Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam # Top 5 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đại hội X của đảng đã nhấn mạnh Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng; Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân.

Thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng GDP cao và ổn định vào tốp những nước đầu của thế giới. Đời sống của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2009 chúng ta đã thoát khỏi tình trạng là nước nghèo. Có được những thành tựu to lớn này là có sự đóng góp công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của tất cả các ngành các cấp trong đó có sự đóng góp to lớn của ngành nông nghiệp. Việt Nam vẫn được coi là nước nông nghiệp với khoảng trên 80% dân số sống ở nông thôn và khoảng 74,6% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Có thể nói nông nghiệp, nông thôn là bộ phận quan trọng trong nên kinh tế quốc dân của Việt Nam. Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; xuất khẩu nông sản đem lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho nền kinh tế; tạo việc làm và thu nhập cho đa số người dân. Nông thôn là môi trường sống của đa số nhân dân, nơi bảo tồn và phát triển các truyền thống văn hoá dân tộc. Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, và coi đó nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở để đảm bảo ổn định tình hình chính trị – xã hội, sự phát triển hài hoà và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước. Chính nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước mà trong những năm qua ngành nông nghiệp và nông thôn đã gặt hái được nhiều thành tựu hết sức đáng mừng. Nông nghiệp Việt Nam không những đảm bảo tự cung tự cấp mà còn trở thành một cường quốc trên thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đó ngành nông nghiệp Việt Nam cũng còn có một số mặt hạn chế cần phải khắc phục như vấn đề phát triển nông nghiệp kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chưa thức sự xử dụng hiệu quả và phát huy hết các nguồn lực ……… Do dó với mong muốn tìm hiểu thực trạng nền nông nghiệp nước nhà và đề xuất một số giải pháp để phát triển tốt hơn ngành nông nghiệp, em mạnh dạn chọn tiến hành nghiên cứu đề tài tiểu luận: ”Thực trạng và giải pháp phát triển nền nông nghiệp bền vững của Việt Nam”. Do điều kiện hạn chế về trình độ, thời gian nên trong tiểu luận sẽ có nhiều hạn chế và thiếu sót, rất mong được sự đóng góp thêm của thầy cô giáo và các bạn đọc quan tâm để em có thể hoàn thiện thêm hiểu biết của mình. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài – Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững – Đánh giá thực trạng ngành nông nghiệp Việt Nam – Đề ra một số giải pháp để phát triển nền nông nghiệp bền vững 1.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài * Phương pháp thu thập số liệu Do điều kiện hạn chế, nên chúng tôi chủ yếu tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn: * Phương pháp xử lý số liệu Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu cần có bên trên và phân tích các số liệu đó. Tuy nhiên, để phân tích được, tôi sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm trong lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn Việt Nam. Từ đó có thể nhận biết được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa Nông nghiệp nông thôn Việt Nam phát triển theo hướng Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá. Tuy nhiên, để định lượng chính xác được một số những thành tựu và hạn chế, tôi sử dụng các chương trình (tính toán, xếp hạng,…) trong phần mềm Excel. Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử lý số liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh giữa Nông nghiệp với các ngành khác cũng như giữa Nông nghiệp với tổng thể nền kinh tế. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU – Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của tương lai. – Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. (Hội đồng thế giới về môi trường và Phát triẻn của Liên hợp quốc – WCED) – Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế (đặc biệt là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (đặc biệt là tiến bộ xã hội, công bằng xã hội, giảm nghèo và giải quyết công ăn việc làm) và bảo vệ môi trường (đặc biệt là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên). – Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được yêu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm giảm khả năng thỏa mãn yêu cầu của thế hệ mai sau (Tổ chức sinh thái và môi trường Thế giới – WORD) – Nền nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản: Đảm bảo đáp ứng cầu nông sản hiện tại và duy trì được tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau (bao gồm: gìn giữ quỹ đất, nước, rừng, không khí, khí quyển và tính đa dạng sinh học….. – Nông nghiệp bền vững là phạm trù tổng hợp, vừa đảm bảo các yêu cầu về sinh thái, kỹ thuật vừa thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. PHẦN III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Vai trò của Nông nghiệp nông thôn trong nền kinh tế Việt Nam. Về nông nghiệp: “phát triển nền nông nghiệp toàn diện”, trên cơ sở “bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống”, “chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng nhanh khối lượng sản phẩm hàng hóa, nhất là hàng nông, lâm, thủy sản qua chế biến; tăng kim ngạch xuất khẩu”; và tiến tới “Xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao”. Về nông thôn: “Phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa”; “chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động ở nông thôn”; và “Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển ngày càng hiện đại”, trên cơ sở thực hiện các biện pháp:“Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn, chú trọng phát triển hệ thống thủy lợi, bảo đảm đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã, có đủ trường học, trạm y tế và nước sạch cho sinh hoạt. Bảo vệ môi trường sinh thái”; “Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn”. Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm Đổi mới vừa qua (1986-2008) đã đạt được nhiều thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ cao từ năm 1989 đến nay.  Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310 triệu USD. Đến năm 2008 vừa qua sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39 triệu tấn và đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 tỷ USD. Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua đã trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới (sau Thái Lan). GDP trong lĩnh vực nông nghiệp bình quân hàng năm tăng 3,3%. Thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải thiện hơn, tỉ lệ hộ nghèo ở nông thôn giảm bình quân 1,5% năm; bộ mặt nông thôn thay đổi theo hướng văn minh; trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều nông dân được nâng lên cao hơn trước. Nông nghiệp ngày càng có nhiều đóng góp tích cực hơn vào tiến trình phát triển, hội nhập của kinh tế cả nước vào nền kinh tế toàn cầu. Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản mới đạt 400 triệu USD. Đến năm 2007 đã đạt tới 12 tỷ USD, tăng gấp 30 lần. Nhờ có những thành tựu, kết quả đó, nông nghiệp không chỉ đã góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị-xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà nông nghiệp đã ngày càng tạo ra nhiều hơn nữa những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong những năm qua. Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình CNH-HĐH đất  nước theo định hướng XHCN đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. 3.2 Tình hình phát triển nông nghiệp – nông thôn trong thời gian vừa qua. 3.2.1 Một số thành tựu đạt được Về đánh giá thực trạng, kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân nước ta trong những năm vừa qua là khá toàn diện và to lớn, khái quát thành năm thành tựu: Một là, nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; xuất khẩu nông, lâm thủy sản tăng nhanh; trình độ khoa học – công nghệ được nâng cao hơn. Ðáng chú ý là giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng bình quân 16,8%/năm, năm 2009 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 15,4 tỷ USD chiếm 27,2% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, một số sản phẩm có vị thế cao trên thị trường thế giới, như gạo, cao-su, cà-phê, hồ tiêu, hạt điều, đồ gỗ, thủy sản. Hai là, Tiến bộ kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, công nghiệp chế biến được tiếp tục phát triển góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Chúng ta đã có những bước tiến đáng mừng trong việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong lai tạo giống, cơ khí hóa nông nghiệp và đẩy mạnh được công nghệ chế biến. Bai là, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn được tăng cường, nhất là thủy lợi, giao thông, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Nổi bật là sự quan tâm đầu tư phát triển thủy lợi theo hướng đa mục tiêu. Từ năm 2000 đến nay đã tăng nhanh cả năng lực tưới và năng lực tiêu, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho 83% diện tích gieo trồng lúa, một số cây trồng khác và cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ. Hệ thống đê sông, đê biển được củng cố, nâng cấp một bước, nhiều công trình tiêu thoát lũ và trên 1.100 cụm tuyến dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long được xây dựng và phát huy tác dụng… Bốn là, các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn tiếp tục được đổi mới; kinh tế nông thôn phát triển theo hướng tăng công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Kinh tế hộ tiếp tục phát triển theo hướng mở rộng số lượng và quy mô. Đến nay cả nước đã có khoảng trên 12 triệu hộ nông dân hoạt động trong các lĩnh vực trồng trọt, nuôi trồng thủy sản …. Nhờ chính sách dồn điền đổi thửa mà quy mô diện tích của các hộ được tập trung hơn. Kinh tế trang trại phát triển mạnh đa dạng và hiệu quả hơn. Đến 2007 cả nước đã có 113,7 nghìn trang trại, tăng so với năm 2001(52.682 trang trại) là 85,4%. Quy mô trang trại ngày càng mở rộng, góp phần tích cực vào chuyển đổi cơ cấu sản suất; là mô hình sản xuất hàng hoá có hiệu quả, góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn. Năm là, đời sống vật chất, tinh thần của cư dân các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu to lớn. Năm 2007 thu nhập bình quân đầu người ở khu vực này tăng 2,7 lần so với năm 2000, đặc biệt là về cơ bản đã xóa được đói, tỷ lệ hộ nghèo hạ xuống còn 18%, thành tựu này được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ðồng thời, các công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh, phổ cập giáo dục, văn hóa, thông tin, thể thao cũng được quan tâm và đẩy mạnh hơn. Biểu đồ 3.1: một số thành tựu trong tăng trưởng ngành nông nghiệp Việt Nam 3.3 Những thách thức trong phát triển bền vững nền nông nghiệp Việt Nam Bên cạnh những thành tựu đã đạt được như trên thì sự phát triển bền vững trong nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp rất nhiều thách thức: – Ruộng đất manh mún, không phù hợp với việc sản xuất hàng hóa lớn, tập trung. Khi mà nền nông nghiệp đã lớn mạnh đảm bảo an ninh lương thực trong nước thì mục tiêu là phải xuất khẩu nông sản phẩm, mang lại hiệu quả cao hơn cho người nông dân. Tuy nhiên, điều này cần có khu sản xuất hàng hóa tập trung, sản xuất đồng loạt theo quy trình kỹ thuật nhất định. Tuy nhiên, Việt nam có dân số làm nông nghiệp đông, đất sản xuất nông nghiệp chật hẹp. Do đó, ruộng đất manh mún nhất là ở vùng đồng bằng Sông Hồng diện tích đất nông nghiệp trung bình của mỗi hộ nông dân chỉ khoảng 0,3hecta. Vì vậy, khó khăn để áp dụng máy móc, cơ giới hóa vào sản xuất, năng suất lao động thấp. – Quá trình cơ giới hóa nông nghiệp và việc áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến diễn ra chậm. Đa số các khâu sản xuất trong nông nghiệp đều làm thủ công nên năng suất lao động trong nông nghiệp rất thấp. Điều này là do tình trạng ruộng đất manh mún gây nên, diện tích nhỏ hẹp khó có thể đưa các máy móc lớn vào sử dụng, chủ yếu chỉ có thể sử dụng các máy nhỏ gọn công suất thấp. Ngoài ra, còn do người nông dân còn thiếu vốn để đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị cho quá trình sản xuất. Họ chủ yếu sử dụng sức lao động của gia đình và đổi công theo phương châm “lấy công làm lãi” nên năng suất lao động chưa được cao. – Sự kết hợp giữa công nghiệp và nông nghiệp còn chưa tốt, nhất là công nghiệp chế biến sau thu hoạch. Chúng ta còn rất thiếu các sản phẩm công nghiệp, máy móc hiện đại phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, các loại thiết bị này chủ yếu vẫn là đi nhập khẩu, giá thành cao cản trở việc đầu tư của người nông dân. Đặc biệt công nghệ chế biến nông sản sau khi thu hoạch của chúng ta còn rất thiếu. Người nông dân chủ yếu bán các sản phẩm thô, tươi sống có giá trị thấp. Khi vào thời vụ do không có các cơ sở chế biến nên các sản phẩm của người dân bị giảm phẩm cấp nhanh, bị những người thu mua ép giá hoặc không thể tiêu thụ được. Điển hình như: Vải thiều xuất khẩu sang Trung Quốc bị ép thời gian nên đã bị hỏng rất nhiều ở cửa khẩu; lúa gạo bị rớt giá vào mùa thu hoạch …… – Thị trường nông sản bấp bênh thiếu ổn định, giá cả biến động theo hướng bất lợi cho người nông dân. Người nông dân do trình độ còn hạn chế nên vấn đề nắm bắt thông tin thị trường còn yếu, khó có khả năng bán sản phẩm của mình với giá cao. Hơn nữa, ngay cả các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản thì sự nắm bắt thông tin thị trường, luật thương mại quốc tế cũng còn yếu, do đó các sản phẩm nông sản của Việt Nam có thị trường không ổn định. Chúng ta thường bị bất lợi trong các thương vụ cạnh tranh xuất khẩu nông sản hoặc bị ép giá. Tiêu biểu như thị trường tiêu thụ cá Da trơn, cà phê, gạo …… thường xuyên xảy ra những vụ khiếu kiện, ép giá của bạn hàng. Người nông dân chính là người thiệt thòi nhất khi phải chịu nghịch lý được mùa thì nông sản rớt giá, khi mất mùa giá cao thì lại không có nông sản để bán. Điều này làm cho lợi nhuận của người nông dân thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. – Áp dụng ngày càng nhiều các giống cây trồng vật nuôi mới thay thế các giống truyền thống đã làm cho dịch bệnh, sâu bệnh ngày càng nhiều và khó khăn cho công tác phòng chống dịch. Điều này đã làm cho việc sử dụng lạm dụng các sản phẩm hóa học, thuốc trừ sâu ngày càng nhiều gây ô nhiễm môi trường, suy thoái đất, nguồn nước và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Người nông dân có trình độ còn hạn chế, chưa ý thức được việc bảo vệ môi trường nên đã sử dụng bừa bãi các sản phẩm thuốc hóa học gây ra ô nhiễm nặng nề về môi trường nông thôn. Điển hình vào các đợt sâu bệnh nở rộ thì nhà nhà đi phun thuốc trừ sâu, gây ra ô nhiêm không hhí nặng nề trên đồng ruộng. Tác hại lâu dài là các hóa chất này ngấm xuống đất, nước ngầm, người dân bị đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe. Ngày càng có nhiều căn bệnh lạ nguy hiểm xuất hiện, có những nơi đã xuất hiện “làng ung thư” …… một phần là do môi trường sống bị ô nhiễm từ hoạt động sản xuất nông nghiệp. – Tình trạng sử dụng lãng phí nguồn tài nguyên vẫn diễn ra phổ biến ở các vùng nông thôn. Người nông dân vì lợi trước mắt mà đã khai thác một cách quyệt quệ các nguồn tài nguyên quý như rừng, động thực vật ….. làm mất khả năng tái tạo tự nhiên của chúng gây mất cân bằng sinh thái. Đất đai ngày càng bị sói mòn, thoái hóa, ô nhiễm mà không được quan tâm cải tạo phục hồi một cách thỏa đáng. 3.4 Một số đề xuất giải pháp để phát triển nền nông nghiệp nước nhà bền vững – Thực hiện tốt chủ trương dồn điền đổi thửa của Đảng, Nhà nước đã đề ra. Đây là chủ trương đúng đắn để tạo ra khả năng tích tụ ruộng đất có thể áp dụng công nghệ, máy móc hiện đại vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời có thể hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Để làm được điều này, đòi hỏi các cấp các ngành cần tuyên truyền vận động nông dân hiểu được chủ trương, nâng cao ý thức cộng đồng mới có thể thực hiện được. Việc dồn điền đổi thửa phải được áp dụng linh hoạt phù hợp với từng địa phương, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải thực hiện đúng luật định. – Đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, hệ thống thủy lợi ….. phục vụ tốt cho công tác tưới tiêu, áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất và vận chuyển giao lưu bán các nông sản phẩm. Như vậy sẽ làm nâng cao được năng suất và giá trị sản phẩm. – Đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phục vụ sản xuất nông nghiệp như sản xuất máy nông nghiệp. Phát triển các cơ sở chế biến nông sản phẩm ngay tại các địa phương để chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Như vậy mới có thể nâng cao được giá trị hàng nông sản, tránh tình trạng ép giá khi được mùa. – Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phù hợp với thực tế của địa phương vào sản xuất. Nếu đưa được các loại giống cây trồng, vật nuôi thích hợp vào sản xuất sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho bà con nông dân. Những năm qua nhờ thực hiện tốt chủ trương này mà nhiều vùng canh tác lúa kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi troòng thủy sản mang lại lợi nhuận cao cho người nông dân. Một số vùng ven đô đã chuyển từ trồng thuần lúa sang trồng rau mầu, hoa, cây cảnh cung cấp cho nội đô thành phố. Nhờ đó mà có rất nhiều tấm gương nông dân làm giầu lên nhanh chóng. – Sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lao động tại địa phương. Cần có biện pháp đào tạo nâng cao trình độ và sử dụng hợp lý nguồn lao động nông thôn. Đa dạng hóa cơ cấu sản xuất kinh doanh để tạo việc làm tại chỗ vừa tạo thêm thu nhập, phân công lao động nông thôn làm cho dân cư nông thôn ổn định, giảm bớt sức ép di dân ra thành phố. Thực hiện chủ trương ”ly nông bất ly hương” bằng cách phát triển thêm các ngành nghề phụ ở nông thôn như: hàng mây tre đan, gốm sứ, đúc đồng …… vừa giữ được bản sắc làng nghề vừa thu hút đượng lao động nông nhàn tăng thêm thu nhập cho người dân. – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong phát triển các giống cây trồng vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và sức chống chịu sâu bệnh cao, không thoái hóa, không làm tổn hại đến đa dạng sinh học. Những năm vừa qua, chúng ta cũng đã nghiên cứu được nhiều loại giống cây trồng vật nuôi có giá trị tốt theo hướng này như: giống lúa chịu khô hạn cho đồng bào dân tộc vùng cao, giống lua kháng rầy (CR203) …… nhưng số lượng còn ít. Chúng ta chủ yếu vẫn phải nhập khẩu các giống chất lượng cao từ nước ngoài như: Xoài Thái Lan, các giống lúa của Trung Quốc như Khang Dân, Syngenta …… Trong thời gian tới cần có chính sách đầu tư cho các Viện nghiên cứu, các trung tâm sản xuất giống chất lượng cao để lai tạo các giống mới bản địa sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn các giống nhập ngoại. Đồng thời cần có biện pháp thẩm định, chọn lọc kỹ các giống cây trồng, vật nuôi nhập ngoại tránh hiện tượng nhập khẩu tràn lan như thời gian qua đã làm cho ”lợi bất gặp hại” như: Ốc bươu vàng, rùa tai đỏ ……. – Phát triển ngành sản xuất phân bón hữu cơ, phân sinh học, thuốc trừ sâu sinh học để thay thế cho các loại phân bón hóa học vô cơ, thuốc trừ sâu độc hại đang bị sử dụng lạm dụng như hiện nay. Việc lạm dụng các chế phẩm hóa học thời gian qua trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đất đai bị thoái hóa, mất cân bằng sinh thái. Do đó, việc sử dụng các chế phẩm sinh học hữu cơ có nguồn gốc tự nhiên sẽ là giải pháp đúng đắn để cải thiện môi trường đất, làm tăng độ phì, giảm thiểu ô nhiễm mà vẫn làm tăng năng suất và hiệu quả sử dụng. – Tổ chức tập huấn nâng cao hiểu biết, tuyên truyền cho người nông dân hiểu và áp dụng thép hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, sử dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM. Làm tốt được điều này sẽ nâng cao được ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường, góp phần làm cân bằng sinh thái trở lại. Nhiều địa phương đã áp dụng sử dụng các con thiên địch thay cho việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật như: nuôi kiến trong vườn cam để trừ sâu đục thân, hay nuôi ong mắt đỏ để trừ rệp ……. – Cần có biện pháp để bảo tồn nguồn gen quý của những giống cây trồng, vật nuôi tại địa phương. Chúng ta có rất nhiều giống cây con quý như: Lợn móng cái mắn đẻ, gà di có chất lượng thịt ngon, các giống cây ăn quả quý như Bưởi Đoan Hùng, Phúc Trạch ……. Những năm qua chúng ta đã không bảo vệ và lưu trữ tốt những gen quý này nên nhiều giống quý đã dần bị tuyệt chủng. Do đó cần có biện pháp để lưu trữ chúng, phục vụ cho việc lai tạo giống mới chất lượng cao sau này. PHẦN IV: KẾT LUẬN Nông nghiệp Việt Nam đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho cư dân nông thôn. Nông nghiệp đã trở thành ngành sản xuất hàng hoá quan trọng, tham gia ngày càng sâu sắc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nền nông nghiệp của Việt Nam đã và đang chuyển mạnh từ sản xuất theo mục tiêu số lượng sang hiệu quả và chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và bền vững. Phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn luôn là vấn đề trọng tâm mà Đảng và Chính phủ quan tâm và đã được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách như Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá IV), Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) được triển khai cùng các chỉ thị, nghị quyết khác của các Đại hội và Hội nghị Trung ương của các khoá V, VI, VII đã đưa đến những thành tựu to lớn trong nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đại hội X của đảng đã nhấn mạnh Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng; Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Cũng là vấn đề “Tam nông” trong giai đoạn hiện nay có nhiều Hội thảo quy tụ rất nhiều các nhà khoa học, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực Nông nghiệp-Nông thôn chúng ta có quyền hy vọng sẽ có những chính sách và giải pháp thiết thực và phù hợp nhằm đưa Nông nghiệp-nông thôn Việt Nam phát triển hài hoà và phù hợp với yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng trên những thành công to lớn đã đạt được và đứng trước những thách thức đang gặp phải của việc phát triển nông nghiệp bền vững nền nông nghiệp nước nhà thì cần có những biện pháp, đường lối phát triển phù hợp để cân đối giữa phát triển và tính bền vững. Có như vậy mới làm cho nông nghiệp phát triển ổn định lâu dài, thực hiện thành công xây dựng bộ mặt nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết 26 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đề ra. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình Nguyên lý kinh tế nông nghiệp, Đỗ Kim Chung, NXB nông nghiệp 2009 2. Đề án “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn” 3. Phát triển và hội nhập: Phát triển Nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ đổi mới, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn, Báo Nông nghiệp 4. Website của Bộ Nông nghiệp và PTNT: www.mard.gov.vn 5. Website của Tổng cục thống kê: 6. Theo vneconomy, chính sách nào để phát triển Nông thôn, nâng cao thu nhập nông dân, Châu Văn Ly

Các file đính kèm theo tài liệu này:

tieu_luan_phat_trien_ben_vung_non_nghiep_8024.docx

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

(HNM) – Cùng với việc phát triển các chuỗi sản xuất, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao…, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã chú trọng quảng bá, kết nối, xúc tiến tiêu thụ nông sản. Đây là một trong những giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững.

Ít có đơn vị nào như Hợp tác xã Rau an toàn Thụy Hương (xã Thụy Hương, huyện Chương Mỹ), có 100% sản phẩm rau xanh sản xuất ra đều được các trường học, doanh nghiệp, siêu thị ký hợp đồng thu mua. Chủ tịch Hội Nông dân xã Thụy Hương Nguyễn Thị Hường chia sẻ: Hợp tác xã có 20ha trồng rau theo tiêu chuẩn VietGAP, trong đó có 5.000m2 trồng trong nhà lưới, nhà kính và ứng dụng công nghệ cao… Trước đây, chỉ 20% lượng rau của hợp tác xã sản xuất ra được tiêu thụ qua đơn đặt hàng của một số trường học. Nhưng, kể từ khi được ngành Nông nghiệp Hà Nội hỗ trợ, quảng bá, giới thiệu…, lượng rau tiêu thụ qua hợp đồng của hợp tác xã tăng vọt, đến nay không còn phải lo đầu ra.

Tương tự, xã viên Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Tam Hưng (xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai) không còn phải lo đầu ra cho sản phẩm gạo thơm Bối Khê. Giám đốc Hợp tác xã Kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Tam Hưng Đỗ Văn Kiên cho hay: Chuỗi lúa gạo Tam Hưng đang cung ứng cho thị trường hơn 200 tấn gạo chất lượng cao mỗi năm. Toàn bộ sản phẩm đều được doanh nghiệp đặt hàng thu mua. Để có được kết quả này, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã giúp hợp tác xã quy trình sản xuất, quảng bá, kết nối với doanh nghiệp, qua đó sản phẩm đến được với người tiêu dùng qua kênh bán hàng uy tín.

Thực tế, thông qua quảng bá, xúc tiến, nông sản đã đến gần hơn với người tiêu dùng là một kết quả tất yếu, tuy nhiên, việc vận dụng quảng bá, kết nối ra sao lại là lộ trình cần được tính toán, sắp xếp hài hòa. Về vấn đề này, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Tạ Văn Tường cho rằng: Sản phẩm được chọn để quảng bá, xúc tiến… phải là những sản phẩm chất lượng, có thương hiệu. Mặt khác, nông dân sản xuất phải theo nhu cầu thị trường, có kế hoạch sản xuất, quảng bá và xúc tiến thương mại cụ thể… Thời gian qua, ngành Nông nghiệp Hà Nội đã tích cực phối hợp với các địa phương, sở, ngành quảng bá, kết nối nông sản…, song đến nay mới có khoảng 15% lượng nông sản an toàn được tiêu thụ thông qua liên kết.

Ở góc độ doanh nghiệp tiêu thụ nông sản, Giám đốc Công ty Big Green Nguyễn Tiến Hưng khẳng định: Sản xuất nông sản an toàn, chất lượng, có chứng nhận, thương hiệu sẽ không lo đầu ra. Tiếc rằng, việc này thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua đã gặp một số khó khăn, vướng mắc. Đây cũng là lý do vì sao dù sản lượng sản xuất rau xanh của Hà Nội đạt gần 600.000 tấn/năm, đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu của người tiêu dùng Thủ đô, 40% còn lại cung cấp từ các địa phương khác, nhưng sản phẩm rau của thành phố vẫn khó tiêu thụ.

Để thúc đẩy kết nối tiêu thụ nông sản, ngoài việc duy trì 80 chuỗi liên kết nông sản an toàn từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, ngành Nông nghiệp Hà Nội sẽ tiếp tục phát triển các chuỗi sản xuất tiêu thụ nông sản, đồng thời xúc tiến tiêu thụ nông sản thông qua chợ nông sản điện tử, sàn giao dịch nông sản an toàn… Ngoài duy trì liên kết, hợp tác với 34 tỉnh, thành phố có nguồn cung nông sản lớn, bảo đảm an toàn, Sở NN&PTNT Hà Nội tiếp tục phối hợp chặt chẽ với 21 tỉnh, thành phố trong Ban Điều phối chương trình phát triển chuỗi cung ứng rau, thịt an toàn cho thành phố Hà Nội trong tiêu thụ nông sản, thực phẩm; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia hội chợ nông sản thực phẩm an toàn tại các địa phương trong toàn quốc. Sở cũng sẽ xem xét tham mưu thành phố tăng nguồn kinh phí, có nhiều chính sách hỗ trợ người sản xuất, doanh nghiệp trong quảng bá, kết nối sản phẩm nông sản…

Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Xanh Bền Vững

(TN&MT) – Tại Hội thảo “Phát triển và nhân rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” diễn ra ngày 26/11, các đại biểu đều có chung nhận định, sản xuất nông nghiệp xanh để phát triển nông nghiệp bền vững là giải pháp hiệu quả trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng thu nhập cho người dân… “Quang cảnh Hội thảo “phát triển, nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh” – Ảnh: Lê Hùng Thách thức từ BĐKH, nước biển dâng…

ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp ĐBSCL chiếm hơn 50% sản lượng lúa hàng hóa, cung ứng 70% lượng trái cây, 52% sản lượng thủy sản, đặc biệt cung cấp đến 80% lượng tôm xuất khẩu và đóng góp khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại ĐBSCL đang gặp rất nhiều rủi ro, bấp bênh và chịu sự tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng…

Nhiều đại biểu cho rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp xanh là yêu cầu tất yếu nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng nhanh, hiệu quả, bền vững. Thực tế thời gian qua, các địa phương trong vùng đã tích cực triển khai đồng loạt nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp xanh, sạch, như: mô hình “ruộng lúa bờ hoa”, “ba giảm ba tăng”, mô hình “cánh đồng mẫu lớn”, mô hình phát triển sản xuất nông nghiệp xanh của Hợp tác xã Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim (Tiền Giang), Hợp tác xã Bưởi Năm Roi (tỉnh Vĩnh Long), sản xuất rau các loại an toàn theo hường GAP tại xã Tân Đông, Gò Công Đông (Tiền Giang), mô hình mẫu sử dụng khí sinh học trong chăn nuôi heo… đã mang lại hiệu quả thiết thực.

Hậu Giang triển khai trồng hoa ven đường, áp dụng mô hình công nghệ sinh thái, chuẩn bị sản xuất vụ Đông xuân 2013-2014. Ảnh: Hùng Long.

Thế nhưng việc nhân rộng mô hình gặp rất nhiều khó khăn. Sản xuất nông nghiệp tại vùng ĐBSCL hiện vẫn còn dựa nhiều vào việc khai thác các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên mà chưa bền vững về môi trường. Giá bán nông sản sạch không cao hơn mô hình sản xuất truyền thống, khiến nông dân không mặn mà tham gia mô hình.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT – Trần Thanh Nam, cho rằng: “Sản xuất nông nghiệp thường xuyên gặp rủi ro, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và tổ chức sản xuất nhỏ lẻ, liên kết “4 nhà” yếu kém, khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhân rộng mô hình. Một số nông dân tham gia mô hình sản xuất điểm được hỗ trợ chi phí sản xuất, khi mô hình kết thúc, thì họ không quan tâm duy trì mô hình, có khi quay về kiểu sản xuất truyền thống. Nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp cũng là thách thức lớn”.

Theo các đại biểu đại diện các địa phương trong vùng ĐBSCL, việc nhân rộng các mô hình rất cần được sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, ngành trung ương và sự vào cuộc tích cực hơn của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, trước thách thức của biến đổi khí hậu, xu thế toàn cầu hóa, nông sản sẽ chật vật trong cuộc cạnh tranh, do đó yêu cầu bức bách đặt ra cho người nông dân ĐBSCL hiệ nay là phải đổi mới tư duy sản xuất, năng động hội nhập.

“Cách mạng xanh” trong nông nghiệp

Theo Bộ NN& PTNT, đối với ngành nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp xanh sạch là việc áp dụng đồng bộ các quy trình, công nghệ sử dụng hợp lý, tiết kiệm vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Qua đó, giảm phát thải khí nhà kính thông qua phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao tính cạnh tranh của nông sản, phát triển công nghệ xử lý và tái sử dụng phụ phẩm, phế thải… đảm bảo bền vững cho nền kinh tế, xã hội và môi trường, góp phần vào sự phát triển kinh tế xanh.

“Ngày nay, nông nghiệp xanh không chỉ tạo ra những sản phẩm sạch, mà còn là yếu tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế- xã hội. Đây là hướng đi bền vững và ưu việt nhất để ngành nông nghiệp nước ta vừa đảm bảo an ninh lương thực,vừa tăng cường xuất khẩu nông sản ra thế giới. Hiện sản xuất nông nghiệp xanh hay nông nghiệp sinh thái, phòng trừ dịch hại tổng hợp theo hướng GAP… được nhiều tỉnh, thành quan tâm thực hiện. Đây là con đường tạo ra nông sản an toàn, đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng và giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu”- ông Phan Anh Vũ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long khẳng định. Song, phát triển nông nghiệp xanh cần thực hiện rất nhiều giải pháp đồng bộ.

Thu hoạch lúa ở ĐBSCL – Ảnh: Hoài Thanh

Theo các nhà khoa học, trong sản xuất nông nghiệp xanh cần chú ý đến giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. chúng tôi Nguyễn Văn Sánh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL – Đại học Cần Thơ, cho biết: Trong canh tác lúa, giảm khí thải nhà kính là thực thi chính sách kép, vì giảm yếu tố đầu vào mà hiện nay nông dân quản lý nước không tốt và sử dụng dư thừa về mật độ sạ, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… vừa làm tăng chi phí vừa làm tăng khí gây hiệu ứng nhà kính. Do đó việc áp dụng mô hình “1 phải 6 giảm” sẽ giảm chi phí sản xuất trung bình từ 5- 10% nhờ cắt giảm được 40 đến 50% giống, giảm từ 15 đến 30% lượng phân, giảm 20 đến 40% lượng nước tưới, tăng năng xuất từ 5 đến 10%, lợi nhuận mang lại cho nông dân cao hơn khoảng 10% và các đồng lợi ích cho môi trường như giảm lượng khí thải, giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước, môi trường.

Nhiều đại biểu kiến nghị: cần đánh giá thành tựu, hạn chế của các mô hình sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh mà vùng ĐBSCL đã phát triển thời gian qua để có hướng đi cụ thể thời gian tới. Bởi, hiện tại lực lượng sản xuất (số lượng các trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp, khoa học công nghệ…) liên tục phát triển trong khi các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp lại chưa có sự đổi mới tương xứng; nhu cầu liên kết sản xuất cao, nhưng việc triển khai vẫn chậm, qui mô sản xuất manh mún, diện tích đất sản xuất bình quân trên nông hộ nhỏ. Vai trò của quy hoạch và chiến lược phát triển vùng chưa rõ ràng. Các mối liên kết dọc và ngành hình thành và phát triển khó khăn. Liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân để tạo ra chuỗi giá trị nông sản hàng hóa lớn còn lòng lẻo, không gắn kết được lợi ích và trách nhiệm các bên tham gia…

Những khó khăn này cần được giải quyết rốt ráo mới có thể tạo ra “cách mạng xanh” cho ngành nông nghiệp. Và để giải quyết hiệu quả, nhất thiết phải có sự nhập cuộc tích cực của các bộ, ngành Trung ương cùng các địa phương, doanh nghiệp và người nông dân.

Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Đất Nước

A. LỜI MỞ ĐẦU Mục tiêu tổng quát của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2006-2010 của Việt Nam là “đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất văn hoá, tinh thần của nhân dân. Đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2010. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.” Muốn nước ta đứng vững trên con đường phát triển thì cần phải hiểu về phát triển bền vững.Vì vậy trong khuôn khổ bài viết, em xin trình bày về “thực trạng và giải pháp phát triển bền vững đất nước”. Từ đó đưa ra những thành tựu, hạn chế và giải pháp khắc phục. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. ĐOÀN QUANG THỌ đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và thông tin có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được thầy giáo chỉ bảo. B. NỘI DUNG Phần I: Những lí luận về phát triển bền vững I. Định nghĩa về phát triển bền vững Định nghĩa : Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai. Phát triển bền vững đang là bài toán khó và là thách thức cho mọi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế,việc ựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách đảm bảo phát triển bền vững luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi người trong bước đường phát triển. Các nguyên tắc xây dựng một xã hội phát triển bền vững(theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc: +) Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng. +) Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người. +) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất. +) Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được. +) Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất. +) Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân. +) Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình. +) Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ. +) Xây dựng một khối liên minh toàn cầu. Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. II.Hậu quả của sự phát triển kinh tế đối với phát triển bền vững 1. Tăng trưởng kinh tế quá nhanh làm cho lạm phát tăng, bất bình đẳng xã hội tăng -Có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát, vì để tăng trưởng thì phải tăng đầu tư, mà để tăng đầu tư thì phải tăng cung tiền, tăng tín dụng. Lạm phát ở nước ta đang có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây. Lạm phát trung bình năm 2005 là 8,3%, 2006 là 7,5% và 11,3% năm 2007 lạm phát trung bình của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực. -Như đã nói ở trên, tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ dẫn đến lạm phát. Khi có lạm phát tức là giá cả sẽ tăng lên.Giá cả tăng sẽ tác động đến mọi người dân nhưng tác động mạnh nhất là công chức nhà nước và người nghèo. Trong nhóm người nghèo bị tác động mạnh ở Việt Nam có một phần rất đông là nông dân, sản xuất nông nghiệp. Những người nghèo thì hầu hết thu nhập dùng cho chi tiêu hàng ngày, có bao nhiêu phải chi hết, thậm chí không đủ mà chi. Vì vậy, giá cả lên sẽ khiến cuộc sống vốn eo hẹp của nhóm đối tượng này càng eo hẹp và khó khăn hơn. Nếu giá cả càng tăng thì càng tác động tiêu cực đến người nghèo và quá trình đó sẽ làm phân hóa giàu nghèo càng mạnh hơn. 2. Tăng trưởng kinh tế làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái bị huỷ hoại – Sự phát triển trong những năm qua đã làm kiệt quệ tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, tổn hại đến môi trường- cơ sở tồn tại của chính bản thân con người. Trong khi loài người chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học thì cũng là lúc phải đối mặt với nhiều thách thức từ môi trường; con người luôn bị đặt vào những tình huống bất ngờ không lường trước được : thiên tai, lũ lụt, hạn hán… – Sự thay đổi khí hậu toàn cầu; tình trạng ô nhiễm các nguồn nước; hiện tương sa mạc hoá; sự xói mòn đất đai; sự suy thoái về rừng; sự tuyệt chủng của các loài sinh vật… đã va đang trở thành mối đe doạ trực tiếp đến sự sống trên trái đất. Gần 1/2 đất đai trên thế giới đã bị biến đổi bởi con người. Người ta gọi sự xói mòn đất đai nhanh chóng là “cuộc khủng hoảng thầm lặng của hành tinh”, là mối đe doạ to lớn đối với sự sống trên trái đất. Tại nước ta, môi trường tiếp tục bị ô nhiễm và xuống cấp, có nơi rất nghiêm trọng. Đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; tài nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không được bảo đảm…. Nhiều vấn đề ô nhiễm mới nảy sinh do quá trình phát triển công nghiệp và đô thị hoá. Sự tập trung và gia tăng số lượng dân cư lớn ở đô thị, tiến trình phát triển kinh tế dựa vào khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên… khiến cho ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh trở thành vấn đề khá nghiêm trọng. Trong khi đó, việc thi hành Luật Bảo vệ môi trường chưa thực sự nghiêm minh, có nơi, có lúc còn buông lỏng. Ý thức tự giác của người dân về bảo vệ và giữ gìn môi trường chưa thực sự trở thành thói quen. Nhiều người còn có suy nghĩ giản đơn rằng vấn đề môi trường chưa cấp bách, trước mắt như vân đề cơm áo gạo tiền hàng ngày; bảo vệ môi trường là vấn đề chung của cả nước, cả xã hội, là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, chứ không phải là trách nhiệm của người dân… Chính sự thờ ơ, thái độ “vô cảm” của một bộ phận người dân đối với môi trường đã tiếp tay cho việc tàn phá môi trường. Phần II: Thành tựu đạt được và những hạn chế phát triển bền vững ở nước ta I. Quan điểm chỉ đạo Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sự hợp tác của các cơ quan, ban, ngành trong nước và đặc biệt với sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế đã tiến hành thực hiện nhiều công việc quan trọng nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao nhận thức của nhân dân, nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ. Ngày 27/9/2005 Thủ tướng Chính phủ kí quyết định thành lập Hội đồng phát triển bền vững quốc gia có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo thống nhất việc thực hiện trong cả nước chiến lược phát triển bền vững. Phát triển bền vững trở thành đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta do vậy Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam mà còn có liên đới trách nhiệm với sự phát triển bền vững chung của toàn cầu. Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, những năm vừa qua đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu. Nhờ đó, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước. II.Thành tựu và những hạn chế của phát triển bền vững ở nước ta 1.Thành tựu đạt được của phát triển bền vững ở nước ta 1.1. Nền kinh tế nước ta đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định Nhiều năm liên tục, kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. GDP tăng bình quân trên 7% năm, năm 2006 là 8,2% và năm 2007 là 8,5%. Việt Nam cũng đã chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới. Hiện nay đã có gần 80 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với gần 8.000 dự án và tổng số vốn đăng ký trên 70 tỷ USD, năm 2006 Việt Nam đã thu hút được 10,2 tỷ USD vốn FDI, tăng 50% so với 2005.Năm 2007, con số này là 20,3 tỉ USD. Bảng : Tăng trưởng GDP từ năm 1991-2007 năm 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 GDP (%) 8.7 8.08 8.83 9.54 9.34 8.15 5.76 4.77 6.79 6.89 7.08 7.26 7.96 8.43 8.17 8.5 1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế – xã hội theo hướng CNH, HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới . Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông – lâm – thuỷ sản; tăng tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đồng thời cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu. Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm 2003: 3,2 tỷ USD; 2004: 4,5 tỷ USD; 2005: 6,8 tỷ USD; 2006: 10,2 tỷ USD; năm 2007 đã đạt 20,3tỷ USD. Cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo hướng tích cực. Lực lượng lao động trong ngành nông-lâm-thuỷ sản đã giảm đáng kể. Tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh. 1.3 Tăng trưởng và phát triển kinh tế đã đưa đến nâng cao trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư. Để thấy rõ một cách chi tiết về trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư Việt Nam đã ngày càng nâng cao hơn, nên xem xét một biểu hiện của nước ta trong một vài năm qua: +) Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện. Thu nhập GDP bình quân/người của cả nước đã tăng trong những năm gần đây. +)Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam tăng từ 65,2 tuổi năm 1995 lên 70 tuổi năm 2003 và lên 71,5 tuổi năm 2005. +)Công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng có nhiều tiến bộ. +) Đã ngăn chặn có hiệu quả và khắc phục nhanh một số bệnh dịch mới như SARS, cúm gia cầm, được thế giới đánh giá cao; đẩy mạnh phòng chống HIV/AIDS. +) Sự nghiệp phát triển giáo dục – tạo có bước phát triển mạnh. Cơ sở vật chất các cơ sở giáo dục và đào tạo ở các cấp được tăng cường. Nhiều tỉnh đã xây dựng được trường chuẩn quốc gia. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo tăng lên. +) Đời sống văn hoá không ngừng nâng cao. 1.4 Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm, gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Công tác xoá đói giảm nghèo đã đạt kết quả rất khả quan, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Là một trong những quốc gia có kết quả giảm tỷ lệ đói nghèo tốt nhất. Theo Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại kỳ họp thứ 12, Quốc hội khoá XII, đã có gần 4 triệu hộ nghèo và 1,7 triệu người có hoàn có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn thuộc 10 chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 18% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ xoá đói nghèo đến năm 2015 trước 10 năm. 2. Những hạn chế 2.1 Tăng trưởng kinh tế vẫn chưa vững chắc: Tăng trưởng kinh tế đạt trong những năm gần đây là một thành tựu lớn, nhưng tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào các yếu tố về vốn, lao động, khai thác tài nguyên thiên nhiên… Bên cạnh đó, công nghiệp chế biến nông sản và chế tạo tư liệu sản xuất còn kém, chủ yếu vẫn là lắp ráp, gia công. Các yếu tố đem lại giá trị gia tăng cao như khoa học, công nghệ chưa được khai thác và phát huy. Quy mô đầu tư ngày càng tăng, thể hiện ở tỷ lệ đầu tư trên GDP ngày càng cao, nhưng hiệu quả đầu tư, trình độ của nền kinh tế và chất lượng tăng trưởng kinh tế vẫn còn ở mức thấp, chưa tương xứng với đầu tư. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của nền kinh tế còn thấp, lao động có tay nghề cao vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong lực lượng lao động. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế còn dưới mức khả năng phát triển của đất nước,chất lượng phát triển còn thấp, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu . Tăng trưởng kinh tế những năm qua chưa phát huy được hết các nhân tố theo chiều sâu. Năng lực cạnh tranh, năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế còn thấp. Chưa kết hợp thật tốt giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và chăm lo đúng mức cho sự phát triển của con người, bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái. Đóng góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn và lao động, yếu tố về tiến bộ khoa học và công nghệ tuy có tăng lên nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ. Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Một số công trình xây dựng lớn, quan trọng quốc gia không hoàn thành theo kế hoạch. Năng lực sản xuất một số ngành, sản phẩm quan trọng, thiết yếu tăng chậm. 2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đồng đều, chưa phát huy thế mạnh từng ngành, từng sản phẩm. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn triển khai còn chậm và thiếu tính bền vững. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp và chưa có chuyển biến rõ rệt. Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa phát huy được vai trò đầu kéo kinh tế vùng. Sự phát triển của các thành phần kinh tế chưa đồng đều. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp so với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tê. 2.3. Tăng trưởng kinh tế nhanh làm ô nhiễm môi trường Theo dự báo,năm 2010 tại TP.Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đều sử dụng hết diện tích thì sẽ thải 3500tấn rác/ngày gấp 29 lần năm 2005. So với các nước trong khu vực sản xuất công nghiệp của nước ta có quy mô còn rất nhỏ bé nên sự tác động gây ô nhiễm môi trường phần lớn đang ở phạm vi hạn chế gây suy thoái cục bộ trong ranh giới của vùng hẹp. Tuy vậy, với tốc độ tăng trưởng công nghiệp hàng năm của chúng ta hiện nay, để bảo đảm phát triển bền vững chúng ta đang đứng ở thời điểm không thể trì hoãn, bắt buộc phải xác lập các bước đi thích hợp, thực hiện các biện pháp giải quyết và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Phần III: Giải pháp phát triển bền vững ở nước ta 1. Về kinh tế 1.1. Ngành công nghiệp +) Tập trung phát triển mạnh những ngành có lợi thế so sánh để tạo tích luỹ, thu hút lao động xã hội, bao gồm các ngành sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, lắp ráp cơ điện tử, chế biến nông – lâm – thủy – hải sản, ngành công nghệ cao như công nghệ điện tử tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới…; kêu gọi đầu tư nước ngoài vào những ngành công nghiệp cần nhiều vốn, dựa vào nguồn tài nguyên như dầu khí, luyện kim,… +) Khuyến khích xuất khẩu, mở rộng các hình thức hợp tác quốc tế, đồng thời nhận thêm các nguồn vốn ODA và FDI, tạo môi trường cho người lao động tiếp xúc với công nghệ hiện đại, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý, góp phần nâng cao chất lượng và năng lực khai thác nguồn nhân lực. +) Từng bước tái cơ cấu công nghiệp theo hướng giảm dần tỷ trọng khu vực nhà nước, tăng dần khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài: chú trọng phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ; hình thành các tập đoàn công nghiệp đa thành phần, đa ngành nghề để phối hợp sức mạnh và lợi thế của các thành phần, các ngành nghề, đồng thời làm đối tác cho các hoạt động kinh tế quốc tế, trụ cột cho nền kinh tế quốc dân. +) Thực hiện cơ cấu phân bố công nghiệp theo hướng phát triển và dịch chuyển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về nông thôn, hình thành công nghiệp nông thôn, đảm bảo phát triển cân đối; chú trọng phát triển công nghiệp theo các tuyến giao thông (cảng biển, trục giao thông, trục đường thủy, bộ) để phát huy các lợi thế. +) Chú trọng đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp nhằm nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp; giảm ô nhiễm môi trường. +) Quản lý KH&CN, nâng cao vai trò của KHCN trong việc đổi mới, hiện đại hóa công nghệ của các ngành, đồng thời tăng cường tiếp nhận, làm chủ và phát triển các công nghệ mới, hiện đại. +) Tăng cường công tác vệ sinh an toàn, bảo hộ lao động, phòng chống cháy nổ, đặc biệt trong ngành khai thác mỏ; khuyến khích áp dụng các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9.000; ISO 14.000; SA 8.000, HACCP; +) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững trong ngành Công nghiệp. 1.2. Ngành nông nghiệp Chủ trương phát triển nền nông nghiệp mạnh, bền vững. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh công tác vận động, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục cùng với việc cung cấp các thông tin cập nhật nhu cầu của thị trường về mặt hàng nông sản, cả về số lượng, chất lượng và chủng loại, mẫu mã… nhằm tạo bước chuyển tiếp theo trong tư duy, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững về kinh tế, xã hội và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường. Triển khai và thực hiện hiệu quả công tác quy hoạch. Thông qua công tác quy hoạch để phát hiện và nắm bắt chính xác tiềm năng, thế mạnh của từng vùng sinh thái. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch cụ thể phát triển ngành gì, mặt hàng nông sản nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao, ở vùng sinh thái nào… để vừa thu được lợi nhuận cao, vừa bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và ổn định xã hội. Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo nền tảng vững chắc để phát triển nông nghiệp bền vững, tập trung vào các công tác sau: +) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng: đường giao thông, công trình thủy lợi, mạng lưới điện, nhà xưởng để lưu kho, bảo quản, chế biến… +) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại; giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi, phát triển nghề rừng, nghề biển…Đồng thời, đẩy mạnh chương trình nâng cao năng suất đất đai, sử dụng hợp lý nguồn nước; kết hợp giữa nông, lâm và ngư nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng nhằm bảo vệ tài nguyên đất, nước và khí hậu. +) Phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa, nhất là những mặt hàng có lợi thế: cà phê, cao su, chè, các sản phẩm chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản. +) Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học – công nghệ vào sản xuất, nuôi trồng và giữ gìn các nguồn gen quý hiếm. Gắn liền với phát triển phân bón hữu cơ phải sản xuất phân bón sinh học, phân bón phân giải chậm phục vụ phát triển nền nông nghiệp sinh thái. +) Thực hiện đa dạng hóa cơ cấu sản xuất kinh doanh nông nghiệp, phát triển ngành nghề mới, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của dân cư, giảm sức ép về lao động cũng như di dân tự do. +) Củng cố và hoàn thiện hệ thống dịch vụ, đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ nông sản phẩm. Thực hiện đồng bộ và hiệu quả chính sách điều tiết vĩ mô phục vụ phát triển nền nông nghiệp bền vững. Trước mắt, cần thực hiện tốt chính sách đất đai, chính sách tài chính – tín dụng, chính sách thuế, chính sách lao động – việc làm và di dân, chính sách phát triển thị trường tiêu thụ hàng nông sản. Năm là, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống luật pháp về phát triển nông nghiệp bền vững. 1.3. Ngành thương mại và dịch vụ Phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, hướng vào đáp ứng nhu cầu sản xuất và nâng cao mức sống dân cư: +) Phát triển mạnh thị trường trong nước, các trung tâm thương mại ở thành thị, mở rộng mạng lưới thương nghiệp trong tất cả mọi thành phần kinh tế ở cả vùng ven đô, vùng nông thôn đồng bằng, miền núi, ven biển và hải đảo +) Tạo liên kết chặt chẽ giữa các vùng trong nước, tăng tỷ trọng thương mại trong nước, chú trọng kích cầu trong nước để bù đắp lại thị trường bên ngoài bị thu hẹp. +) Phát triển mạnh ngành du lịch, nâng cao chất lượng và nguồn cung cấp dịch vụ, hàng hoá cho nhu cầu của khách du lịch. +) Phát triển mạnh dịch vụ vận tải, nhanh chóng nâng cao giá trị ngành vận tải trong lĩnh vực dịch vụ; trang bị thêm phương tiện vận tải các loại…tăng năng lực vận tải đường sắt, đường bộ, đường sông, bảo đảm vận tải hàng hoá thiết yếu lên tận vùng sâu, vùng xa… +) Phát triển dịch vụ bưu chính, viễn thông, tin học, tiếp tục thực hiện lộ trình giảm giá cước bưu chính viễn thông phù hợp với yêu cầu hội nhập và sự phát triển công nghệ thông tin, kích thích sức mua của khách hàng; thu hút các nguồn vốn để hoàn thiện và xây dựng mới cơ sở vật chất… 2. Tăng cường bảo vệ tài nguyên môi trường, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường. Giải quyết các vấn đề sau: -Chống thoái hóa, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất. – Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm bền vững tài nguyên khoáng sản. – Bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước. – Bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển. – Bảo vệ và phát triển rừng. – Giảm ô nhiễm không khí ở các đô thị và khu công nghiệp. – Quản lý có hiệu quả chất thải rắn và chất thải nguy hại. – Bảo tồn đa dạng sinh học. – Giảm nhẹ biến đổi khí hậu và hạn chế những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, góp phần chống thiên tai . – Thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ môi trường, đầu tư mới và cải tạo các hệ thống xử lý chất thải, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; chú trọng áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn; nghiên cứu hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường, ưu tiên ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ thân thiện với môi trường. 3. Phát triển xã hội: -Xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo,đồng thời khắc phục tình trạng tái nghèo trên cả nước. -Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. -Tăng cho phúc lợi xã hội, xây dựng thể chế xã hội. – Quan tâm chăm lo đời sống, sức khoẻ, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. C. KẾT LUẬN Từ những phân tích trên ta thấy được thực trạng vấn đề phát triển bền vững ở nước ta hiện nay. Phát triển bền vững là thách thức, là bài toán khó không chỉ với nước ta mà còn với mọi quốc gia trên thế giới. Trong tình hiện nay thì phát triển bền vững lại càng trở thành vấn đề cấp thiết với kinh tế ,xã hội của mọi quốc gia và đặc biệt với môi trường, khí hậu toàn cầu . Vì thế, để có được một nền kinh tế phát triển bền vững phải kết hợp nhiều yếu tố như môi trường, có cơ cấu kinh tế một cách hợp lí,và đặc biệt là phải quan tâm đến việc cải thiện đời sống cho người dân. TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình kinh tế phát triển Giáo trình kinh tế môi trường Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 Văn kiện đại hội X_chương trình nghị sự 21 Trang web: và một số trang web khác.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Nền Nông Nghiệp Bền Vững Của Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!