – rồi sau đó tiến đến các giải pháp pháp lý để giải quyết, trong hoà bình, vấn đề cốt lõi sau cùng là tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và các nước khác về các quần đảo, tài nguyên dầu khí, ngư nghiệp, và thềm lục địa tại Biển Đông và về vấn đề tự do lưu thông hàng hải và khai thác tài nguyên ngoài biển.

Chúng tôi xét theo quan điểm dân tộc Việt Nam để đưa ra mấy đề nghị sau đây – và nếu chúng tôi nói tới quyền lợi của các quốc gia khác ở Á Châu chung quanh Biển Đông (Trung Quốc, Đài Loan, Phi luật Tân, Mã Lai, Brunei, Nam Dương, Singapore) hay các quốc gia dùng đường hàng hải hay có quyền lợi kinh tế hay an ninh ở Biển Đông (Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Ấn, Nga) thì cũng là nói tới gián tiếp thôi.

Xin đề nghị 3 loại giải pháp: củng cố nội lực, ngoại giao đa phương và vận dụng luật pháp quốc tế.

1. Tuân theo ý nguyện của nhân dân để có nội lực chính trị và quân sự nhằm đối phó với áp lực của Trung Quốc.

Chính Trung Quốc, về mặt chính thức qua thông cáo của Bộ Ngoại Giao thì vẫn nói gịong ôn hòa (thí dụ gần đây chỉ nói về biển đảo mà không nói gì về đường Lưỡi Bò nữa), nhưng về dư luận nội địa thì lại thả lỏng cho dân chúng, qua báo chí, Internet, hay các bài của các học giả giáo sư bàn về Biển Đông, nói và viết với giọng bá quyền và đe dọa chiến tranh với Việt Nam, có lẽ với mục đích để cho một số lãnh đạo Việt Nam sợ mà không đẩy mạnh củng cố quân lực hay ngoại giao đa phuơng, nhằm phản ứng kịp thời khi Trung Quốc thình lình đánh úp vài hải đảo, theo lối tầm ăn rỗi.

Trong kiến nghị ngày 22 tháng 4, 2008 của 122 nhân vật ở trong và ngoài nước, dưới hình thức thư ngỏ gửi các nhà cầm quyền Việt Nam, họ trách móc rằng: ” Nhà nước Việt Nam đã tỏ ra không nghiêm túc xét định những kiến nghị quan trọng đã nêu và tỏ ra bất lực trước nghĩa vụ bảo toàn lảnh thổ quốc gia trước quyết định của Trung Quốc thành lập thành phố cấp huyện Tam sa, trong đó lại bao gồm cả hai quần đảo máu thịt của Tổ Quốc Việt Nam chúng ta là Hoàng Sa và Trường Sa. Hành động ngang ngược này của Trung Quốc rõ ràng đã coi khinh tình hữu nghị mà Việt Nam chúng ta đã nỗ lực khôi phục và vun đắp trở lại trong suốt hơn một thập kỷ qua. Sự kiện này đã làm cho nhiều người Việt Nam chúng ta khi biết tin hết sức bức xúc, phẫn nộ và đau xót. Không kể gái trai, già trẻ, địa vị, chính kiến đã có nhiều tiếng nói cá nhân, nhiều cuộc biểu tỏ tập thể công khai đã vang lên từ khắp nơi, trên mạng Internet, báo chí, trên đường phố, trong và ngoài nước. Rất khó hiểu, cho đến nay tất cả các vị lãnh đạo cao cấp và các cơ quan cao cấp nhất trong hệ thống lãnh đạo, quản lý đất nước từ Quốc hội, Chính phủ,… đều chưa bày tỏ thái độ một cách chính thức và rõ ràng đối với vấn đề Tổ Quốc đã bị Trung Quốc xâm lấn và tuyên bố thôn tính.” Họ viết tiếp là các câu phản đối của Chính phủ Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa ” hoàn tòan không đủ và đã xúc phạm lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam khi gọi những cuộc biểu tình trong trật tự để phản đối Trung Quốc là ‘những cuộc tụ tập không được phép’. Đặc biệt cần nhấn mạnh những nhân viên an ninh Bộ Công An đã có những hành xử thô bạo, sách nhiễu cuộc sống của những người biểu tình ôn hòa xiển dương lòng yêu Tổ Quốc Việt Nam là những hành vi trái pháp luật, làm tổn thương truyền thống đoàn kết quật cường chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những hành động ngày càng ngạo mạn của chính quyền Trung Quốc gần đây đối với Việt Nam liệu có phải là hậu quả từ sự phản ứng quá nhún nhường của phía Việt Nam chúng ta? Việc ngăn cản nhân dân phản đối kẻ xâm lược lại càng làm cho dã tâm thôn tính của chính quyền bành trướng ngoại bang thêm táo tợn? Bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều đang đau đớn với những câu hỏi này! Trong khi đó chỉ bằng hai cuộc biểu tình của giới trẻ Việt Nam trước đại sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc vào ngày 09 và 16 tháng 12 năm 2007 đã làm cho giới lãnh đạo Trung Quốc phải xuống thang bằng việc tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) ngày 19 tháng 12, 2007 phải đưa ra việc phủ nhận về ý định thành lập thành phố Tam Sa.”

Giải pháp chúng tôi đề nghị để lòng yêu nước của toàn thể dân tộc có thể hỗ trợ chính quyền trong việc bảo vệ đúng mức và sáng suốt quyền lợi quốc gia ngoải Biển Đông (kiên định bảo vệ quyền lợi cốt lõi của dân tộc nhưng cũng mềm dẻo, hòa bình và khéo léo về ngoại giao ̶ theo câu của ngoại trưởng Talleyrand của Napoléon: “dans la diplomatie, jamais trop de zèle” [trong ngoại giao, không bao giờ nên quá khích] thì phải làm thế nào để toàn dân tin tưởng vào lương tâm ái quốc thực sự của giới chức cầm quyền, không có sự dè dặt hay nao núng nào. Và muốn thế, thì trong giới các nhà cầm quyền, nên áp dụng thủ tục bỏ phiếu kín trong các quyết định trong Đảng và Quốc Hội về các vấn đề gay go đối với Trung Quốc để không ai sợ bị lộ diện chống Trung Quốc rồi bị tình báo Trung Quốc ám hại, hoặc Trung Quốc cũng không có thể rải qúa nhiều tiền mua chuộc lương tâm của đa số người trong Đảng hay Quốc hội mà không lộ ra công luận và làm sự mua chuộc hết hiệu lực, vì phải đối đầu với trào lưu ái quốc rất mạnh trong dân tộc. Một thí dụ về bỏ phiếu kín khiến các đại biểu quốc hội có thể mạnh dạn bỏ phiếu theo sự hiểu biết và lương tâm, là việc quốc hội bác bỏ dự án đường xe lửa cao tốc khi chưa hoàn chỉnh. Trong hàng ngũ một số lãnh đạo đã có một sự e sợ Trung Quốc ̶ như thư ngỏ của 122 nhân vật trong nước đã nói tới ̶ vì lãnh đạo muốn chống Trung Quốc còn ngại là sẽ bị lãnh đạo khác dựa vào Trung Quốc tìm cách lật đổ địa vị ̶ bằng biểu quyết ̶ trong Đảng và trong chính phủ. Sự dựa vào Trung Quốc này của một phần lãnh đạo hiện nay, khác hẳn sự nhất trí trong Đảng chống Trung Quốc sau chiến tranh Trung -Việt nó khiến Đảng và Quốc Hội đồng tâm ghi thêm vào Hiến Pháp 1980 điều khoản coi “bá quyền Trung Quốc” là kẻ thù “xâm lưọc”. (Trái lại, người dân thường không sợ mất vị trí công việc của mình mà trở thành thất nghiệp, khi tỏ thái độ chống bá quyền Trung Quốc). Khi các đại biểu trong Quốc Hội, hay trong Đảng, biết là vùng Biển Đông ̶ theo một ước tính, tuy chưa chắc chắn ̶ vào năm 2020 có thể đóng góp vào 55% tổng sản lượng quốc gia và 55-60% hàng hoá xuất cảng thì họ sẽ càng quyết tâm bảo vệ tài nguyên của tổ quốc hơn, khi sự biểu quyết của họ được thi hành bằng bỏ phiếu kín. Dĩ nhiên về các vấn đề mà người dân cần biết lập trường khi bỏ phiếu của các đại biểu quốc hội về các vấn đề không có đe dọa đến tính mạng của họ, thì vẫn dùng thủ tục bỏ phiếu công khai (giống như roll call ở quốc hội các nước dân chủ, và cũng đúng tôn chỉ “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”).

Thế mà Việt Nam vẫn chậm chạp trong việc xích gần Tây Phương. Trong hội thảo về Biển Đông tại Đại Học Yale ngày 18/11/2009, ông cựu đại sứ Việt Nam Nguyễn Trung, từng gần với các nhà ngoại giao Việt Nam rất dè dặt về Trung Quốc như Nguyễn Cơ Thạch và Trần Quang Cơ, và là nguyên cố vấn thủ tướng, có nói là ôn lại lịch sử thương nghị tay đôi với các nước thì tuy Việt Nam thành công với Indônêxia và Mã Lai, ông thấy bi quan cho một giải pháp sau cùng đối với Trung Quốc. Nhưng chúng tôi có đưa ra câu hỏi là tại sao Việt Nam không đẩy mạnh đa phương hóa ngọại giao để có đối lực với Trung Quốc, thí dụ thực hiện sự cộng tác tập trận hải quân với Mỹ theo đề nghị của chính phủ Bush, thì được biết là Việt Nam vào lúc đó mới chỉ dè dặt chấp nhận tập việc cùng Mỹ cấp cứu ngộ nạn và tìm xác người trên biển.

Phải tới tháng 7 năm 2010 mới có một sự đột biến quan trọng. Hồi hạ tuần tháng 7 năm 2010, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ xem Việt Nam ” không những thật sự là một quốc gia quan trọng mà còn là một bộ phận của chiến lược nhắm tăng cường cam kết của người Mỹ trong khu vực Á châu Thái Bình Dương, đặc biệt là trong vùng Đông Nam Á.” Khi phát biểu tại hội nghị của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội, bà Clinton còn nói rằng Hoa Kỳ xem việc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Nam Trung Hoa (Việt Nam gọi là Biển Đông) bằng đường lối đa phương, theo luật quốc tế, mà không đe dọa hay dùng võ lực, là một “quyền lợi quốc gia” của Mỹ. Những phát biểu này đã khiến cho giới lãnh đạo Trung Quốc phật lòng.

Quan hệ giữa Hoa Kỳ và các quốc gia vùng Đông Nam Á có dịp để phát triển thêm nữa khi Tổng thống Barack Obama tổ chức cuộc hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại New York vào ngày 24 tháng 9 năm 2010, để bàn chuyện hợp tác kinh tế và an ninh ̶ kể cả trong Biển Đông ̶ bên lề phiên họp thường niên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tin của Associated Press (19/9/2010) cho biết Dự thảo Tuyên bố chung Mỹ-ASEAN tái xác nhận nguyên tắc tự do hàng hải và giao thương trong Biển Đông, ổn định khu vực, và tôn trọng luật quốc tế mà chống lại việc sử dụng hay đe dọa võ lực để giành chủ quyền ở Biển Đông, và Phụ tá Bộ Trưởng Ngọai giao Kurt Campbell và Giám Đốc Vụ Á Châu Jeffrey Bader trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ cũng báo cho các đại sứ ASEAN trong phiên họp chuẩn bị cho Hội nghị Thượng Đỉnh Mỹ-ASEAN, là Trung Quốc có vẻ ôn hòa hơn trong các buổi gặp gần đây, đồng ý bàn về nguyên tắc các bên phải tuân theo trong Biển Đông sau khi họ cắt nghĩa là giải pháp hoà bình tôn trọng luật quốc tế mà Ngọai Trưởng Clinton nói tới tại Hà Nội tháng 7 không ám chỉ riêng về Trung Quốc mà áp dụng cho mọi quốc gia tranh quyền.

ASEAN cũng tuyên bố là đang thương lượng với Trung Quốc để có một tuyên ngôn chi tiết hóa việc thi hành cái bản ” Tuyên Bố về Cách Ứng xử (Declaration of Conduct) trên Biển Đông” năm 2002. Ngày 30 tháng 9, 2010 Đại sứ Trung Quốc tại Phi luật Tân cho hay là đã bắt đầu thương thuyết với các nước Đông Nam Á nhắm tới việc thỏa thuận về một Qui tắc Ứng xử(Code of Conduct), có hiệu lực bó buộc, để đối phó với các vụ tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải trong vùng Biển Đông.

Theo giáo sư Úc Carl Thayer chuyên nghiên cứu về Việt Nam, thì lãnh đạo Việt Nam có hai khuynh hướng: một muốn mở rộng quan hệ quốc tế, liên hệ với nhiều quốc gia; một muốn nể nang, liên hệ chặt chẽ với Trung Quốc hơn nước khác (gọi là nhất biên đảo), nhưng cũng theo GS Thayer, trước khuynh hướng chống Trung Quốc của nhân dân, nhóm thân Trung Quốc này hình như cũng phải đồng ý phải tìm con đuờng quốc phòng khác dựa vào quan hệ đa phương, không thể chỉ dựa hay tin vào Trung Quốc.

Vì Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng 500% từ 1997 cho đến nay, phát triển rất mạnh hải quân, củng cố căn cứ hải quân Yulin ở nam Đảo Hải Nam với chỗ đậu cho nhiều chiến hạm lớn và tầu ngầm kể cả tầu ngầm phóng đầu nguyên tử và hàng không mẫu hạm mà họ đang trong giai đoạn xây dựng, cải tiến phi trường tại Hoàng Sa và đài radar tại Fiery Cross Reef ở Trường Sa, cho nên trong liên hệ đa phương với các cường quốc bạn, nhất là Mỹ, là nước đã thấy sự đe dọa của hải quân Trung Quốc đối với sự đi lại của Hạm Đội 7 (thí dụ nhu vụ quấy nhiễu tàu Impeccable của Mỹ), thì Việt Nam phải tìm cách nhờ họ giúp canh tân hải quân (chiến hạm chạy mau và tầu ngầm) và không quân (máy bay oanh tạc và trực thăng võ trang) để có thể tiếp cứu mau chóng các hải đảo. Quân lực mạnh sẽ là biện pháp ngăn ngừa (deterrence) đối với Trung Quốc, như câu châm ngôn “muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh”. Hơn nữa, phải liên minh, hay phối trí ̶ nếu ngại dùng chữ liên minh ̶ với Mỹ để cùng tuần hành với Hạm Đội 7, bảo vệ người Mỹ và tài sản Mỹ trên các giàn khoan dầu trong các dự án hợp tác khai thác với Việt Nam, và tiến hành các cuộc tham khảo về an ninh và chính trị với Mỹ, theo như Thông Cáo Chung của Tổng Thống Bush với Thủ Tướng Dũng tháng 6 năm 2008. Giáo sư Taylor Travel của Massachusetts Institute of Technology, nghiên cứu 24 vụ tranh chấp biên giới trong 60 năm của Trung Quốc, thấy là Trung Quốc sẽ không sử dụng võ lực nếu đứng trước một cường quốc ̶ trái lại năm 1974 và 1988 đã tiến đánh Việt Nam để chiếm nốt Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa. Tóm lại, phải cứng rắn thì Trung Quốc mới ngừng lại ̶ vì từ trước đến nay họ vẫn theo chính sách ” mềm nắn, rắn buông “.

Chắc lãnh đạo Việt Nam cũng ý thức rằng phải củng cố khả năng chiến đấu bảo vệ hải đảo là vì một khi đã để mất hải đảo thì hành quân chiếm lại gần như không thể thực hiện được vì cường quốc Trung Quốc sẽ củng cố hải đảo bằng đủ loại khí giới tối tân và các biện pháp tàn bạo, và Việt Nam dù có dùng chiến thuật biển người cũng không làm được, vì không phải là đất liền. Số tử vong của các chiến sĩ cố chiếm lại đảo sẽ lên quá cao ̶ như có thể thấy qua kinh nghiệm đau đớn của quân đội Mỹ trong Thế chiến II, khi vất vả chiếm lại dần dần các đảo trên Thái Bình Dương từ tay quân đội Nhật (chết nhiều đến nỗi Mỹ sau đó ném bom trải thảm trên đất Nhật để trả thù).

LUẬT PHÁP VỀ THỀM LỤC ĐỊA

Thềm lục điạ đã được định nghĩa rõ rệt theo các tiêu chuẩn địa dư và địa chất rõ rệt trong Công Uớc Liên Hợp Quốc 1982 về Luật Biển, và phạm vi tính từ bờ biển đi ra xa như thế nào đã rõ trong luật, Việt Nam không cần nói cũng có chủ quyền.

Chỉ còn vấn đề thềm lục địa nới rộng thì Việt Nam cũng đã làm thủ tục đăng ký, đặc biệt đã nộp hồ sơ chung với Mã Lai về khu vục thềm lục điạ hai nước trùng nhau.

Uỷ Ban Liên Hợp Quốc lo việc đăng ký thềm lục địa mở rộng cũng không phải là trọng tài giải quyết tranh chấp, vì việc bất đồng ý kiến của các quốc gia cận duyên về biên giới thềm lục địa nới rộng phải do các bên liên hệ thương lượng với nhau để giải quyết. Vì thế, ngoại giao song phương hữu nghị của Việt Nam với Trung Quốc trong vấn đế thềm lục địa trùng nhau tại Vịnh Bắc Bộ và phiá bắc Biển Đông vẫn phải tiến hành.

LUẬT PHÁP VỀ QUYỀN KHAI THÁC NGHỀ CÁ CỦA DÂN CHÀI VIỆT NAM

Việt Nam cần đòi hỏi mạnh mẽ việc thực thi Hiệp định Nghề cá đã ký với Trung Quốc và Hiệp Uớc Quốc Tế. Trung Quốc đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Cộng Tác Nghề Đánh Cá ngày 25/12/2000 ký kết giữa Trung Quốc và Việt Nam và Hiệp Định của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, trong việc kỳ thị đối với dân chài Việt Nam, xua đuổi, đánh đập họ và vi phạm quyền tư hữu của họ, mà cho các dân chài các nước khác được hưởng quyền trú chân trốn bão, vốn có từ lâu trong lịch sử loài người và quy định trong các văn kiện luật quốc tế, nhất là Hiệp Định Liên Hợp Quốc 1982.

Trắng trợn vi phạm điều 12 Hiệp định Nghề cá nói trên, theo đó, hai nước đã lập ra vùng đệm (buffer zone) ở ngoài lãnh hải của mỗi nước (territorial sea), để nếu các thuyền đánh cá nhỏ của một nước đi lạc vì lầm lẫn vô lãnh hải của nước kia, thì nước kia sẽ cảnh cáo và ra lệnh cho các thuyền đó đi ra mà không bắt giữ, mà cũng không dùng võ lực. Nếu có điểm gì tranh chấp, thì điều 12 cũng nói là phải đưa ra Uỷ ban Hỗn hợp Việt Trung về Nghề cá trong Vịnh Bắc Việt nếu có điều gì ngoài chuyện đánh cá (thí dụ như trốn bão chẳng hạn). Uỷ ban này phải quyết định phân xử theo lối đồng thuận giữa hai bên Việt Trung. Vậy Trung Quốc đã vi phạm về mặt thủ tục luật pháp quy định ngay trong Hiệp định Trung Quốc đã ký, coi rẻ người Việt Nam và nhà nước Việt Nam.

Trắng trợn vi phạm về mặt nội dung điều 15 và 16 Hiệp định Nghề cá, theo đó khi dân chài và thuyền đánh cá một nước bị tai biến khẩn cấp (distress or other emergencies) trong khu lãnh hải của nước kia thì nước kia có nhiệm vụ phải cứu giúp và che chở; và khi dân chài và thuyền một nước tìm cách trốn bão, thì có quyền trú ẩn trong lãnh hải nước kia. Ghe thuyền đánh cá một nước có quyền hàng hải, có quyền đi qua vô hại (innocent passage).

Trung Quốc trắng trợn vi phạm Hiệp định Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, điều 292, theo đó một nước duyên hải chỉ có thể bắt giữ ghe thuyền và thuỷ thủ nước khác trong một số trường hợp giới hạn, thí dụ đánh cá bất hợp pháp, sau khi lên tầu và khám xét để thấy có bằng chứng vi phạm, và phải mau chóng thả, sau khi bắt đóng tiền thế chân hay bảo đảm khác (luật quốc tế định như vậy để tránh sự lạm dụng quyền thi hành luật của nước duyên hải).

Nếu không thả sớm, hoặc không đưa ra xét xử trong tòa án quốc nội hay cơ quan xét xử nào khác (thí dụ Uỷ ban Hỗn hợp trong Hiệp định Việt-Trung nói trên), thì trong vòng 10 ngày (Hiệp định Liên Hợp Quốc quan niệm đây là thủ tục khẩn cấp ̶ accelerated procedure), quốc gia của người dân chài bị bắt giữ có thể đưa ra, hay uỷ quyền cho chủ ghe thuyền đưa ra, trước Toà án Quốc tế Luật Biển (International Tribunal of the Law of the Sea) về việc bắt giữ qúa lâu này. Tòa án đó phải giải quyết khiếu nại ngay, không được trì hoãn, và định số tiền thế chân để thả người ta ra.

Việc cho trú ngụ khi gặp bão không phải là vấn đề gay go về tranh chấp chủ quyền, thì không có gì phải nể Trung Quốc quá, sẽ mang tiếng là không thương người dân chài vô sản, vô tội, thua kém cả người nước ngoài như một đại tá hải quân Nga cũng đã lên tiếng, trong dịp tầu Nga Panteleyev viếng thăm Đà Nẵng tháng 6 năm 2009, chỉ trích Trung Quốc cấm đóan tầu đánh cá Việt Nam và nói Nga sẵn sàng giúp đỡ họ.

Phải đem ra toà án về luật biển của Liên Hợp Quốc. Và người dân chài có thể làm việc này và dĩ nhiên cần nhờ một luật sư chỉ dẫn cho họ. Điều nên nhớ là họ phải được sự uỷ quyền của nhà nước Việt Nam

LUẬT PHÁP VỀ ĐƯỜNG LƯỠI BÒ

Bắc Kinh rất ít khi hay là không giám đưa ra chi tiết về căn bản pháp lý của Đường Lưỡi Bò, mà chỉ xác nhận hàm hồ, là tất cả phần lớn Biển Đông, khoanh trong Đường Lưỡi Bò, là của Trung Quốc từ “thời tiền sử” và vẽ ra trên bản đồ “một đường chu vi lịch sử về chủ quyền” thâu tóm 80% Biển Đông, thâu tóm cho Trung Quốc hầu như là tất cả mọi thứ trong đó ̶ biển đại dương, các đảo, đáy biển. Đường chu vi này đi xuyên qua các khu vực giếng dầu đang sản xuất ngay gần Sarawak, qua một số giếng dầu Việt Nam đã khám phá, và chiếm một phần lớn các khu Natuna có trữ lượng khí đốt của Indonêxia. Học giả Wain nói rằng “đường chu vi lịch sử về chủ quyền” này bị các chuyên gia độc lập về đại dương cho là quá lố lăng, có lẽ vì thế mà Bắc Kinh không muốn bàn công khai về nó. Ông Valencia thuộc East West Center (Hawaii), nay ở Trung Tâm Woodrow Wilson, nói là đường chu vi ấy chẳng có căn cứ gì trong luật quốc tế thời hiện đại. Nhà học giả Mã Lai về đại dương Hamzah ví cái sự đòi chủ quyền này như cái Mệnh Lệnh Giáo Hoàng lố lăng và nông nổi năm 1493 đem chia các đại dương trên trái đất ra cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tại Hội nghị ở Houston tháng 4, 2010 nói trên, cũng có luật gia Mỹ nói đùa là: Nếu Trung Quốc đòi chiếm đại dương ở Biển Đông bằng Đường Lưỡi Bò, thì Mỹ cũng sẽ có thể đòi hết Gulf of Mexico về cho mình, tước bỏ quyền của Mexico và Cuba và các nước ở Trung Mỹ.

LUẬT PHÁP VỀ CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Cần dựa vào luật pháp quốc tế để đòi hỏi sự công nhận chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, tuy phạm vi chủ quyền Việt trên bao nhiêu đảo ờ Trường Sa thì chưa ấn định rõ, sẽ cần thuơng thảo sau với các nước Đông Nam Á.

Luật quốc tế truyền thống, đã được công nhận qua nhiều thế kỷ và có trứơc Hiệp Ước Luật Biển 1982, nói về chủ quyền đối với một miền đất như sau: một chính quyền muốn xác nhận chủ quyền phải có sự liên tục hành xử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền bằng sự hành xử chủ quyền liên tục.

Xét các bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam theo luật quốc tế này, thì Việt Nam đã xác nhận và hành xử chủ quyền trên Hoàng sa và Trường Sa (tuy phạm vi hành xử ở Trường sa thì chưa xác định tới bao nhiêu đảo); và khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực năm 1974 và Việt Nam Cộng Hòa phản đối, sau đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (nay là Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam) – kế quyền của Việt Nam Cộng Hòa theo nguyên tắc thừa kế quốc gia (succession of state) – cũng phản đối vụ Trung Quốc dùng võ lực chiếm Hoàng Sa và rồi phản đối nhiều lần việc Trung Quốc dùng võ lực chiếm một số đảo ở Trường Sa năm 1988 (gây thương vong cho nhiều lính hải quân Việt Nam) và các năm sau đó, thì chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa và Trường Sa không thể bị coi là đã sói mòn vì thiếu sự tuyên bố và hành xử chủ quyền.

Vì bài này nói về khiá cạnh luật pháp của chủ quyền, và sẽ chỉ nói vắn tắt tới các sự kiện trong lịch sử về việc Việt Nam tuyên nhận và chiếm hữu chủ quyền về các đảo như là bổ sung cho luận cứ pháp lý, cho nên ở đây chỉ xin tóm tắt về các sự kiện đó – mà chúng tôi, khi viết một bài phân tích tổng quát và khuyến nghị chính sách và nghị trình như thế này (general analysis & policy and agenda recommendations), theo kiểu một bài phân tích trong tập san Foreign Affairs, thì không muốn ghi nhiều chú thích tỉ mỉ về mỗi sự kiện đó, làm chia trí độc giả, và do đó chỉ xin lưu ý độc giả là, quí vị, như chúng tôi, có thể tìm ra nhiều bài viết và sử liệu giá trị, cung cấp bởi các nhà nghiên cứu sử, thí dụ như Tập San Sử Địa xuất bản trước 1975,luận án và bài viết của ông Nguyễn Nhã, Quỹ Nghiên Cứu Biển Đông v.v., nhất là với phương tiện như “Google” trên mạng Internet.

Trong khi vào năm 1898 Tổng Đốc Quảng Châu không nhận trách nhiệm xử lý về một vụ đắm và cướp tầu, viện lý do là quần đảo Tây Sa là những đảo bị bỏ rơi, không sáp nhập vào quận nào của Hải Nam, thì Việt Nam đã có khoảng 30 tư liệu về chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa, suốt từ đời các Chuá Nguyễn tới đời Nhà Nguyễn (Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toàn tập An Nam Lộ 1686, Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn 1776; Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú 1821, Hoàng Việt Địa Dư Chí 1833, Đại Nam Thực Lục Chính Biên Tiền Biên, đệ nhất đến đệ tam kỷ, 1848,1864 và 1879; Châu Bản Triều Nguyễn (đặc biệt tập tấu của bộ công ngày 12 tháng 12, năm Minh Mạng 17, tức là năm 1836, có nói đến việc sai đội thuỷ binh Phạm Hữu Nhật ra Hoàng Sa cắm mốc và đặt bia chủ quyền, việc này thành lệ hàng năm, như nói trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sử Lệ, 1851), Đại Nam Nhất Thống chí, 1882, 1910.

Có ý kiến rằng chứng cớ lịch sử về chủ quyền Việt Nam thời vua chúa trước thời Pháp cai trị, đối với Hoàng Sa thì đã quá rõ, nhưng về Trường Sa thì không rõ, thí dụ có ý kiến rằng Phủ Biên Tạp Lục nói Chúa Nguyễn phái Biệt Đội Bắc Hải “đi du lịch” đến Bắc Hải (Trường Sa) và Côn Lôn để thu lượm các hải vật là không rõ ràng xác lập chủ quyền Việt Nam. Nhưng theo thiển ý, khi có một cuộc hải trình của một biệt đội tên là Bắc Hải do nhà nước sai phái (state expedition), và đặt dưới quyền giám sát của một biệt đội nhà nước khác là Biệt đội Hoàng Sa, thì phải giải thích đó là một cuộc hải trình của nhà nước, vì nếu chỉ là tư nhân du lịch thì không có sự đặt tên và sắp xếp hệ thống quân giai như vậy. Đến đời vua Ming Mạng, khoảng sau năm 1838 khi quốc hiệu đổi thành Đại Nam, thì có cuốn Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ nói đến “Vạn Lý Trường Sa” và nó có giá trị bằng chứng lịch sử để xác lập lần nữa chủ quyền Việt Nam (mặc dầu cuốn này không phải do vua ra lệnh làm ra ̶ không phải là “khâm định” ̶ mà có lẽ do một số đại thần trong Quốc Sử Quán làm) và từ đó, Trường Sa, hay ít ra là đa số các đảo trong quần đảo đó mà Việt Nam đã chiếm (trừ những đảo quá xa Việt Nam và gần Phi, Mã Lai, Indonêxia, Borneo hay Brunei) không còn là đất vô chủ (terra nullius) theo luật quốc tế nữa, mà đã có Việt Nam xác lập chủ quyền.

Trong khi đó tại Trung Quốc, Thích Đại Sán viết Hải Ngoại Ký Sự năm 1696 nói chúa Nguyễn sai thuyền ra khai thác Vạn Lý Trường Sa; và tất cả các bản đồ cổ của Trung Quốc đều xác định đảo Hải Nam là cực nam biên giới phía nam Trung Quốc và không hề vẽ Tây Sa và Nam Sa. Sau này Trung Quốc cứ nói mà không có bằng chứng, hay bịa đặt, là họ đã khám phá các hải đảo, khi thì nói là vào đời Tống, khi thì nói là vào đời Hán. Trong các cuốn chính sử hay địa dư rất dầy và nhiều quyển của Trung Quốc đều không nói gì về việc Trung Quốc khám phá hay quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, thí dụ như không có sự nhắc nhở bàn luận nào về các quần đảo này trong Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí (theo sự nghiên cứu của ông Nguyễn Quang Ngọc trình bày ở Học viện Ngọai Giao 2009), hay Thanh Sử Cảo hoặc Đại Thanh Nhất Thống Bản Đồ (theo sự nghiên cứu của ông Hồ Bạch Thảo đăng trên báo mạng Diễn Đàn 12/2009). Luật quốc tế qui định là khám phá mà không kèm theo việc hành xử chủ quyền quản lý liên tục thì cũng không tạo ra chủ quyền quốc gia. Một thí dụ là khi nhóm người Pilgrims đến Massachusetts trên tầu Mayflower vào năm 1620, thì một người Pháp, ông Champlain, trước đó, từ năm 1604 đến 1606, đã từ khu vực Nova Scotia (Canada) đến khám phá Maine và Massachusetts, vẽ bản đồ cho các khu vực đó và gọi là New France (Nước Pháp Mới), in trong cuốn sách “Voyages” xuất bản năm 1613. Nhưng vua Pháp không hỗ trợ cho công cuộc quản lý chủ quyền mà ông Champlain đã tuyên bố cho nưóc Pháp. Rút cục, các vùng đất này trở thành thưộc địa của Anh Hoàng và hai tiểu bang của Mỹ sau đó.

Tài liệu của Tây Phương như nhật ký trên tầu Amphitrite, năm 1701, sách của Chaigneau (1769-1825), linh mục Taberd (1833) đều nói vua Gia Long khẳng định chủ quyền trên Hoàng Sa năm 1816.

Nhưng nhà cầm quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương lơ là trong một thời gian việc xác nhận chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa của nước bị bảo hộ An Nam. Chỉ đến năm 1909 khi có cuộc khảo sát trái phép Hoàng sa của Tổng Đốc Quảng Đông, và báo chí báo động thì nhà cầm quyền Pháp mới hành động thực thi chủ quyền, như việc Viện Hải Dương Học Nha Trang khảo sát Hoàng Sa năm 1925 và lập đơn vị hành chánh quận Hoàng Sa năm 1932.

Riêng về Trường Sa, thời Pháp thuộc, Pháp cũng chỉ ghi được có 6 đảo, và cũng không biết tòan thể quần đảo có bao nhiêu đảo, nhưng năm 1933 có cử một hạm đội nhỏ ra gắn các chai đựng văn bản xác lập chủ quyền vào cột xi măng xây trên mỗi đảo, kéo cờ Pháp lên. Cao Uỷ Pháp cố vấn cho chính phủ Bảo Đại, cũng như Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại coi Trường Sa là lãnh thổ Pháp, ngay cả vào sau này, trong thời gian chính phủ Ngô Đình Diệm, đã tuyên bố vào năm 1956 là cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Pháp, khiến chính phủ Ngô Đình Diệm phẫn nộ. Nhưng thực ra thì Pháp trước đó, qua nghị định số 4762 ngày 21-12-1933 của thống đốc Nam Kỳ Krautheimer, đã sát nhập Trường Sa vào Bà Rịa, Nam Kỳ, là thuộc địa Pháp. Như vậy có thể nói khi Pháp trả thuộc địa Nam Kỳ cho Việt Nam, thì theo nguyên tắt thừa kế quốc gia, Trường Sa đã thuộc chủ quyền Việt Nam. Năm 1938, Pháp lập bia chủ quyền và trạm vô tuyến ở đảo Itu-Aba.

Như vậy cho đến khi kết thúc Thế chiến II, việc thực thi chủ quyền của Pháp nhân danh thuộc địa An Nam, tuy muộn màng, nhưng không gặp phản đối của nước nào.

Việc tranh chấp chủ quyền xảy ra nhiều hơn từ các năm sau Thế Chiến II, giữa một bên là Pháp (nhân danh Việt Nam), Việt Nam và bên kia là Trung Hoa Dân quốc và Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa. Năm 1946, Quân đội Nhật rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp trở lại và Cao Uỷ Đông Dương D’Argenlieu cử chiến hạm l’Escarmouche ra đảo Hoàng Sa (Pattle); nhưng Trung Hoa Dân Quốc cử 4 chiến hạm đến Trường Sa. Pháp phản đối và yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Phú Lâm mà họ không rút. Năm 1949, chính phủ Bảo Đại được lập ra và hoàng thân Bửu Lộc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hải đảo. Khi lục địa Trung Quốc rơi vào tay Mao, quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Hoàng Sa và ngày 14/10/1950 Pháp chính thức chuyển giao quyền về Hoàng Sa cho chính phủ Bảo Đại, đại diện bởi Thủ Hiến Trung Phần, trong buổi lễ tại Hoàng Sa. Tại Hội Nghị San Francisco 1951 có 51 quốc gia tham dự để ký hoà ước với Nhât, ngoại trưởng Liên sô Gromyko đưa ra bản tu chính để nói Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đối với Hoàng Sa, nhưng Hội nghị bác. Khi Thủ Tướng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam thì không có đại biểu nào trong Hội nghị phản đối. Tuy Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không tham gia Hội Nghị, ngoại trưởng Chu Ân Lai ra thông báo về dự thảo Hiệp ước là Trung Quốc đã có các quyền lâu đời về các quần đảo. Nhưng thực tế là vào năm 1950 và sau đó, tại Hoàng Sa và Trường Sa chỉ còn quân trú phòng của chính phủ quốc gia Việt Nam,tuy cũng có những sự cố như Đài Loan có gửi tầu chiến đến đảo Itu Aba vào năm 1956.

Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam quy định là Hoàng Sa và Trường Sa ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới quyền quản lý hành chính của chính quyền Miền Nam.

Từ 1956 đến 1975, có nhiều cuộc lấn chiếm của các bên. Ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu của Việt Nam Cộng Hòa khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa và quân đôi Việt Nam Cộng Hòa chiếm đóng các đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đảo Hoàng Sa (Pattle) và một số đảo chính của quần đảo Trường Sa và Tổng Thống Diệm ký sắc lệnh quy định Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa mà tên mới là Phước Tuy. Nhưng tháng 10, 1956 hải quân Đài Loan chiếm đảo Itu-Aba là đảo lớn nhất ở Trường Sa. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chiếm đảo Phú Lâm (Boisê), đảo lớn nhất của Hoàng Sa. Sắc lệnh 1961 của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. Năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) sáp nhập Trường Sa vào xã Phước Hải, tỉnh Phước Tuy ̶ nhưng tháng 1.1974 Trung Quốc tuyên bố việc sáp nhập ấy là lấn chiếm lãnh thổ Trung Quốc, và VNCH bác bỏ lời tuyên bố đó.

Ngày 15/1/1974, Trung Quốc điều động hải quân (mà ngụy trang là tầu đánh cá) có phi cơ yểm trợ. VNCH gửi đến Hoàng Sa các tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, Trần Bình Trọng, khu trục hạm Trần Khánh Dư, và hộ tống hạm Nhật Tảo, cho tóan biệt hải đổ bộ lên hạ cờ Trung Quốc. Súng nổ trên đảo Duncan và một đảo khác. Ngày 16/1/1974, VNCH bác bỏ luận cứ của Trung Quốc và xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo. Cuộc hải chiến xảy ra ngày 19/1/1974. Chiến hạm Nhật Tảo bị bốc cháy rồi chìm, một số chiến hạm bị hư hại và một số binh sĩ Việt Nam bị bắt hay mất tích; nhưng Trung Quốc bị chìm hai chiếc chiến hạm và cháy hai chiếc. Mỹ không can thiệp mặc dầu được yêu cầu.

Sau đó đại biểu VNCH tố cáo Bắc Kinh tại hội nghị luật biển ở Caracas và hội nghị khác. Ngày 14/2/ 1975, Bộ Ngoại Giao VNCH công bố Sách Trắng về Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ hải quân VNCH trong cuộc hải chiến năm 1974 (mà ngày nay trong nước Việt Nam cũng phải công nhận là những người ái quốc mà không gọi là nguỵ quân) cùng vói các lời phản đối của chính phủ VNCH ngay sau đó và năm sau, là những đóng góp quan trọng cho việc xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa, chiếu theo luật quốc tế đã nói, “liên tục hành xử chủ quyền trong hòa bình, nói rõ ý định làm chủ, và nếu bị cưỡng chiếm thì phải phản đối chính quyền mới cướp bằng võ lực đất của mình để ngăn cản chính quyền mới này thủ đắc chủ quyền”.

Giữa một bên là Trung Quốc vẫn nói tới tình hữu nghị với Việt Nam và vài quốc gia Đông Nam Á, và một bên là Việt Nam thống nhất sau 1975, vẫn tiếp tục tranh chấp về chủ quyền trên các quần đảo. Trong các năm 1978, 1979, 1980, 1981, 1982, 1984, 1988, 1990, 1991, Việt Nam đã đưa ra các bằng chứng xác lập chủ quyến tại Hoàng Sa và Trường Sa (sách trắng 1979 và 1981 dùng lại nhiều tài liệu của VNCH), bác bỏ các lập luận của Trung Quốc và Phi luật Tân và Mã Lai, và phản đối, nhất là năm 1988 khi Trung Quốc tiến chiếm mấy đảo đá ngầm và giết hại các lính hải quân Việt Nam (20 bị thương và chết, 74 mất tích) dù họ không mang khí giơí vì chỉ đi tiếp tế cho bạn đồng đội. Cũng trong năm 1988, Trung Quốc chiếm thêm nhiều bãi đá ngầm. Và đến năm 1989 họ đặt bia chủ quyền trên các bãi đá ngầm đó (điều này không được luật quốc tế công nhận).

Cũng trong năm 1988, Việt Nam phản đối Quốc hội Trung Quốc sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam, và lại công bố sách trắng. Năm 1989, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nhỏ. Năm 1990, cho nhiều tầu quân sự, tầu kháo sát và tầu đánh cá đến tại Trường Sa và Việt Nam phản đối. Năm 1991, bình thường hoá ngoại giao. Sau năm bình thường hoá ngoại giao với Trung Quốc, mỗi khi Trung Quốc vi phạm thềm lục địa,vùng đặc quyền kinh tế, thì Việt Nam đều phản đối. Đến năm 1994 lại phải phản đồi sự vi phạm thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế bởi Trung quốc nhân vụ Crestone.

Riêng về con số đảo tại quần đảo Trường Sa (các đảo trải rất rộng và rất xa nhau) mà Việt Nam có thể đòi (con số hiện nay là 29 hay 21, tùy theo đã trừ đi mấy đảo đá ngầm đã bị Trung quốc lấn chiếm xây nhà và căn cứ, tổng cộng Trung Quốc chiếm 16 đảo) – còn lại bao nhiêu đảo khác do các nước khác nữa đã chiếm và thực sự nắm giữ, như Đài Loan (1), Phi-lip-pin (7), Malayxia (1-2), Inđônexia (2), ̶ thì phạm vi của chủ quyền Việt Nam phải bàn lại kỹ hơn trong sự thương lượng với các nước ấy – để có một mặt trận thống nhất của ASEAN đương đầu với Trung Quốc. Để tránh sự phản đối của Trung Quốc, vốn tham lam nhận vơ tất cả Trường Sa, là ” sao Việt Nam tự nhận quyền ban phát chủ quyền cho các nước hay sao, mà dám nói đảo này đảo kia thuộc các nước ASEAN?” và một cách để tạo thành một thế liên minh với các nước ASEAN để đương đầu với Trung Quốc, thì phải khách quan công nhận cho ASEAN những đảo nào mà họ đã chiếm ngụ lâu đời và Việt Nam chưa hề lui tới, và Việt Nam chỉ nên tuyên bố một cách mập mờ vào lúc này theo kiểu ngoại giao khôn khéo là: chủ quyền Trường Sa thuộc về Việt Nam, mà phạm vi chưa xác định vì chưa nói đến chủ quyền của các nước khác, nhưng quy tắc ứng xử là giữ nguyên trạng mà không lấn chiếm, và luôn luôn tìm giải pháp hoà bình, theo luật quốc tế.

Trong vùng Trường Sa phía nam Biển Đông, Trung Quốc đã có một chủ trương “được đằng chân [Hòang Sa] thì lân đằng đầu [Trường Sa]” như ta thấy trong bao nhiêu hành động lấn át trong nhiều năm từ trước cho tới nay, ngay cả với nước Việt Nam cùng theo một chủ thuyết trị nước. Tháng 10/1987 hải quân Trung Quốc tập trận lớn ở vùng Trường Sa. Tháng 03/1988 quân đội Trung Quốc tấn công chiếm giữ 6 điểm trên quần đảo Trường Sa, làm thương vong nhiều chiến sĩ Việt Nam. Năm 1989 Trung Quốc chiếm thêm một số đảo Trường Sa. Ngày 25/02/1992 Trung Quốc công bố đạo luật về lãnh hải, xác định chủ quyền đối với toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa. Tháng 05/1992 Trung Quốc cho công ty Crestone thăm dò dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, trong một khu gọi là Wan’ An Bei, cạnh mỏ dầu Đại Hùng. Tháng 07/1992 Trung Quốc chiếm đóng thêm một số hòn đảo Trường Sa để hỗ trợ công ty Crestone. Năm 1993 một cuốn sách xuất bản tại Trung Quốc đã công bố chiến lược ” nhanh chóng…đánh đuổi quân chiếm đóng nước ngoài ra khỏi Nam Sa ” (tức Trường Sa ). Năm 1994 Trung Quốc tuyên bố giành chủ quyền tại mỏ dầu Thanh Long (Blue Dragon) của Việt Nam, nhắc lại là khế ước giữa Việt Nam và Mobil là vi phạm chủ quyền Trung Quốc và còn dùng hải quân chặn không cho tầu Việt Nam tiếp liệu cho một giàn khoan.

CẦN CHUẨN BỊ HỒ SƠ PHÁP LÝ ĐỂ ĐƯA RA TÒA ÁN QUỐC TẾ HAGUE, TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN VÀ ĐẠI HÔỊ ĐỒNG LIÊN HIỆP QUỐC, VÀ NGAY CẢ HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HIỆP QUỐC, NẾU CÓ VI PHẠM ÀO ẠT QUYỀN DÂN CHÀI.

Các cơ quan tài phán

Nếu Trung Quốc ký nhận điều khoản nhiệm ý công nhận thẩm quyền bó buộc của Tòa án Quốc tế, thì Việt Nam có hy vọng thắng và bó buộc Trung Quốc phải thi hành án, với các lập luận và căn bản pháp lý chắc chắn về chủ quyền của Việt Nam trên các hải đảo (theo quốc tế pháp truyền thống về khám phá và quản lý liên tục). Còn nếu cường quốc đó ngang ngạnh không nhận thẩm quyền bó buộc của Toà án, thì chỉ có thể xin một ý kiến khuyến cáo của Tòa án. Việc xin ý kiến khuyến cáo này, Việt Nam có thể nhờ Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, trực tiếp hay gián tiếp qua Hoa Kỳ và một số quốc gia ven Biển Đông, nhưng nếu Trung Quốc đe dọa dùng quyền phủ quyết ở đó, thì có thể nhờ một cơ quan của Liên Hợp Quốc như Uỷ Ban Pháp Luật hay ngay cả Đại Hội Đồng.

Toà án Quốc tế về Luật Biển (Internatinal Tribunal for the Law of the Sea ITLOS, thành lập 1997) và Uỷ Hội Quốc Tế về Ranh Giới Thềm Lục Địa cũng là những cơ quan có thể xét về mặt pháp luật các tranh chấp về quyền lợi ngoài biển cho Việt Nam.

Các cơ quan chính trị

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Việc đưa vấn đề tranh chấp ra Hội đồng Bảo an thì còn gặp khó khăn khác là chỉ có thể đưa ra nếu có đe dọa hoà bình và an ninh thế giới trong vùng Biển Đông, nghĩa là sắp hay đã có nổ súng xung dột. Nhưng một trường hợp khác mà các lực lượng hay tổ chức phi chính phủ, với quốc gia hội viên, có thể vận dụng Hội đồng Bảo an, là khi có sự vi phạm nhân quyền ào ạt (massive violations of human rights); thí dụ như khi quyền sống của đa số dân chài Việt Nam trên Biển Đông (tức là có vi phạm nhân quyền ào ạt và thô bạo) thì đó là cơ hội đưa vấn đề ra Hộì đồng Bảo an.

Giải Pháp Cho Vấn Đề Tăng Dân Số?

CÁC GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ TĂNG DÂN SỐ

1) Ban hành các giải pháp về luật:

● Việt Nam qui định mỗi gia đình chỉ có 1-2 con.

● Trung Quốc ban hành qui định mỗi gia đình có 1 con từ năm 1979.

● Hiệu quả của biện pháp này là nhanh chóng, tức thì. Theo tính toán, nếu không ban hành qui định trên, Trung Quốc đã có thể có thêm 400 triệu dân.

● Thế hệ trẻ ngày nay đã có sự thay đổi về quan niệm sinh con, chấp nhận có ít con để nuôi dạy cho tốt.

Tuy nhiên, việc ban hành các qui định mang tính áp chế này lại gây ra sự mất cân bằng về giới:

● Nhiều phụ nữ ở Trung Quốc đã phá thai khi biết mình mang thai con gái.

● Tháng 1/2005, tỉ lệ bé trai/bé gái ở Trung Quốc là 119/100 (thế giới: 105/100).

● 40 triệu người dân Trung Quốc đối diện nguy cơ không có bạn đời trong tương lai.

● Khảo sát năm 2005, một số tỉnh ở Việt Nam, tỉ lệ bé trai/bé gái cũng đạt mức 115/100

● Nhiều hệ lụy tai hại: xung đột, án mạng, tệ nạn xã hội.

2) Tuyên truyền các biện pháp tránh thai

● Rất nhiều các biện pháp tránh thai đã được áp dụng tại Việt Nam từ những năm 1980.

● Ở Mỹ, qui định cho phép người trên 18 tuổi mua thuốc tránh thai khẩn cấp vào năm 2007 đã khiến doanh số loại thuốc này tăng gấp đôi.

● Các biện pháp tránh thai giúp giảm tỉ lệ sinh con ngoài ý muốn, góp phần lớn trong nỗ lực giảm dân số của các chính phủ những năm gần đây.

● Tất cả các biện pháp tránh thai đều ẩn chứa nguy cơ thất bại, khiến nhiều trường hợp, việc tránh thai không đạt hiệu quả như mong muốn.

● Một số biện pháp “cực đoan” như triệt sản sẽ khiến người được thực hiện trở nên vô sinh, gây nên hậu quả vĩnh viễn đối với họ.

3) Các giải pháp dài hạn

● Với hệ thống tuyên truyền viên đến tận cơ sở, Việt Nam hy vọng nâng cao ý thức người dân trong việc hạn chế gia tăng dân số.

● Tổ chức phát bao cao su miễn phí cho thanh niên, gái bán hoa tại các khu vực nhạy cảm, vừa hạn chế gia tăng dân số, vừa giảm thiểu lây truyền các bệnh xã hội.

Việc tăng dân số chỉ xẫy ra ở những nước nghèo; lạc hậu.

Còn những nước Tây phương thì dân họ đang bị lão hóa, nghĩa là ngày càng có nhiều người già sống tuổi rất thọ (trên 90), và thiếu tầng lớp trẻ nhân lực để gồng gánh công việc, do đó họ phải mở cửa cho dân các nước vào sống để làm việc.

Việc giãm dân số Thế Giới đã được lo nghĩ từ lâu, thật sự thì TG cũng đang có chiều hướng giãm, nói cách khác là tăng chậm hơn.

Giáo dục là chủ yếu trong việc giãm dân số TG.

Đừng có coi thường dân tộc thiểu số, họ có nguồn gien quý đấy. Chẳng qua họ không có điều kiện để học tập thôi, có đầy đủ họ cũng giỏi như ai.

Giải pháp hạn chế tăng dân số bây giờ phải giáo dục giới tính và cho các trẻ biết và hiểu rõ các phương pháp tránh thai. Còn ngại, còn ngượng thì còn tăng,

Dân trí càng cao, sinh đẻ càng có kế hoạch tự giác, không cần chính sách nào cả. Mức sống cao, thu nhập ổn định, . . dẫn đến mỗi gia đình thu xếp sao cho có thời gian giải trí, học tập, thụ hưởng tiện nghi cao cấp, có điều kiện giáo dục và chăm sóc con cái tốt nhất, . . thay vì dắt nhau vô mùng đi ngủ sớm, . .

Đến nước này, nhiều nước còn khuyến khích cho dân đẻ kha khá chút cho Nhà nước nhờ, . . đẻ có thưởng nữa đấy

How do you think about the answers? You can sign in to vote the answer.

Sign in

Ông lính mới nói dài dòng quá

Giải pháp là kế hoạch hoá gia đình.

Still have questions? Get your answers by asking now.

Ask Question

Join Yahoo Answers and get 100 points today.

Join

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Mới Cho Vấn Đề Lạm Phát trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!