Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Kinh Doanh Thông Minh Để Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh # Top 10 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Kinh Doanh Thông Minh Để Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Kinh Doanh Thông Minh Để Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Việc ứng dụng các giải pháp thông minh giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh; giúp cải tiến và nâng cao năng suất chất lượng.

Năng lực cạnh tranh là khả năng dành chiến thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi cùng quan tâm tới một đối tượng. Trên góc độ kinh tế, năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh 

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao.

Ứng dụng các giải pháp thông minh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động đang là một xu thế được doanh nghiệp quan tâm. Giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp xử lý và cung cấp các thông tin, dữ liệu cho việc đưa ra các quyết định sản xuất, kinh doanh của lãnh đạo một cách hiệu quả.

 Việc áp dụng thành công các giải pháp kinh doanh thông minh sẽ giúp doanh nghiệp cải tiến và nâng cao năng suất chất lượng

Việc áp dụng thành công các giải pháp kinh doanh thông minh sẽ giúp doanh nghiệp cải tiến và nâng cao năng suất chất lượng từ đó  có thể khẳng định vị thế trên thị trường.

5 Nhóm Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh

(BĐT) – Sau 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam vẫn kém năng động, tốc độ tăng trưởng đang có chiều hướng suy giảm, chất lượng tăng trưởng cải thiện chậm, năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất lao động ở mức thấp; hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội không cao.

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là vẫn còn tồn tại nhiều rào cản hạn chế cạnh tranh.

Còn khiếm khuyết

Cạnh tranh là linh hồn và nền tảng của kinh tế thị trường, nhưng chính sách cạnh tranh quốc gia hiện còn không ít khiếm khuyết. Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Report) 2016 – 2017, Việt Nam vẫn là nền kinh tế thị trường kém cạnh tranh với thứ hạng 60/138 nước về Chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu (CGI), xếp thứ 80/138 nước về mức độ cạnh tranh trong nước và đứng thứ 89/138 nước về Chỉ số hiệu quả chống độc quyền.

Tình trạng cạnh tranh bất bình đẳng diễn ra khá phổ biến không chỉ giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) với khối tư nhân, mà còn giữa DN có vốn đầu tư nước ngoài với khối tư nhân trong nước.

Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội hiện còn kém hiệu quả, chưa theo tín hiệu thị trường, chưa tuân thủ quy luật cạnh tranh, đặc biệt là phân bổ vốn nhà nước, đã tác động xấu đến hiệu quả và năng suất của nền kinh tế.

5 nhóm giải pháp tổng thể

Hướng tới mục tiêu tăng năng suất và hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, Việt Nam cần cải cách tổng thể chính sách cạnh tranh quốc gia. Chính sách cạnh tranh này phải bảo đảm hài hòa hóa với các “luật chơi” nhằm thiết lập một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng, tạo môi trường đầu tư tin cậy cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước…

Trên cơ sở đó, tại Dự thảo Đề án tổng thể về chính sách cạnh tranh quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất 5 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đầu tiên là nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy về cạnh tranh, chính sách cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Dự thảo Đề án nhấn mạnh, khi quyết định ban hành bất kỳ quy định, chính sách hay biện pháp quản lý/can thiệp nào, cơ quan xây dựng phải trả lời câu hỏi các quy định, chính sách hay biện pháp này khuyến khích hay hạn chế thị trường cạnh tranh?

Thứ hai là đổi mới cách thức quản lý nhà nước theo hướng tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng. Trước mắt, tập trung rà soát rào cản thể chế như các quy hoạch, kế hoạch, các điều kiện kinh doanh, giấy phép hành nghề… Về dài hạn, thực hiện rà soát toàn bộ những quy định pháp luật, những văn bản hành chính và loại bỏ hoàn toàn những quy định đang cản trở hoặc có nguy cơ hạn chế cạnh tranh.

Thứ ba là xác định đúng vai trò của Nhà nước, kinh tế nhà nước, DNNN trong nền kinh tế nhằm giảm thiểu sự tham gia của Nhà nước trong các hoạt động kinh tế, cơ cấu lại độc quyền nhà nước, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư nhân.

Thứ tư là hoàn thiện mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường bằng việc xác định rõ chức năng của Nhà nước và thị trường. Nhà nước hoạt động theo thị trường và can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế không được trái với các nguyên tắc thị trường, mà phải thuận theo thị trường. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển các loại thị trường, đặc biệt là thị trường các nhân tố sản xuất.

Giải pháp thứ năm là thiết lập và giám sát cơ chế đánh giá tác động cạnh tranh của các chính sách, pháp luật, đặc biệt cơ chế đánh giá, quản lý chất lượng các quy định về kinh doanh.

Ngoài 5 nhóm giải pháp nêu trên, Dự thảo Đề án cũng đưa ra một số giải pháp khác như: kiện toàn bộ máy thực hiện điều tiết thị trường; tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN…

Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Cấp Tỉnh

BHG – Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP, ngày 1.1.2019 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021, tỉnh ta đang triển khai nhiều giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); hướng đến mục tiêu cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh; tăng nhanh số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân.

Người dân đến làm các thủ tục hành chính tại Bộ phận một cửa điện tử huyện Mèo Vạc.

Đồng chí Phạm Thanh Hòa, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư (Sở Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: Qua việc đẩy mạnh giải quyết thủ tục đầu tư, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm một số thủ tục đã tạo điều kiện thuận lợi cho cấp quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư dự án; cắt giảm 1/3 thời gian giải quyết thủ tục đầu tư, thành lập doanh nghiệp và giải quyết dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 3. Trong quý I, cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 6 dự án; đăng ký kinh doanh cho 23 doanh nghiệp và 10 đơn vị trực thuộc; có 4 hợp tác xã thành lập mới; triển khai hướng dẫn trình tự, thủ tục đầu tư cho một số nhà đầu tư, hỗ trợ nhà đầu tư triển khai thủ tục đầu tư dự án và xây dựng kế hoạch chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể lên thành doanh nghiệp. Với nỗ lực không ngừng, chỉ số PCI tỉnh ta tăng 3 bậc trong năm 2018, xếp thứ 52/63 tỉnh, thành trong cả nước. Trong 10 chỉ số thành phần, tỉnh ta tăng chủ yếu ở chỉ số dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (từ 6,26 năm 2017 lên 7,31 năm 2018) và chỉ số chi phí không chính thức (tăng từ 4,49 năm 2017 lên 5,14 năm 2018); một số chỉ số cũng tăng, như: Tính năng động của chính quyền tỉnh; đào tạo lao động.

“Tỉnh sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn sự nghiệp khoa học và công nghệ thông qua việc triển khai các đề tài, dự án khoa học của tỉnh. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng dụng công nghệ tiên tiến; kịp thời ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ vào sản xuất, đời sống, xã hội. Tiếp tục huy động các nguồn lực để triển khai thực hiện Kế hoạch đột phá chung của tỉnh, Kế hoạch đột phá của các ngành, địa phương” – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư tỉnh Phạm Thanh Hòa cho biết thêm.

Bài, ảnh: KIM TIẾN

Giải Pháp Phát Triển Dịch Vụ, Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Agribank

Tuy nhiên, hiện nay, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, đặc biệt là về sản phẩm dịch vụ ngân hàng ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi Agribank phải có những sản phẩm dịch vụ hữu ích để giữ và phát triển khách hàng. Vì vậy, để giữ vững và phát triển thị phần, thương hiệu và uy tín trên thị trường, Agribank cần có những giải pháp phát triển dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Thực trạng hoạt động phát triển dịch vụ của Agribank

Để phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng, trong những năm qua, Agribank đã không ngừng phát triển các sản phẩm ngân hàng hiện đại. Nhờ triển khai các hoạt động dịch vụ thiết thực, nguồn thu từ dịch vụ của Agribank luôn được đảm bảo, năm sau cao hơn năm trước. Kết quả thu từ hoạt động dịch vụ của Agribank trong 3 năm gần đây (2017-2019) tương đối khả quan (Bảng 1).

– Về thu từ hoạt động dịch vụ: Trong giai đoạn 2017-2019, thu dịch vụ trên tổng doanh thu của Agribank luôn chiếm tỷ trọng cao. Năm 2019, thu dịch vụ toàn hệ thống đạt 6.695 tỷ đồng, tăng 1.317 tỷ đồng (tương đường với mức tăng 24,5%) so với năm 2018, với tỷ trọng 11,29%/tổng thu nhập hoạt động, hoàn thành 108,3% kế hoạch, đạt mức tăng trưởng lớn nhất từ trước đến nay.

Bên cạnh đó, doanh thu phí dịch vụ tiếp tục có kết quả tốt; các tỷ lệ an toàn đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Agribank tiếp tục khẳng định sự kiên định của một thương hiệu gắn với sứ mệnh nông nghiệp, nông dân, nông thôn, luôn tiên phong, chủ lực cung ứng tín dụng, sản phẩm dịch vụ tiện ích cho nền kinh tế.

– Về quy mô mạng lưới hoạt động: Hệ thống mạng lưới của Agribank rất lớn, đây là lợi thế khi thực hiện cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán và là cơ sở cần thiết tăng tiện ích và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Hiện nay, Agribank có quan hệ với gần 740 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng tại hơn 86 quốc gia và vùng lãnh thổ với gần 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch, mạng lưới ngân hàng tự động lớn nhất (hơn 3.000 máy ATM, 80 CDM và trên 24.500 máy POS phục vụ cho hơn 12,6 triệu thẻ).

– Về số lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp trên thị trường: Hiện nay, Agribank có hơn 200 sản phẩm dịch vụ, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu của đa dạng khách hàng. Ngân hàng cũng phát triển mạnh về sản phẩm bảo hiểm – ngân hàng. Sản phẩm dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức được chia thành 10 nhóm: Huy động vốn, tín dụng, thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, Treasury, đầu tư, thẻ, E-Banking, dịch vụ ngân quỹ và quản lý tiền tệ, đáp ứng nhu cầu tốt nhất cho khách hàng.

– Về thương hiệu và chất lượng dịch vụ: Việc chăm sóc, hỗ trợ khách hàng được Agribank thực hiện bài bản, chuyên nghiệp. Đặc biệt, năm 2019, Agribank cải tiến chất lượng sản phẩm dịch vụ, bổ sung tính năng tiện ích, triển khai liên ngân hàng 24/7, tiền gửi trực tuyến, các dịch vụ thanh toán mới trên E-Banking… đa dạng hóa đối tác, đáp ứng nhu cầu khách hàng theo xu hướng thị trường.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động dịch vụ của Agribank vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Thứ nhất, nguồn thu dịch vụ của Agribank cao, chiếm tỷ trọng lớn trên tổng doanh thu, tuy nhiên, mới chỉ đứng thứ ba, xét cả về lãi thuần cũng mới chỉ đứng thứ hai, sau Vietcombank. Cơ cấu thu về dịch vụ còn phụ thuộc nhiều vào thanh toán trong nước, các dịch vụ về thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, chi trả kiều hối còn thấp (Hình 1).

Thứ hai, sản phẩm dịch vụ tương đối đa dạng, nhưng còn đơn điệu, tính tiện ích chưa cao và chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Thứ ba, tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu tạo ra thu nhập nhưng lĩnh vực này lại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các dịch vụ ngân hàng hiện đại như môi giới kinh doanh, tư vấn dự án, tư vấn tài chính, bao thanh toán… chưa hoàn thiện và chưa phát triển.

Thứ tư, khả năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng của các chi nhánh Agribank ở đô thị chưa cao… Bên cạnh đó, Agribank hầu như chưa phát triển được một dịch vụ trọn gói, thật sự khác biệt về chất lượng, tiện ích cho khách hàng sử dụng.

Thứ năm, chính sách phí dịch vụ phân tán, kém cạnh tranh so với ngân hàng thương mại khác; chưa xác định được doanh thu, chi phí, mức sinh lời theo từng nhóm sản phẩm hoặc theo từng nhóm khách hàng để đề ra những giải pháp cụ thể.

Thứ sáu, sự liên kết giữa các chi nhánh trong hệ thống trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ còn hạn chế. Agribank đang thiếu một đội ngũ maketing chuyên nghiệp cho các chi nhánh hoạt động ở khu vực các đô thị lớn. Trình độ hiểu biết của nhân viên giao dịch tại các chi nhánh về thương hiệu và văn hóa cũng như những sản phẩm mà Agribank cung ứng chưa cao.

Sự yếu kém này đã làm cho hiệu quả của kênh phân phối sản phẩm, dịch vụ qua mạng lưới chi nhánh chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Hệ thống công nghệ thông tin còn chậm, chưa hỗ trợ sâu và toàn diện hoạt động kinh doanh và đánh giá chi nhánh. Việc triển khai các dự án thẻ, hệ thống ATM và thiết bị chấp nhận thẻ của Agribank liên tục gặp sự cố lỗi mạng…

Giải pháp phát triển dịch vụ nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, thời gian tới Agribank cần tập trung triển khai các giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu khách hàng. Agribank cần không ngừng có những chính sách ưu đãi, khuyến khích cán bộ tự học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tổ chức các khóa học bồi dưỡng chuyên môn. Đối với các sản phẩm đặc thù như sản phẩm bảo hiểm có thể tổ chức đào tạo chuyên gia về sản phẩm tại chi nhánh, kỹ năng bán hàng theo các cấp độ… Tạo ra môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp để khuyến khích nhân viên làm việc hăng say, sáng tạo và có cơ hội thăng tiến.

Hai là, tăng cường đầu tư phát triển công nghệ của ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Công nghệ là yếu tố quyết định chất lượng dịch vụ của ngân hàng thương mại, việc xây dựng và phát triển hệ thống thông tin ngân hàng không chỉ giúp tiếp cận và đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng mà còn giúp ngân hàng có thể kiểm soát hạn chế và phòng ngừa rủi ro. Agribank cần đầu tư, nâng cấp thay thế hệ thống công nghệ thông tin đảm bảo vận hành thông suốt, ổn định, đáp ứng yêu cầu quản lý, phát triển sản phẩm dịch vụ, số lượng tài khoản giao dịch, tập trung triển khai nâng cấp dự án E-Banking, phục vụ khách hàng.

Ba là, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn là thị trường tiềm năng với các doanh nghiệp và mạng lưới khách hàng. Agribank cần không ngừng xây dựng chiến lược về sản phẩm chủ lực, phát triển, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ để giữ vững và mở rộng thị phần ở khu vực này.

– Đối với các dịch vụ truyền thống (như dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán…), Agribank và các chi nhánh cần phải duy trì và nâng cao chất lượng theo hướng: Hoàn thiện quá trình cung cấp dịch vụ, đảm bảo tính công khai, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục làm cho dịch vụ dễ tiếp cận và hấp dẫn khách hàng.

– Đối với các dịch vụ mới như chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, thẻ tín dụng, bảo lãnh ngân hàng, thấu chi, các sản phẩm phái sinh…, cần nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực marketing, giúp các doanh nghiệp và công chúng hiểu biết, tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các dịch ngân hàng; Nâng cao tiện ích các dịch vụ ngân hàng, sử dụng linh hoạt công cụ phòng ngừa và hạn chế rủi ro gắn với các đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng.

– Đối với sản phẩm dịch vụ huy động vốn: Cần đa dạng hóa phát triển sản phẩm dịch vụ huy động vốn tự động trên kênh phân phối ngân hàng điện tử, tiền gửi trực tuyến trên ATM/CDM; Hoàn thiện một số sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng dân cư và tổ chức xã hội hướng tới tiếp cận nguồn khách hàng FDI giai đoạn 2020-2030, ban hành các sản phẩm tín dụng gắn việc cho vay với huy động vốn và sử dụng sản phẩm dịch vụ khác của Agribank.

Hoàn thiện tốt nhất cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin đảm bảo sự phát triển được các dòng sản phẩm mang tính công nghệ cao. Đảm bảo sự đồng bộ về mặt công nghệ giữa các chi nhánh và phòng giao dịch, tránh tình trạng tắc nghẽn cho đường truyền, gây tâm lý không tốt cho người tiêu dùng, cũng như làm nền tảng cho sự phát triển những dòng sản phẩm mới.

Bốn là, phát triển sản phẩm dịch vụ: Agribank cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung sản phẩm, sàng lọc loại bỏ những sản phẩm không hữu ích, bổ sung, xây dựng thêm chức năng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của khách hàng như: (i) Sản phẩm gửi hẹn rút. Sản phẩm này đáp ứng cho kế hoạch cụ thể chi tiêu trong tương lai của khách hàng và tạo cho khách hàng tính chủ động về thời gian và lãi suất; (ii) Sản phẩm gửi một lần rút nhiều lần. Sản phẩm này, được áp dụng cho khách hàng có nhu cầu thanh toán nhanh nhạy trong các giao dịch kinh doanh; (iii) Sản phẩm tiết kiệm gửi góp là sản phẩm gửi nhiều lần, rút một lần đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới và có khả năng thực hiện khả thi ở Việt Nam, vì nó thích hợp với các đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình và thấp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Kinh Doanh Thông Minh Để Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!