Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sức hấp dẫn từ thị trường Trung Quốc

Báo cáo từ Cục Chăn nuôi cho thấy, hiện tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa là 2,09%/năm. Cùng đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng sữa giai đoạn 2016 – 2018 là 8,52%. Theo ước tính của cục này, năng suất sữa trung bình của đàn bò sữa trong cả nước năm 2018 đạt trên 5.000 kg sữa/con/năm là khá cao. So sánh với năng suất sữa của các nước trên thế giới và trong khu vực, năng suất này là cao hơn các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, NewZealand, Brazil… Bởi vậy, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam đang có rất nhiều cơ hội cạnh tranh khi đẩy mạnh xuất khẩu (XK).

Sữa của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với sản phẩm của Australia và NewZealand tại thị trường Trung Quốc

Theo Cục Chăn nuôi, sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam được XK đến 46 quốc gia trên thế giới. Đặc biệt, đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất báo cáo đánh giá rủi ro mở cửa thị trường sữa cho Việt Nam. Sau hơn 6 năm đàm phán, ngày 26/4/2019, Nghị định thư về XK sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam sang Trung Quốc đã được ký kết, tạo cơ hội mở rộng cho sữa và các sản phẩm sữa của Việt Nam XK vào thị trường 1,4 tỷ dân này.

Báo cáo thị trường sữa toàn cầu 2018 của FAO cho thấy, Trung Quốc sản xuất 25,6 triệu tấn sữa, giảm 1,1% so với năm 2017 và để đáp ứng tiêu dùng sữa và sản phẩm sữa trong nước, nước này đã nhập 14,6 triệu tấn sữa quy đổi. Đây là quốc gia có tiềm năng rất lớn cho XK các sản phẩm sữa của Việt Nam trong những năm tới.

Đánh giá về cơ hội XK sữa sang thị trường Trung Quốc, ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, đến năm 2020, nước này cần tới 11 tỷ lít sữa, nhưng ngành sữa của Trung Quốc hiện có chi phí sản xuất còn cao cũng như các hạn chế nước và thức ăn chăn nuôi bò sữa sẽ tiếp tục tạo nên bất lợi cho ngành sản xuất sữa nội địa, vì vậy phải nhập khẩu các sản phẩm từ sữa chế biến là tất yếu.

Hơn nữa, kể từ khi xảy ra vụ sữa bột nhiễm melanine, chính người dân Trung Quốc cũng vẫn còn nghi ngại khi sử dụng sữa trong nước; chất lượng bò sữa hiện cũng có vấn đề do đồng cỏ bị ô nhiễm.

Tuy nhiên, điều ông Chinh lo ngại nhất là hiện nay sữa của Australia và New Zeland đang chiếm thị phần lớn trên thị trường sữa Trung Quốc, do đó sữa của Việt Nam vào Trung Quốc sẽ phải cạnh tranh gay gắt với 2 “ông lớn” này.

Ở góc độ DN, ông Ngô Minh Hải – Chủ tịch Tập đoàn TH đánh giá, cánh cửa XK sữa vào thị trường Trung Quốc bước đầu đã mở nhưng không phải DN trong ngành sữa Việt Nam sẽ có thể dễ dàng đi qua. Các DN sữa phải đảm bảo được 2 yêu cầu quan trọng gồm duy trì chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm và đảm bảo được nguồn gốc xuất xứ.

Chăn nuôi theo chuỗi giá trị

Thực tế hiện nay cho thấy, việc đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm sữa là không hề dễ dàng do chăn nuôi bò sữa chủ yếu vẫn dừng ở quy mô nông hộ. Ông Tống Xuân Chinh cho biết, số lượng bò sữa nuôi trong nông hộ là 199.941 con, chiếm 70,65% tổng đàn bò sữa của cả nước. Quy mô nuôi dao động từ 5,4  – 10 con/hộ đối với chăn nuôi bò sữa.

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, năm 2016, cả nước có 28.695 hộ chăn nuôi bò sữa. Trong đó, có 17.792 hộ nuôi dưới 5 con bò sữa/hộ, chiếm 62% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 5.622 hộ nuôi từ 5-10 con bò sữa/hộ, chiếm 19,89% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước; có 3.564 hộ nuôi từ 10 – 20 con/hộ, chiếm 12,42% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước. Các hộ chăn nuôi quy mô trên 20 con/hộ còn hạn chế, chỉ chiếm 5,98% tổng số hộ chăn nuôi bò sữa của cả nước.

Sở dĩ các nông hộ chưa thể tăng quy mô đàn bò sữa là do chưa có cơ chế hỗ trợ. Đại diện HTX Nông nghiệp Evergrowth (Sóc Trăng) cho biết, việc phát triển chăn nuôi bò sữa tại địa phương này là rất có tiềm năng, nhưng cần tạo điều kiện cho nông dân, cần cho họ một cơ hội thực sự để phát triển nghề nuôi bò sữa.

Để ngành sữa Việt Nam phát triển, ông Chinh kiến nghị Bộ NN&PTNT xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò sữa, chế biến sữa giai đoạn 2020-2030 để tăng cường phát triển ngành sữa, thúc đẩy XK sữa và các sản phẩm từ sữa.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh liên kết giữa nông dân và các DN XK sữa. Hay nói cách khác là tổ chức lại sản xuất của DN, HTX và người nông dân theo chuỗi giá trị. Có hai hình thức liên kết. Một là DN cung cấp giống, thức ăn đầu vào, hướng dẫn kỹ thuật cho bà con, sau đó thu mua sữa từ các hộ dân này với giá sau khi đã trừ chi phí.

Hai là người dân trồng cỏ sau đó bán lại cho DN, đây là hình thức rất hữu hiệu, đặc biệt là những khu đất nông nghiệp không hiệu quả nên chuyển sang trồng cỏ.

Đây không chỉ là giải pháp giúp đẩy mạnh XK sữa mà còn giúp ngành sữa Việt chiếm lĩnh thị trường trong nước. Hiện nay, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 4 về năng suất của đàn bò vắt sữa nhưng sản xuất trong nước vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu và hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn sữa và sản phẩm sữa về để phục vụ tiêu dùng trong nước.

Tính riêng trong năm 2019, nước ta đã nhập khẩu 962 triệu USD sữa và sản phẩm từ sữa. Điều đó cho thấy ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta có rất nhiều cơ hội phát triển.

Những Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Cho Ngành Lúa Gạo Việt Nam

Lúa gạo đóng vai trò chiến lược trong an ninh lương thực của Việt Nam. Trong năm 2019, mặc dù thị trường xuất khẩu gạo không hoàn toàn thuận lợi, Việt Nam đã xuất khẩu được 6,3 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,7 tỷ USD. Tuy nhiên, cái được đáng kể nhất là bằng sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự vào cuộc tích cực cùng các Bộ, ban, ngành… đã giải quyết được bài toán xuất khẩu gạo trong giai đoạn cam go. Bài viết này sẽ phân tích những thách thức, cơ hội, cùng các chính sách quyết liệt của Chính phủ hỗ trợ cho ngành Lúa gạo, thông qua đó đề xuất một số gợi ý cho phát triển xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.

Từ khóa: Xuất khẩu, ngành Lúa gạo Việt Nam, giải pháp.

1. Những thách thức với ngành Lúa gạo Việt Nam

Việt Nam có những lợi thế đặc biệt trong sản xuất lúa gạo và đây cũng là hàng hóa đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội của nước ta. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), diện tích lúa của nước ta chiếm 82% diện tích đất canh tác ở Việt Nam. Trong đó, có khoảng 52% sản lượng lúa được sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long và 18% ở đồng bằng sông Hồng. Sinh kế của hơn 15 triệu nông dân nhỏ lẻ dựa vào nguồn thu từ cây lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

Là nước xuất khẩu gạo đứng trong top đầu trên thế giới, với trung bình 6 – 7 triệu tấn gạo xuất khẩu một năm, Việt Nam đã góp phần rất lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho đất nước nói riêng và thế giới nói chung.

Sau kỷ lục xuất khẩu hơn 8 triệu tấn vào năm 2012, năm 2018, ngành Lúa gạo của Việt Nam tiếp tục gặt hái thành công lớn khi đạt sản lượng xuất khẩu cao nhất kể từ năm 2013, lên gần 7 triệu tấn. Tổng sản lượng ngành Lúa gạo cả nước đạt hơn 44 triệu tấn lúa, tăng 1,2 triệu tấn so với 2017, xuất khẩu gạo đạt giá trị 3,03 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2017. Điểm nổi bất là giữa lúc thị trường số 1 là Trung Quốc giảm sút đến 40%, Việt Nam lại xuất khẩu được gạo vào 2 thị trường là Philipine và Indonesia.

Duy trì sản lượng gạo xuất khẩu trung bình 6 – 7 triệu tấn mỗi năm, Việt Nam đã vươn lên vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới.

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long được xem là kho lúa gạo của cả nước và thế giới, với hơn 50% sản lượng gạo và chiếm 90% sản lượng xuất khẩu gạo của cả nước. Với kết quả tích cực của năm 2018, ngành Công Thương các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã tự tin đặt mục tiêu xuất khẩu cho năm 2019 cao hơn.

Song, thị trường xuất khẩu gạo những tháng đầu năm 2019 lại có những diễn biến không thuận lợi. Nhu cầu tiêu thụ gạo trong năm 2019 cho thấy là rất lớn, tập trung vào các sản phẩm gạo chất lượng cao. Tuy nhiên, cùng với việc nhu cầu tăng cao, các thị trường nhập khẩu cũng ngày càng yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng và vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm. Thị trường xuất khẩu gạo Việt Nam đã ghi nhận sự quay đầu sụt giảm giá mạnh, khi khối lượng gạo xuất khẩu tháng 1/2019 ước đạt 373.000 tấn, với giá trị đạt 167 triệu USD, giảm 24,2% về khối lượng và giảm 30% về giá trị so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường lớn nhất là Trung Quốc chững lại. Tính đến giữa tháng 1/2019, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc được 132.000 tấn gạo, giảm 31,75% so với cùng kỳ và là mức thấp nhất kể từ năm 2016. Các thị trường khác chưa có nhiều khởi sắc. Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm so với Thái Lan và Ấn Độ, do đang bước vào vụ thu hoạch lớn nhất trong năm là vụ Đông Xuân. Bên cạnh đó, các giao dịch xuất khẩu cũng ít hơn trong thời gian cận Tết.

Trong bối cảnh đó, những khó khăn nội tại của ngành Lúa gạo Việt Nam càng được đặt ra một cách cấp thiết, nhất là khi Việt Nam chưa có thương hiệu gạo xuất khẩu quốc gia, trong khi phải cạnh tranh gay gắt với các nhà xuất khẩu lớn là Thái Lan, Ấn Độ và một số nước mới nổi như Campuchia, Myanmar và Pakistan với những loại gạo đạt chất lượng vượt trội… liên tiếp gây áp lực đối với tình hình xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam.

2. Nhiều chính sách ưu đãi đặc thù hỗ trợ cho ngành Lúa gạo Việt Nam

Để hỗ trợ vốn phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và cho người dân, doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh xuất khẩu lúa gạo nói riêng, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đặc thù.

Các chính sách luôn được sửa đổi bổ sung hoàn thiện phù hợp với thực tế phát triển của ngành như Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, sau đó được thay thế bởi Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 và gần đây nhất là Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP với nhiều cơ chế ưu đãi đột phá, phù hợp với thực tiễn, như: nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm, chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu mối tổ chức mô hình liên kết với nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao gia tăng giá trị sản phẩm.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành cơ chế hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân khi vay vốn ngân hàng để mua máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất, chế biến lúa gạo… nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo các Quyết định số 63, 65 và 68.

Trước những tín hiệu bất lợi cho xuất khẩu gạo, Bộ Công Thương đã chủ động bám sát diễn tiến thị trường chủ động có các giải pháp điều hành cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu gạo theo hướng mở. Theo đó, tự do hóa thị trường tập trung, không quản lý đầu mối nữa mà các doanh nghiệp có khả năng đáp ứng được các yêu cầu đêu có thể tham gia xuất khẩu bình thường. Về mặt chính sách, đã chủ động “mở” sớm Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo.

Đặc biệt, Bộ Công Thương đã tổ chức hội nghị nhằm chủ động tìm cách tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo cả nước, sơ kết tình hình xuất khẩu gạo, cũng như nhận diện các khó khăn, thuận lợi từ đó đưa ra giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo.

Theo các chuyên gia, những năm gần đây, nhiều nước tiêu dùng, nhập khẩu gạo đã có những sự thay đổi sâu sắc về chính sách đối với mặt hàng lúa gạo, như: thực hiện thuế hóa mặt hàng gạo; thay đổi phương thức nhập khẩu gạo cho phép nhiều nguồn cung tham gia các đợt thầu G2P để có nguồn cung gạo với giá cạnh tranh và chất lượng cao hơn.

Cùng đó, các nước nhập khẩu cũng nỗ lực nâng cao năng lực sản xuất trong nước hướng đến tự chủ về lương thực. Các nước sản xuất tập trung tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu, điều kiện canh tác để sản xuất gạo có chất lượng và có thương hiệu. Các động thái và tình hình trên đã làm gia tăng lượng cung gạo toàn cầu, tăng tồn kho tại các nước xuất khẩu và làm thay đổi sâu sắc quan hệ cung – cầu theo hướng thị trường thuộc về người mua.

Ba chính sách lớn đã được ban hành là: Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030; Đề án tái cơ cấu ngành Lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Nghị định quy định về kinh doanh xuất khẩu gạo.

Đặc biệt, ngày 15/8/2018, Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo đã được ban hành thay thế Nghị định số 109/2010/NĐ-CP. Có thể đánh giá, Nghị định 107 đã thể hiện tư duy quản lý mới theo hướng giảm đáng kể chi phí gia nhập thị trường cho thương nhân, tạo động lực giải phóng mạnh mẽ năng lực kinh doanh thương mại, năng lực thị trường, thúc đẩy tiêu thụ, xuất khẩu thóc, gạo hàng hóa cho người nông dân.

Nghị định số 107/2018/NĐ-CP cũng bổ sung, điều chỉnh nhiều quy định về hợp đồng tập trung, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả các quy định về cơ chế hợp đồng tập trung, thúc đẩy xuất khẩu gạo.

Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và giảm tổn thất trong nông nghiệp, ngành Ngân hàng đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm triển khai chủ trương của Chính phủ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nói chung và lúa gạo nói riêng được tiếp cận vốn với lãi suất ưu đãi hợp lý và giảm áp lực tài sản đảm bảo đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, trong đó có ngành Lúa gạo.

Sau 2 năm (2017 – 2018) thành công liên tiếp của ngành Lúa gạo Việt Nam cả về số lượng và chất lượng, trước diễn biến không thuận lợi của thị trường xuất khẩu lúa gạo trong những tháng đầu năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động chỉ đạo các ngân hàng thương mại cân đối nguồn vốn, tập trung cho vay, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để doanh nghiệp thu mua thóc, gạo cho nông dân. Ngành Ngân hàng cam kết sẵn sàng đáp ứng đủ vốn để đáp ứng nhu cầu của người dân, doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, thu mua, chế biến, tiêu thụ lúa gạo.

3. Cơ hội cho ngành Lúa gạo Việt Nam

Năm 2019, ngành Lúa gạo Việt Nam được đánh giá gặp nhiều khó khăn, song với sự quan tâm chỉ đạo khẩn trương của Chính phủ, sự vào cuộc kịp thời của các Bộ, ban, ngành và sự nỗ lực vượt khó của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, những tín hiệu vui từ hoạt động xuất khẩu lúa gạo cuối năm 2019 và tình hình xuất khẩu gạo năm 2020 được dự báo có nhiều khời sắc, khi hàng loạt Hiệp định thương mại tự do (FTA) được thực thi mở ra một hướng phát triển mới trong tương lai.

Một doanh nghiệp xuất khẩu gạo hàng đầu của Việt Nam cho biết, doanh nghiệp đã đẩy mạnh sản xuất và XK gạo bền vững bằng cách xây dựng các chuỗi sản xuất lúa gạo khép kín. Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, doanh nghiệp này đã sản xuất lúa gạo theo chuỗi giá trị, tạo vùng nguyên liệu, xây dựng các cánh đồng lớn ở nhiều địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long với sự hỗ trợ của lực lượng kỹ sư 3 cùng (cùng ăn, cùng ở và cùng làm với bà con nông dân). Bên cạnh đó, liên kết chặt với các hợp tác xã kiểu mới, kiểm soát chặt quy trình từ khâu trồng trọt đến phân loại lúa khi thu hoạch, chế biến tại nhà máy và xuất khẩu gạo.

Với định hướng chỉ xuất khẩu gạo chất lượng và độ thuần cao, doanh nghiệp đã từng bước giảm dần gạo đóng bao 25 kg hoặc 50 kg, chủ yếu đưa ra sản phẩm đóng gói 5 – 10 kg. Đây là một trong những lý do giúp doanh nghiệp ngày càng mở rộng được thị trường và nâng cao kim ngạch xuất khẩu trong suốt thời gian qua.

Về cơ hội thị trường, khi FTA Việt Nam – EU (EVFTA) vừa được Nghị viện châu Âu thông qua, các chuyên gia của ngành Nông nghiệp nhận định: “EVFTA có hiệu lực có thể không khiến kim ngạch xuất khẩu gạo tăng đột biến, song sẽ là cơ hội rất lớn để đa dạng hóa thị trường cho gạo xuất khẩu. Việc có mặt ở một trong những thị trường có đòi hỏi cao nhất thế giới cũng là cơ hội cho gạo Việt Nam quảng bá thương hiệu và vào được nhiều thị trường khác”.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu gạo đang kỳ vọng mở rộng thị trường trong năm 2020 sau năm 2019 gặp rất nhiều khó khăn. Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu 6,37 triệu tấn gạo, trị giá 2,8 tỷ USD, tăng 4,2% về lượng và giảm 8,3% giá trị. Tuy nhiên, bước vào tháng đầu tiên của năm 2020, tình hình xuất khẩu gạo đang có dấu hiệu khả quan hơn. Cụ thể, dù rơi vào thời điểm nghỉ Tết, nhưng xuất khẩu gạo tháng 1/2020 vẫn đạt 559,61 nghìn tấn, trị giá 270,26 triệu USD, tăng 28,05% về lượng và 38,38% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2019.

Xuất khẩu gạo cũng có nhiều khả năng tăng trưởng tốt trong các tháng tới khi theo báo cáo mới nhất của Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Philippines – thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam trong năm 2019 sẽ tiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới với khoảng 2,5 triệu tấn gạo. Bên cạnh đó, đại diện của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cũng cho biết, năm 2020, triển vọng xuất khẩu gạo của Việt Nam là khá tốt khi tiêu thụ tại châu Phi tương đối khả quan.

Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam có một số thuận lợi do các FTA đã đi vào thực thi. Cụ thể, trong khuôn khổ tham vấn song phương với Hàn Quốc về việc nước này thuế hóa mặt hàng gạo trong khuôn khổ WTO, Việt Nam đã ký kết với Hàn Quốc hai văn bản là Thỏa thuận nhiều bên giữa Hàn Quốc và 5 đối tác WTO (gồm Australia, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam), về việc phân bổ hạn ngạch thuế quan; Thư trao đổi song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc về phân bổ hạn ngạch thuế quan. Như vậy, kể từ ngày 1/1/2020, bên cạnh việc phân bổ 20 nghìn tấn gạo cho tất cả thành viên WTO, Hàn Quốc sẽ dành cho Việt Nam hạn ngạch riêng là 55.112 tấn gạo. Lượng hạn ngạch phân bổ cho Việt Nam bao gồm các loại gạo mà Việt Nam có thể trồng và xuất khẩu. Với thị trường EU, EVFTA khi có hiệu lực sẽ mở hạn ngạch khoảng 40 nghìn tấn gạo (trong tổng số 85 nghìn tấn hạn ngạch theo cam kết)… Đây là cơ hội để nhiều loại gạo của Việt Nam, đặc biệt là gạo chất lượng cao, gạo hữu cơ vào được thị trường này.

Ngoài ra, sau hơn 1 năm thực thi Nghị định số 107/2018/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, Bộ Công Thương đã cấp thêm 47 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh XK gạo, nâng con số thương nhân XK gạo lên 182 thương nhân, mở ra cơ hội cho nhiều doanh nghiệp cùng được tham gia xuất khẩu gạo trong bối cảnh nhiều FTA đã và đang chuẩn bị có hiệu lực.

4. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cho ngành Lúa gạo Việt Nam

Cơ hội cho ngành Lúa gạo là có, song khó khăn chưa kết thúc. Trước mắt, tình trạng hạn mặn xảy ra tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã và đang tác động trực tiếp đến tình hình sản xuất lúa gạo. Trong tháng 2/2020, các doanh nghiệp vẫn chưa có hợp đồng tập trung nào lớn. Đặc biệt, dịch Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp đã và đang tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu gạo khi các giao dịch xuất khẩu gạo từ Việt Nam sang Trung Quốc gặp nhiều khó khăn.

Tuy vậy, ở góc độ tích cực, do từ vài năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư cho nông nghiệp để trở thành quốc gia xuất khẩu gạo, đồng thời đang trong tình hình dịch bệnh cũng khiến lượng cung gạo từ Trung Quốc giảm đi, tạo cơ hội cho gạo Việt Nam chiếm lĩnh các thị trường xuất khẩu gạo Trung Quốc để lại.

Để tận dụng cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong năm 2020, lãnh đạo Bộ Công Thương lưu ý các DN cần chú ý khi ký kết hợp đồng phải có điều khoản bảo hiểm, tránh rủi ro. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tập trung giữ vững thị trường Philippines, đáp ứng những tiêu chuẩn của nước bạn đưa ra.

Về phía Hiệp hội Lương thực Việt Nam cũng khuyến cao thêm, ngành Lúa gạo cần phải phát triển các loại gạo mới có chất lượng, thương hiệu, bên cạnh việc chú trọng tới khâu sản xuất, xây dựng quảng bá hình ảnh. Sau bài học từ cơn sốt gạo ngon nhất thế giới ST25 cho thấy, người tiêu dùng đang ngày càng quan tâm hơn đến những sản phẩm có giá trị cao, có uy tín trên thị trường. Hiệu ứng từ gạo ST25 đã khiến loại gạo ST24 của nhiều DN xuất khẩu được quan tâm, tiêu thụ mạnh hơn, kéo theo giá thành được đẩy lên rất cao từ 22 ngàn đồng/kg lên 34.000 – 35.000 đồng/kg. Chính vì thế, doanh nghiệp cần nghiên cứu đầu tư sâu giống mới, cũng như sản xuất mặt hàng lúa thơm có lợi nhuận cao, thay vì trồng các loại gạo trắng bình thường có giá trị thấp.

Về lâu dài, tái cơ cấu sản xuất lúa gạo cũng như các sản phẩm nông nghiệp khác được khuyến cáo cần phải đi theo hướng lấy tín hiệu thị trường để định đướng quy hoạch và tổ chức sản xuất, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, xuất khẩu, nhằm ổn định hoạt động tiêu thụ với giá có lợi cho người nông dân, nâng cao thu nhập của người nông dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 quy định về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. 2. Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2018), Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15/8/2018 về kinh doanh xuất khẩu gạo. 3. Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số: 942/QĐ-TTg, phê duyệt “Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030”. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2016), Quyết định số 1898/QĐ-BNN-TT, ngày 23/5/2016, phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành Lúa gạo Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030″. 5. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 706/QĐ-TTg năm 2015, ngày 21/5/2015, phê duyệt “Đề án phát triển thương hiệu gạo Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

Solutions for developing Vietnam’s rice industry

Department of Economics, Trade Union University

Rice plays a strategic role in Vietnam’s food security. Despite difficulties in the export market, Vietnam still exported 6.3 million tons of rice with a turnover of US $ 2.7 billion in 2019 thanks to the close attention from the Government of Vietnam, the active participation of ministries, departments and units. This paper analyzes the challenges, opportunities and drastic policies of the government to support the rice industry, thereby suggesting some suggestions for the development of Vietnam’s rice export in the next period.

Keywords: Exports, Vietnam’s rice industry, solution.

Tphcm: 8 Giải Pháp Để Thúc Đẩy Xuất Khẩu

Theo đó, đề án lấy chất lượng tăng trưởng làm nền tảng, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu dịch vụ, hàng hóa vô hình (phần mềm, sản phẩm nội dung số…); đẩy mạnh hoạt động liên kết vùng, tận dụng cơ hội tăng kim ngạch xuất khẩu vào những thị trường chúng ta đã ký kết hiệp định thương mại tự do; nâng cao năng lực cạnh tranh các cụm ngành xuất khẩu tiêu biểu, chuyên môn hóa theo lợi thế so sánh của thành phố, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm xây dựng nền tảng cạnh tranh; phát triển ngành logistics, quy hoạch lại hệ thống cảng biển, cảng sông và cơ sở hạ tầng; tăng cường khả năng kết nối giao thông đến các vùng sản xuất để TPHCM trở thành trung tâm logistics (Logistic Hub) và dịch vụ xuất khẩu vùng. 

Một trọng tâm khác, đó là phát triển nguồn nhân lực, cải tiến dịch vụ hành chính công, ứng dụng công nghệ thông tin, hình thành cơ sở dữ liệu xuất nhập khẩu liên thông và dùng chung để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh so với các nước trong khu vực. 

Thực hiện chiến lược trên, thành phố sẽ tập trung vào 8 giải pháp:

(1) Nâng cao trình độ kỹ thuật ngành cơ khí, tạo nền tảng chuyển dịch sang những ngành có mức độ tinh vi và cơ hội đa dạng hóa cao hơn. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ, góp phần tăng tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước…

(2) Nâng cao năng lực xuất khẩu sản phẩm dịch vụ phần mềm, nội dung số, tài chính, du lịch…

(3) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D); phát triển công nghiệp hỗ trợ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Thu hút và hỗ trợ dự án đầu tư công nghệ cao, công nghệ hỗ trợ cho sản phẩm điện – điện tử. Xây dựng và triển khai Đề án Mạng lưới kết nối đổi mới sáng tạo Saigon Innovation Network trong Khu Công nghệ cao thành phố.

(4) Nâng cao năng lực cạnh tranh các cụm ngành xuất khẩu truyền thống thâm dụng lao động. Phát triển thị trường cung ứng đầu vào bao gồm cả nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và các dịch vụ giá trị gia tăng.

(5) Hoàn thiện chiến lược phát triển cụm ngành logistics của thành phố.

(6) Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư và thương mại gắn với nhóm sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu tiêu biểu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

(7) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch và rút ngắn quy trình để giảm chi phí bằng với các nước trong khu vực; thực hiện các giải pháp tiếp tục cắt giảm 50% thời gian tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ hải quan; giảm 50% thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa.

(8) Phối hợp các cơ quan nghiên cứu trường, viện… đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

CHẾ HÂN/SGGP

Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Xuất Khẩu Mặt Hàng Gạo Của Việt Nam

Thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo theo hướng bền vững là một vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam. Bài viết này phân tích thực trạng tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo ở Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xuất khẩu bền vững mặt hàng gạo trong thời gian tới.

Từ khóa: Mặt hàng gạo, xuất khẩu, giải pháp.

1. Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam

Việt Nam có truyền thống trồng lúa lâu đời, lúa gạo là một lương thực quan trọng và chủ yếu nhất đối với người dân Việt Nam, lúa gạo ngoài dùng làm lương thực cho người, thức ăn cho vật nuôi còn dùng để chế biến các sản phẩm khác… Đặc biệt với một nước dân số đông tới khoảng trên 90 triệu người, việc tự sản xuất lúa là rất quan trọng. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây lúa có 2 vựa lúa chính là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Diện tích sản xuất lúa được xếp hạng 5 và xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, gạo Việt Nam đã được xuất khẩu sang gần 160 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu và cũng bước đầu thâm nhập được các thị trường có yêu cầu chất lượng cao, như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU,…

Diện tích gieo trồng các vụ lúa ở nước ta từ năm 2015 đến năm 2019 có sự thay đổi qua các năm, được thể hiện qua Bảng 1.

Nhìn chung từ năm 2015 đến năm 2019, tổng diện tích gieo trồng ở nước ta có xu hướng giảm đi, do nhiều nơi người dân chuyển đổi dần từ trồng lúa sang trồng các cây nông nghiệp (điều, cao su, tiêu,…) cho giá trị kinh tế cao hơn; một số địa phương cũng phải ưu tiên dành đất nông nghiệp cho phát triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hóa. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia.

Nhìn chung, từ năm 2015 đến năm 2019, sản lượng lúa các mùa vụ sụt giảm qua các năm, chỉ có năm 2018 là sản lượng có tăng so với năm 2017. Nguyên nhân là do diện tích gieo trồng bị thu hẹp dần, người dân dần chuyển sang loại nông sản cho thu nhập cao hơn. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam. (Bảng 2)

2. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam

– Sản lượng gạo xuất khẩu

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong tháng 12/2019, khối lượng gạo xuất khẩu ước đạt 474.000 tấn với giá trị đạt 214 triệu USD. Lũy kế năm 2019, khối lượng xuất khẩu ước đạt 6,34 triệu tấn và 2,79 tỉ USD, tăng 3,9% về khối lượng nhưng giảm 9,7% về giá trị so với cùng kì năm 2018. Về thị trường xuất khẩu, Philippines đứng vị trí thứ nhất về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam với khoảng hơn 30% thị phần. Ngoài ra, các thị trường có giá trị xuất khẩu gạo tăng mạnh như Bờ biển Ngà (+64,5%), Australia (63,9%), Hồng Kông (+43,5%), Ả Rập Saudi (+31,3) và Iraq (24,8%).

Theo Tổng cục Hải quan, trong tháng 6/2019, Việt Nam xuất khẩu 536.059 tấn gạo trị giá 280,122 triệu USD, giảm 28,1% về khối lượng và 26,7% về giá trị so với tháng 5/2019. Như vậy, lượng gạo xuất khẩu được trong 6 tháng đầu năm 2019 là 3.341.386 tấn, giá trị 1.767.679 triệu USD.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo tháng 9/2019 sụt giảm 20,4% về lượng và giảm 21,7% về kim ngạch so với tháng 8/2019, đạt 479.363 tấn, tương đương 210,94 triệu USD; tuy nhiên so với cùng tháng năm 2018 thì tăng 33,1% về lượng và tăng 21,3% về kim ngạch. Giá xuất khẩu gạo trong tháng 9/2019 đạt trung bình 440 USD/tấn, giảm 1,7% so với tháng liền kề trước đó và giảm 8,9% so với tháng 9/2018.

Biểu đồ 1 cho thấy sản lượng gạo Việt Nam xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 không có sự tăng trưởng nhiều so với năm 2018, thậm chí có tháng sản lượng xuất khẩu thấp hơn, sản lượng gạo xuất khẩu chỉ có sự tăng trưởng vượt bật trong tháng 2 so với năm 2018.

Cộng chung cả 9 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu gạo của cả nước đạt 5,06 triệu tấn, thu về 2,2 tỷ USD, tăng 3,4% về lượng, nhưng giảm 10,4% về kim ngạch so với 9 tháng đầu năm 2018; giá xuất khẩu trung bình giảm 13,4%, đạt 435,6 USD/tấn.

– Thị trường xuất khẩu chính và kim ngạch xuất khẩu

Tính chung năm 2019, cả nước xuất khẩu 6,37 triệu tấn gạo, tương đương 2,81 tỷ USD, tăng 4,1% về lượng, nhưng giảm 8,4% về kim ngạch so với năm 2018. Giá xuất khẩu đạt 440,7 USD/tấn, giảm 12,1%. Trong năm 2019, xuất khẩu gạo sang hầu hết các thị trường tăng cả về lượng và kim ngạch so với năm 2018, tuy nhiên, giá gạo xuất khẩu sang tất cả các thị trường sụt giảm so với năm trước. Trong đó, đáng chú ý có các thị trường tăng mạnh như: Senegal tăng gấp 577 lần về lượng và tăng gấp 296,8 lần về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 53.706 tấn, tương đương 16,91 triệu USD; Brunei tăng 304,5% về lượng và tăng 279,4% về kim ngạch, đạt 7.868 tấn, tương đương 3,27 triệu USD; Bỉ tăng 145% về lượng và tăng 189,8% về kim ngạch, đạt 1.278 tấn, tương đương 0,88 triệu USD; Angola tăng 257,3% về lượng và tăng 138,3% về kim ngạch, đạt 13.459 tấn, tương đương 5,05 triệu USD.

Ngược lại, một vài thị trường xuất khẩu gạo bị sụt giảm mạnh, gồm có: Indonesia giảm gần 95% cả về lượng và kim ngạch; Bangladesh giảm 76% về lượng và giảm 79,4% về kim ngạch; Thổ Nhĩ Kỳ giảm 70,9% về lượng và giảm 75,8% về kim ngạch. (Biểu đồ 2)

3. Một số đề xuất về giải pháp xuất khẩu bền vững gạo Việt Nam

3.1. Đối với Nhà nước

Trước hết, về Quy hoạch lại sản xuất lúa gạo.

Nhà nước cần có các biện pháp quy hoạch lại sản xuất lúa gạo nhằm nâng cao sản lượng gạo của cả nước đảm bảo đến năm 2030, các vùng sản xuất lúa gạo xuất khẩu ổn định, hiệu quả và bền vững, đưa gạo Việt Nam trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm.

Trên cơ sở Quyết định số 124/QĐ-TTg, ngày 02/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Qui hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành Nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần hướng dẫn các địa phương rà soát quy hoạch cho phù hợp với điều kiện cụ thể, phát triển những ngành hàng có lợi thế của địa phương.

Thông qua hệ thống khuyến nông để chuyển tải các tiến bộ kỹ thuật mới đến nông dân và hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất theo qui hoạch, sử dụng các công nghệ canh tác mới, giống mới, đảm bảo nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa.

Thực hiện đào tạo nâng cao trình độ cho người nông dân, việc này cần chú trọng ngay từ các thế hệ nông dân trẻ. Trước tiên là giáo dục nhận thức cho họ, sau đó là đào tạo về kỹ thuật, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ,… Để hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại cần phải có nông dân có trình độ. Bên cạnh đó, đào tạo các cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông để giúp nông dân áp dụng công nghệ và kĩ thuật vào sản xuất.

Phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương thông qua phát triển thương hiệu gạo vùng, địa phương đã được bảo hộ. Xây dựng và phát triển mới các thương hiệu gạo vùng, địa phương. Ưu tiên lựa chọn 3 giống gạo đặc sản tại vùng đồng bằng sông Cửu Long để hỗ trợ xây dựng, phát triển thành thương hiệu gạo vùng, địa phương hướng tới trở thành thương hiệu quốc gia, bao gồm: giống jasmine, giống lúa thơm và giống nếp đặc sản.

Thứ hai, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và chính sách trợ giá cho nông dân. Thứ ba, hợp tác với các quốc gia xuất khẩu gạo lớn để chiếm lĩnh thị trường.

Trong cơ chế thị trường, giá cả biến động theo qui luật cung cầu, đa số các mặt hàng nông sản là loại hàng hóa thường sản xuất theo thời vụ, tiêu thụ cả năm, nên có nơi, có lúc vào vụ thu hoạch tiêu thụ không kịp giá bị rớt, nhất là khi được mùa lớn. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp thu mua gạo tạm trữ xuất khẩu và có chính sách trợ giá cho nông dân.

Vấn đề của Việt Nam là không có đủ gạo có chất lượng cao để xuất khẩu, trong khi gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm rất nhiều nhưng lại rất khó xuất khẩu, do nhu cầu thị trường đối với loại gạo này thấp và phải cạnh tranh với gạo của Ấn Độ và Pakistan có giá thấp hơn nên gạo chất lượng thấp và gạo 25% tấm của Việt Nam rơi vào tình trạng ế ẩm. Đã đến lúc Việt Nam và các quốc gia xuất khẩu gạo chủ đạo trong khu vực phải hợp tác thành một khối, nhằm cạnh tranh và giành lại lợi thế trên thị trường gạo quốc tế.

Trước hết, cần ứng dụng khoa học công nghệ vào chế biến gạo xuất khẩu. Thứ hai, cần có giải pháp về phát triển thị trường. Thứ ba, cần có giải pháp về xúc tiến thương mại.

3.2. Đối với doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Một yếu tố quan trọng gây hạn chế chất lượng gạo là công nghệ sau thu hoạch. Hoàn thiện công nghệ sau thu hoạch: cần quan tâm đầu tư nâng cấp công nghệ thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch (dùng máy sấy thay cho phơi thóc bằng ánh sáng mặt trời). Tăng cường đầu tư cho công nghiệp xay xát, chế biến gạo, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong tạm trữ như sử dụng khí cacbon dioxit, nitơ, công nghệ bảo quản mát. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc cung cấp cây giống, khuyến nông, mua, bảo quản, tồn trữ, vận chuyển, bốc xếp… phải thực hiện quản lý theo tiêu chuẩn ISO, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm lúa gạo xuất khẩu.

Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các nước về xuất khẩu gạo như hiện nay và những năm tới, các doanh nghiệp Việt Nam nhất thiết phải có hệ thống các giải pháp hữu hiệu về thị trường ngoài nước. Để tăng sức cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ, không chỉ là tăng năng suất và chất lượng sản xuất trong nước để giảm chi phí, mà còn phải mở rộng và ổn định thị trường theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, đảm bảo chữ tín với khách hàng, tăng cường tiếp thị, đầu tư nghiên cứu và dự báo thị trường… Các giải pháp cụ thể như: Nghiên cứu thị trường, Lựa chọn các thị trường mục tiêu.

Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước trong vấn đề thị trường, các doanh nghiệp phải chủ động tìm bạn hàng và phương thức kinh doanh thích hợp để xâm nhập, duy trì và mở rộng chỗ đứng trên thị trường gạo thế giới. Các doanh nghiệp cần đa dạng hóa khách hàng và tận dụng cả những hợp đồng có khối lượng không lớn; đồng thời cũng có thể thiết lập quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia là những tổ chức kinh tế vững mạnh có tầm hoạt động rộng, sự am hiểu về thị trường và khả năng về vốn lớn để đảm bảo thị trường xuất khẩu ổn định.

AEC và giải pháp cho xuất khẩu gạo Việt Nam(2016), Tạp chí Vietnam Logistics Review.

Chanerin Maneechansook (2014), Value Chain of Rice Exported from Thailand to Sweden.

Bộ Công Thương (2017), Chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2017 – 2020, định hướng đến năm 2030.

Lê Thị Vân Anh (2016), Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo của Việt Nam, Tạp chí Tài chính.

Trung tâm Thông tin Phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Báo cáo thường niên ngành Lúa gạo Việt Nam năm 2018 và triển vọng 2019.

Sina Xie và Orachos Napasintuwong (2014), Review of Rice Policies in China, Thailand and Vietnam.

SolutionsTran Thi Thu Huyen to promoting sustainable Vietnam’s rice exports

Faculty of Fundamental Economics

University of Economics – Technology for Industries

Promoting sustainable rice exports is an urgent issue for Vietnam. This article analyzes the current situation of rice production and exports in Vietnam and proposes some solutions to promote sustainable Vietnam’s exports of rice products in the near future.

Keywords: Rice, export, solutions.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giải Pháp Đẩy Mạnh Xuất Khẩu Sữa trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!