Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học # Top 4 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài: Nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ  trong trường học

LỜI NÓI ĐẦU

Công việc của người làm công tác Văn thư – Lưu trữ trông bên ngoài tưởng chừng như đơn giản là “Đánh máy” và bảo quản hồ sơ, nhưng nó có những yêu cầu thật sự quan trọng mà chỉ có ai làm công tác Văn thư – Lưu trữ mới cảm nhận hết được. Điều đó, khiến cho tôi làm công tác Văn thư – Lưu trữ rất tự hào về vai trò, vị trí công việc mình làm đã và đang đảm nhiệm;

Trong hoạt động của các cơ quan thì công tác Văn thư – Lưu trữ không thể thiếu được, là một trong những công tác quan trọng của tất cả các cơ quan, tổ chức, chính trị – xã hội dù lớn hay nhỏ, muốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đều phải sử dụng văn bản, tài liệu để phổ biến các chủ trương, chính sách, phản ánh tình hình lên cấp trên, trao đổi, liên hệ, phối hợp công tác, ghi lại những sự kiện, hiện tượng xảy ra trong hoạt động hàng ngày;

Làm tốt công tác Văn thư là bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng công tác của của các cơ quan. Thông tin càng đầy đủ, chính xác và kịp thời thì hoạt động của các cơ quan càng đạt hiệu quả cao, bởi lẽ thông tin phục vụ quản lý được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau. Trong đó nguồn thông tin chủ yếu nhất, chính xác nhất là thông tin từ văn bản vì văn bản là phương tiện chứa đựng, truyền đạt, phổ biến thông tin mang tính pháplý;

Nếu tài liệu, văn bản gửi tới cơ quan, đơn vị được đưa đến các bộ phận giải quyết công việc kịp thời và nhanh chóng thì hoạt động của nhà trường càng đạt hiệu quả cao, tiến độ hoàn thành công việc không bị chậm trễ.Nhận thức được tầm quan trọng của công tác Văn thư – Lưu trữ. Cho nên tôi đã chọn nội dung “Nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ  trong trường học” làm đề tài. Trong đề tài này tôi sẽ tập trung sâu vào lĩnh vực văn thưlưu trữ trong nhà trường. Mong rằng một số ít kinh nghiệm này sẽ được phát huy và bổ sung thêm trong công tác văn thư hiện nay đang được Nhà nước và các cơ quan quan tâm và chú trọng nhất.

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài:

Qua nhiều năm thực hiện nhiệm vụ công tác văn thư lưu trữ trong nhà trường, tôi nhận thấy công tác văn thư là công tác nhằm đảm bảo thông tin văn bản, phục vụ hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan, tổ chức. Nội dung công tác này bao gồm các việc về soạn thảo, ban hành văn bản; quản lý văn bản và các tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan; lập hồ sơ hiện hành, giao nộp hồ sơ vào lưu trữ; và quản lý, sử dụng con dấu trong văn thư.

Công tác lưu trữ là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ quan, tổ chức nhằm lựa chọn, lưu giữ, tổ chức một cách khoa học các hồ sơ, tài liệu để phục vụ yêu cầu khai thác, sử dụng của cơ quan và xã hội. Nội dung công tác lưu trữ bao gồm các việc về thu thập, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị.

Giữa công tác văn thư và lưu trữ không có sự tách biệt mà có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy với nhau. Mối quan hệ này thể hiện qua sự liên tục trong quá trình từ soạn thảo, ban hành, quản lý văn bản đến lưu trữ hiện hành và đưa vào lưu trữ.Khi soạn thảo văn bản, việc tìm hiểu các thông tin, các tài liệu đã xử lý trước đó là rất quan trọng để hình thành nên văn bản.Các tài liệu được lưu trữ tốt sẽ là nguồn cung cấp những thông tin có giá trị pháp lý, chính xác và kịp thời nhất cho người soạn thảo văn bản.

Trên thực tế công việc của một cơ quan được tiến hành nhanh hay chậm, thiết thực hay quan liêu là do công văn, giấy tờ có làm tốt hay không, do việc giữ gìn hồ sơ, tài liệu có được cẩn thận hay không. Như vậy, thực hiện tốt công tác lưu trữ sẽ góp phần thúc đẩy thực hiện tốt công tác văn thư. Ngược lại, thực hiện tốt công tác văn thư cũng sẽ góp phần thực hiện tốt công tác lưu trữ. Cụ thể là việc quản lý văn bản và lập hồ sơ hiện hành có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện tốt công tác lưu trữ. Có thể xem công tác lập hồ sơ như là cầu nối giữa công tác văn thư với công tác lưu trữ. Nếu hồ sơ được lập khoa học sẽ tiết kiệm thời gian, công sức và tạo điều kiện thuận lợi để công tác lưu trữ phát triển, từ đó từng bước phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ.

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay, trên mọi lĩnh vực, hầu hết các công việc từ chỉ đạo, điều hành, quyết định, thi hành đều gắn liền với văn bản, cũng có nghĩa là gắn liền việc soạn thảo, ban hành và tổ chức sử dụng văn bản nói riêng, với công tác văn thư và lưu trữ nói chung. Do đó, vaitrò của công tác văn thư và lưu trữ đối với hoạt động của nhà trường là rất quan

trong.

Từ đó, có thể thấy được nếu quan tâm làm tốt công tác văn thư và lưu trữ sẽ góp phần bảo đảm cho các hoạt động của nền hành chính nhà nước được thông suốt. Nhờ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và thúc đẩy nhanh chóng công cuộc cải cách hành chính hiện nay. Mỗi cơ quan hành chính nhà nước cần phải có một nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của công tác văn thư, lưu trữ để có thể đưa ra những biện pháp phù hợp nhằm đưa công tác văn thư, lưu trữ tại cơ quan, đơn vị mình đi vào nề nếp và góp phần tích cực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà trường.

II. Mục đích nghiên cứu:

          Hiện nay, hầu hết ở các trường học đều bố trí một nhân viên làm công tác văn thư lưu trữ, nhưng vẫn còn một số nơi chưa thật sự quan tâm đến vấn đề này. Người phụ trách trực tiếp công việc còn thờ ơ, không nắm hết được các kỹ năng để giải quyết công việc nên dẫn đến tính chính xác không cao và không có hiệu quả tối ưu nhất.

Để có một văn bản mang tính chính xác cao, đòi hỏi người phụ trách công tác văn thư cần phải có những kỹ năng về xây dựng văn bản, cần nắm được các phương pháp soạn thảo văn bản vừa đầy đủ nội dung vừa đúng thể thức của mỗi loại văn bản cụ thể do Nhà nước quy định.

Để phục vụ tốt công tác nghiên cứu, quản lý, giảng dạy và học tập thì việc tìm kiếm văn bản đã lưu trữ đòi hỏi cần phải nhanh chóng, chính xác. Mục đích của đề tài nhằm giúp nhân viên văn thư tháo gỡ những khó khăn vướng nêu trên, mặt khác còn giúp cho tất cả nhân viên văn phòng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác văn thư lưu trữ trong hoạt động của nhà trường.

III. Đối tượng nghiên cứu

Để công tác bảo quản tốt hồ sơ và lưu trữ văn bản trong trường học là một công tác rất quan trọng, nó đòi hỏi người làm công tác này phải thận trọng, tỷ mỉ, ngăn nắp và phải khoa học

Làm tốt công tác văn bản sẽ góp phần thực hiện tốt ba mục tiêu quản lý: Năng xuất, chất lượng và hiệu quả của cơ quan, nếu làm không tốt công tác văn bản sẽ hạn chế đến kết quả hoạt động quản lý, làm giảm hiệu lực chỉ đạo điều hành của cơ quan, tổ chức và bộ máy nhà nước nói chung và trường học nói riêng.

Công tác văn thư lưu trữ nhằm đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ kịp thời cho việc lãnh đạo, quản lý điều hành công việc, cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết công việc hàng ngày, tới chất lượng và hiệu quả công viêc của mỗi cơ quan, tổ chức.

IV. Phạm vi nghiên cứu:

Ở một đơn vị hành chính sự nghiệp, dù ở lĩnh vực nào thì cũng phải cần có một bộ phận văn thư lưu trữ. Thực tế công tác văn thư – lưu trữ ở nhiều đơn vị chưa được quan tâm đúng mức mà chỉ coi đây là công việc đơn thuần. Người ta chưa thấy được vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác văn thư-lưu trữ trong văn phòng các cơ quan đơn vị. Cán bộ viên chức văn phòng chưa được đào tạo đến nơi đến chốn do đó kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới công tác văn thư – lưu trữ.

Thông qua đề tài góp phần giúp nhân viên văn phòng nói chung, nhân viên văn thư trong tất cả các trường học hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

V. Phương pháp nghiên cứu:

B. PHẦN NỘI DUNG

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Công tác văn thư lưu trữ.

Công tác văn thư: là hoạt động đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ cho việc lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành công việc của cơ quan đơn vị. Công tác văn thư bao gồm những nội dung: Soạn thảo và ban hành văn bản, quản lý văn bản và các tài liệu khác hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, đơn vị, quản lý và sử dụng con dấu. Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc công tác văn thư ở các cơ quan phải đảm bảo các yêu cầu: Nhanh chóng, chính xác, bí mật, hiện đại.

Công tác lưu trữ: Là quá trình hoạt động nghiệp vụ nhằm thu thập, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ. Công tác lưu trữ bao gồm những nội dung: Phân loại tài liệu lưu trữ, đánh giá tài liệu lưu trữ, chỉnh lý tài liệu lưu trữ, thu thập bổ sung tài liệu lưu trữ, bảo quản bảo vệ tài liệu lưu trữ, tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ. Trong quá trình thực hiện các nội dung công việc công tác lưu trữ ở các cơ quan phải đảm bảo: Tính khoa học, tính cơ mật.

Để có một văn bản mang tính chính xác cao, đòi hỏi người phụ trách công tác văn thư phải có những kỷ năng về xây dựng văn bản, cần nắm được các phương pháp soạn thảo văn bản vừa đầy đủ nội dung, vừa đúng thể thức của mỗi loại văn bản cụ thể do Nhà nước quy định.

Đểphụcvụtốtcôngtácnghiêncứu,quảnlý,giảngdạyvàhọctậpthìviệc tìm kiếmvănbảnđãlưutrữđòihỏicầnphảinhanhchóng,chínhxác.

Mụcđích củađềtàinhằmgiúpnhânviênvănthưtháogỡnhữngkhókhăn vướng mắc nêutrên.

Qua nhiều năm làm công tác văn thư – Lưu trữ tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao hiệu quả công tác văn thư lưu trữ trong trường học”. Nhằm trao đổi với đồng nghiệp làm công tác văn thư – Lưu trữ ở các trường tiểu học về những kinh nghiệm mà tôi đã tích luỹ được qua thực tiễn nhiều năm làm công tác Văn thư- Lưu trữ.

  * Nội dung và nhiệm vụ của công tác vănthư.

1.1.Nội dung của công tác vănthư

-Đánh máy và soạn thảo văn bản

Tiếp nhận và giải quyết văn bảnđến

Tổ chức giải quyết và quản lý văn bảnđi

Tổ chức và quản lý văn bản mật trong cơquan

Tổ chức và quản lý các tài liệu hồ sơ trong cơquan

Tổ chức quản lý và sử dụng condấu

Đánh máy soạn thảo văn bản:

Khi soạn thảo văn bản, việc tìm hiểu các thông tin, các tài liệu đã xử lý trước đó là rất quan trọng để hình thành nên văn bản.Các tài liệu được lưu trữ tốt sẽ là nguồn cung cấp những thông tin có giá trị pháp lý, chính xác và kịp thời nhất cho người soạn thảo văn bản. Trên thực tế, cơ quan quản lý nhà nước không thể rút ngắn thời gian ban hành các quyết định, giải quyết kịp thời, đúng đắn các yêu cầu của công dân nếu không có đầy đủ, kịp thời thông tin từ tài liệu lưu trữ. Công việc của một cơ quan được tiến hành nhanh hay chậm, thiết thực hay quan liêu là do công văn, giấy tờ có làm tốt hay không, do việc giữ gìn hồ sơ, tài liệu có được cẩn thận hay không. Như vậy, thực hiện tốt công tác lưu trữ sẽ góp phần thúc đẩy thực hiện tốt công tác văn thư. Một số qui trình trong quá trình thực hiện:

Thực hiện một cách cập nhật các loại văn bản mà lãnh đạo nhà trường giao cho, nhằm đảm bảo được thời gian cần thiết để các ban ngành trong nhà trường thực hiện một cách kịp thời, đáp ứng được thông tin hai chiều giữa lãnh đạo và cán bộ công chức.

Đảm bảo đúng, chính xác, trình bày rõ đẹp, đúng thể thức.

Văn bản sau khi đánh máy phải kiểm tra lại, đối chiếu với bản gốc rồi trình cho lãnh đạo xem xét, ký công văn.

* Phương pháp soạn thảo một văn bản thường dùng:

Tờ trình:

Là loại văn bản dùng để đề xuất với cấp trên (hoặc cơ quan chức năng) một vấn đề mới hoặc đã có trong kế hoạch xin phê duyệt.

          – Phần mở đầu:

          + Những căn cứ có tính pháp lý.

          + Nhận định tình hình, nêu lý do đưa ra nội dung trình duyệt, phân tích những căn cứ thực tế làm nổi bật các nhu cầu bức thiết của vấn đề cần trình duyệt.

          – Phần nội dung:

          + Nêu tóm tắt nội dung của đề nghị mới, các phương án khả thi một cách cụ thể, rõ ràng, với các luận cứ kèm theo có thông tin trung thực, độ tin cậy cao.

          + Dự kiến những vấn đề có thể nảy sinh quanh đề nghị mới nếu được áp dụng.

          + Những thuận lợi khó khăn khi triển khai thực hiện. Những biệ pháp cần khắc phục phải được trình bày khách quan, tránh nhận xét chủ quan thiên vị.

          + Nêu ý nghĩa, tác dụng của đề nghị mới đối với hoạt động của đơn vị.

          – Phần kết thúc:

          + Những kiến nghị để cấp trên xem xét, chấp thuận để sớm triển khai, thực hiện đề xuất mới. Có thể nêu phương án dự phòng nếu cần thiết

* Mẫu của một loại Tờ trình:

PHÒNG GD&ĐT……..

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG THCS……………..

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số:       /TTR-THCS    Hà Nội, ngày ……. Tháng …… năm 20…

TỜ TRÌNH

……………………………………….

Căn cứ ……………………………………………………………………

Căn cứ ……………………………………………………………………

Nêu lý do, những căn cứ thực tế làm nổi bậc các nhu cầu bức thiết của vấn đề cần trình duyệt.

Nêu tóm tắt nội dung của đề nghị với các luận cứ kèm theo có thông tin trung thực, độ tin cậy cao.

Nêu ý nghĩa, tác dụng của đề nghị đối với hoạt động của đơn vị.

Những kiến nghị để cấp trên xem xét, chấp thuận để sớm triển khai, thực

hiện đề xuất.

Nơi nhận:THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Tên đơn vị nhận văn bản;

Lưu VT.                            Họ và tên

  • Báo cáo:

    Là văn bản phản ánh toàn bộ hoạt động và những kiến nghị của cơ quan, đơn vị hoặc tường trình về một vấn đề, một công việc cụ thể nào đó hoặc xin ý kiến chỉ đạo.

    – Phần mở đầu:

              + Những căn cứ có tính pháp lý.

              + Nêu những điểm chính về nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, về chủ trương công tác do cấp trên hướng dẫn hoặc việc thực hiện công tác của đơn vị. Đồng thời nếu những điều kiện, hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chủ trương công tác nêu trên.

              – Phần nội dung:

              + Kiểm điểm những việc đã làm, những việc chưa hoàn thành.

              + Những ưu, khuyết điểm trong quá trình thực hiện.

              + Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan.

              + Đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm.

              – Phần kết thúc:

              + Phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.

              + Các giải pháp chính để khắc phục các khuyết, nhược điểm.

              + Những kiến nghị với cấp trên.

              + Nhận định những triển vọng

    * Mẫu của một loại báo cáo:

    PHÒNG GD&ĐT……..

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TRƯỜNG THCS……..

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

              Số:       /BC-THCSHà Nội, ngày ……. Tháng …… năm 20…

    BÁO CÁO

    ……………………………………..

         Căn cứ: …………………………………………………………………………

    Căn cứ: …………………………………………………………………………

        I. Đặc điểm tình hình:

    1. Nhận xét về khái quát tình hình cơ quan, đơn vị về:

             – Tổ chức về bộ máy, nhân sự.

             – Trình độ văn hóa, kỹ thuật của đội ngũ cán bộ công nhân viên chức.

             – Tình hình nhiệm vụ, chức năng của tổ chức, về chủ trương công tác.

          2. Khó khăn và thuận lợi:

             – Thuận lợi

             – Khó khăn

    * Lưu ý:

          Chỉ nêu những khó khăn, thuận lợi của đời sống kinh tế xã hội … trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, đơn vị.

        II. Kết quả đạt được:

         Có thể trình bày nội dung của báo cáo theo các mặt hoạt động hay theo kết quả đạt được của cơ quan, đơn vị. (Có thể đối chiếu, so sánh số liệu cùng  kỳ).

          Xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan.

          Đánh giá kết quả, rút ra bài học kinh nghiệm.

    III. Kết luận:

          Đánh giá khái quát về toàn bộ các mặt hoạt động của cơ quan, đơn vị đã báo cáo phần trên, từ đó tự xếp loại kết quả đạt được.

         Các giải pháp chính để khắc phục các khuyết, nhược điểm.

         Phương hướng nhiệm vụ trong thời  gian tới.

         Những kiến nghị với cấp trên.

    Nơi nhận: THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

       – Tên đơn vị nhận văn bản;

       – …………………………

       – Lưu VT.

                                                                                                            Họ và tên

  • Công văn đến

    Những năm gần đây với sự phát triển của công nghệ thông tin các đơn vị trao đổi văn bản qua hộp thư điện tử, đây là phương tiện vừa nhanh và dễ lưu trữ. Vì vậy, hàng ngày Văn thư vào hộp thư lấy văn bản về đưa vào thư mục văn bản đến đã tạo theo từng năm, tháng để lưu trữ sau đó in ra vào sổ theo dõi văn bản đến và trình Hiệu trưởng phê duyệt chuyển cho các bộ phận. Đây là phương pháp lưu trữ văn bản đến vừa khoa học lại tra cứu nhanh.

    Công văn đến là nguồn thông tin rất quan trọng giúp cho lãnh đạo nhà trường thực hiện kịp thời, có  hiệu quả công tác quản lý nhà trường và  phối hợp thực hiện có hiệu quả các nội dung công việc có quan hệ với bên ngoài. Do vậy, việc  quản lý công văn đến cũng phải kịp thời, chính xác.

    Công văn đến bao gồm các loại như: Công văn chỉ đạo chuyên môn của ngành, công văn chỉ đạo quản lý, chỉ thị, thông tư, kế hoạch, báo cáo….. của các ban nhành cấp trên và nhiều loại văn bản khác.

    * Trình tự theo dõi

    – Khi nhận được các loại văn bản, ta cần đọc kỹ văn bản để hiểu rõ nội dung và yêu cầu của văn bản.

    – Đánh số thứ tự, ngày nhận được vào góc trái của văn bản và vào sổ theo dõi công văn đến (theo mẫu quy định)

    Chuyển giao cho hiệu trưởng để xem xét và chỉ đạo văn bản này giao cho ai quản lý và sử dụng. Ý kiến của Hiệu trưởng được ghi ở góc trái của văn bản.

    * Mẫu sổ đăng ký văn bản đến

    – Trang bìa của sổ trình bày như sau:

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    SỔ ĐĂNG KÝ VĂN BẢN ĐẾN

    Năm: ……………….

    ĐƠN VỊ………………………………………….

    QUYỂN SỐ………………

    Từ ngày: . . . . . . . . đến ngày: . . . . . . . .

    Từ số: . . . . . . . . . . đến số: . . . . . . . . .

    – Cấu tạo bên trong của sổ gồm 9 cột

    Ngày

    đến

    Số đến

    Tác giả

    Số, ký hiệu

    Ngày tháng

    Tên loại và trích yếu nội dung

    Đơn vị hoặc người nhận

    Ký nhận

    Ghi chú

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    9

    Như vậy, khi cần thiết hoặc có sự kiểm tra, Ban giám hiệu cần bất cứ một loại văn bản nào, văn thư kiểm tra sổ sẽ biết được ai nhận, bộ phận nào nhận.

  • Công văn đi

    Công văn đi bao gồm nhiều loại  văn bản như:  Báo cáo, thông báo, kế hoạch, tờ trình, quyết định… được nhà trường phát hành ra trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và được gởi đến các cơ quan đơn vị, cá nhân trong và ngoài cơ quan.

    Khi đánh máy các văn bản chuyển đi, nhất thiết phải in làm 2 bản: 1 bản gửi đi, 1 bản để lưu công văn đi, có số ký hiệu riêng của cơ quan, ghi rõ ngày tháng phát hành, người ký văn bản. Tất cả các công văn chuyển đi phải được ghi vào sổ công văn đi.

    Những công văn trước khi ký và gửi đi phải được kiểm tra kỹ về mặt thể thức và thủ tục.

    Công văn được chuyển đi bằng nhiều cách nhưng  lúc nào văn thư cũng phải vào sổ chuyển công văn đi, người nhận công văn có thể qua hộp thư điện tử hoặc nhận trực tiếp bảng cứng. Tất cả các công văn chuyển đi phải được ghi vào sổ công văn đi (theo mẫu quy định)

    *Thủ tục quản lý văn bản đi bào gồm các bước sau:

    Bước 1: Đánh máy, kiểm tra thể thức trình bày văn bản

    Bước 2: Ký và đóng dấu văn bản

    Bước 3: Đăn ký văn bản

    Bước 4: Chuyển giao văn bản

    Bước 5: Kiểm tra việc quản lý văn bản

    Bước 6: Sắp xếp các văn bản lưu vào sổ

    *Mẫu văn bản đi được vào sổ theo mẫu

    – Trang bìa của sổ trình bày như sau:

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    SỔ ĐĂNG KÝ VĂN BẢN ĐI

    Năm: ……………….

    ĐƠN VỊ………………………………………….

    QUYỂN SỐ………………

    Từ ngày: . . . . . . . . đến ngày: . . . . . . . .

    Từ số: . . . . . . . . . . đến số: . . . . . . . …

    – Cấu tạo bên trong của sổ gồm 8 cột:

    Số, ký hiệu văn bản

    Ngày tháng văn bản

    Tên loại và trích yếu nội dung văn bản

    Người ký

    Nơi nhận văn bản

    Đơn vị, người nhận bản lưu

    Số lượng bản

     Ghi chú

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    Khi chuyển giao công văn đi cho cá nhân hoặc đơn vị nào nhận hoặc đơn vị nào phải có sổ theo dõi ký giao công vă đi, ghi rõ ngày nộp công văn và cơ quan nhận công văn phải ghi vào sổ để tránh tình trạng thất lạc, thắc mắc không cần thiết xảy ra.

    Trình tự lưu trữ

    Quy định mở sổ theo dõi theo từng năm.Bắt đầu từ ngày 01/01/20….đến hết 31/12/20….Mở sổ thứ tự 01,02,…bắt đầu từ ngày 01/01/20…,tương tự như vậy thực hiện các năm kế tiếp .

    Cuối năm tất cả được đóng lại thành tập và đưa vào lưu trữ.

    1.2.Học bạ, sổ đăng bộ, chuyển đi – đến (hồ sơ học sinh )

    Đối với công tác văn thư việc quản lý học bạ  học sinh là một việc hết sức quan trọng .Để quản lý tốt học bạ nhất thiết phải có.

              – Sổ đăng bộ học sinh (theo mẫu thống nhất chung của ngành giáo dục).

              – Sổ theo dõi rút học bạ (chuyển đi, chuyển đến hoặc nghỉ học).

              – Sổ theo dõi học bạ các lớp trong năm học (sổ này theo dõi diễn biến, tăng hay giảm của các lớp trong từng tháng và mỗi năm học).

              – Sổ ký mượn – trả của GVCN các lớp sử dụng học bạ khi cần thiết.

             

             

    a. Học bạ:

    *Trang bìa của sổ trình bày như sau:

    TRƯỜNG THCS………………………………….

    Huyện/Quận/Thị xã…..Tỉnh/Thành phố…………

    HỌC BẠ

    TRUNG HỌC CƠ SỞ

    Họ và tên học sinh

    ……………………………………..

    Số…………………/THCS

    – Cấu tạo bên trong của sổ

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    (Ảnh 3x4cm)

     

     

    HỌC BẠ

    TRUNG HỌC CƠ SỞ

    Họ và tên: …………………………………….. Giới tính ……………………

    Ngày sinh: ……….. tháng ……… năm ………………………

    Nơ i sinh: ……………………………………………………………………….

    Dân  tộc:………………………………………………………………………….

    Chỗ ở hiện tại: ……………………………………………………………………………..

    Họ và tên cha: ………………………………….Nghề nghiệp: …………………………..

    Họ và tên mẹ: ………………………… Nghề nghiệp: ……………………………………

    Họ và tên người giám hộ: ………………………………….Nghề nghiệp:……………..

    ……..,ngày…… tháng…….năm 20…….

    HIỆU TRƯỞNG

    (Ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)

    QUÁ TRÌNH HỌC TẬP

    Năm học

    Lớp

    Tên trường, huyện (quận, th  xã, TP thuộc tỉnh), tỉnh (TP)

    20….. – 20…..

    20….. – 20…..

              Đầu năm học, căn cứ vào danh sách lớp nhân viên văn thư phải đếm lại học bạ, kiểm tra hồ sơ học sinh kèm theo, ghi số lượng vào sổ theo dõi để bàn giao cho GVCN ghi các chi tiết vào học bạ, xong việc GVCN phải giao học bạ lại cho văn thư để quản lý. Khi cho mượn phải ký sổ mượn, khi trả phải ký sổ đã trả và văn phòng phải kiểm tra đầy đủ số lượng học bạ khi được nhận lại.

              Học bạ cần được bọc nhựa để bảo quản tốt, sạch sẽ. Trang bên trong học bạ nếu có lưu giữ các hồ sơ của học sinh như: giấy khai sinh (bản sao), phiếu đăng ký nhập học lớp 6, đơn xin nhập học, … cần phải dùng kim bấm bấm lại để khỏi rơi rớt khi sử dụng học bạ. Đối với học bạ lớp 6, văn thư phải ghi số đăng bộ vào trang đầu tiên.

               Học bạ cần xếp theo thứ tự A, B, C, … dùng dây để buộc theo từng lớp, bỏ vào một ngăn riêng để lưu trữ, bên ngoài cần ghi rõ tên lớp, năm học, tên GVCN, số lượng của mỗi lớp và có danh sách lớp kèm theo để thuận tiện trong việc tra cứu thông tin kịp thời.

               Đối với các học bạ của học sinh đã nghỉ học, phải lưu giữ nhiều năm: hàng năm nếu có học sinh nghỉ học, học sinh đã ra trường nhưng chưa nhận học bạ, văn thư cần ghi sổ theo dõi. Các học bạ này nên xếp thứ tự A, B, C, … để khi cần ta dễ dàng tìm thấy để giao cho phụ huynh và ký nhận.

  • Sổ đăng bộ:

    *Trang bìa của sổ trình bày như sau:

    – Cấu tạo bên trong của sổ:

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    …………………………………………………….

    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHŨ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SỔ ĐĂNG BỘ  BẬC THCS

    (kèm theo công vănsố:)

    Căn cứ theo Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành kèm theo Quyết định số07/2007/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 của Bộ và các văn bản hiện hành.

    Sổ đăng bộ có giá trị pháp lý, dùng để ghi danh sách học sinh nhập học theo khoá học do Hiệu trưởng  nhà trường lưu giữ không thời hạn.

    Minh hoạ số cột của sổ đăng bộ

    STT

    Họ và tên HS

    Nam nữ

    Ngày tháng năm sinh

    Nơi sinh

    (theo đúng khai sinh)

    Dân tộc, con liệt sĩ, con thương binh (hạng)

    Chỗ ở hiện tại

    (ghi rõ tổ, khu phố, xã (Phường))

    Họ và tên cha, mẹ. nghề nghiệp (hay người giám hộ)

    1

    2

    3

    4

    5

    6

    7

    8

    tiếp theo trang 1

    Vào trường

    Ra trường

    Năng lực đặc biệt.

    HS giỏi môn, cấp huyện (quận), tỉnh  (hay quốc gia)

    Được cấp bằng

    Năm học

    Lớp

    Lý do

    Năm học

    Lớp

    Lý do

    Loại bằng

    Số hiệu

    Ngày cấp

    9

    10

    11

    12

    13

    14

    15

    16

    17

    18

     Sau khi hồ sơ tuyển sinh lớp 6 xong và được phân bổ theo lớp. Văn thư tập hợp danh sách của các lớp 6, xếp theo thứ tự vần A, B, C, … và ghi vào sổ đăng bộ tuyệt đối chính xác, cẩn thận, sạch sẽ và đầy đủ thông tin (theo mẫu quy định).

             

              Mỗi năm học cần bổ sung hồ sơ học sinh như: lên lớp, ở lại lớp, chuyển đi, chuyển đến, bỏ học.

              c.Hồ sơ chuyển trường(chuyển đi – chuyển đến):

              + Chuyển trường gồm có: đơn xin rút học bạ, đơn xin chuyển trường có sự đồng ý của nơi tiếp nhận.

              Nếu chuyển trường ngoài huyện, ngoài tỉnh thì nhà trường phải có giấy giới thiệu chuyển trường qua Lãnh đạo Phòng GD&ĐT  để xem xét chuyển đi.

              Văn thư mở sổ theo dõi và điền đầy đủ thông tin cần thiết sau đó cho phụ huynh ký vào sổ.

    d. Quản lý sử dụng con dấu.

    – Việc quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu.

    – Con dấu phải được quản lý và sử dụng tại trụ sở của đơn vị.

    – Chỉ được đóng dấu vào những văn bản, giấy tờ đúng thể thức và sau khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền. Không được đóng dấu khống chỉ, hoặc đóng dấu trước khi ký.

                   *.Nhiệm vụ của công tác vănthư

    Nhận văn bảnđến

    Ghi số, vào sổ đăngký

    Phân loại và trình lãnhđạo

    Đánh máy, rà soát văn bản, in văn bản tàiliệu

    Gửi văn bản đi (vào sổ, ghi số, ghi ngày pháthành)

    Chuyển giao văn bản, tài liệu thư từ trong nội bộ cơquan

                     *. Yêu cầu của công tác vănthư

    Trong quá trình thực hiện những nội dung trên cần phải đảm bảo những

    yêu cầu sau:

    Nhanh chóng, kịp thời, đúng kỳhạn

    Phải đảm bảo tính chính xáccao

    Mức độ bí mật của vănbản

     - Sử dụng trang thiết bị hiệnđại

            2.Về công tác lưutrữ

    Lưu trữ là khâu cuối cùng của quá trình xử lý thông tin bằng văn bản.Tất cả những văn bản đến đã qua xử lý, bản lưu của văn bản đi (bản chính) và những hồsơ,tàiliệuliênquanđềuphảiđượcchuyểnvàolưutrữquachọnlọc.

                      *Nhiệm vụ và nội dung của công tác lưutrữ

    Công tác lưu trữ gồm những nhiệm vụsau

    Thu thập, xử lý, phân loại và sắp xếp các tàiliệu

    Thống kê tàiliệu

    Bảo quản tàiliệu

    Phục vụ khai thác sử dụng tàiliệu

    b.  Nội dung của công tác lưutrữ

    Thu thập tài liệu lưutrữ

    Hàng năm đơn vị có trách nhiệm:

    Lập kế hoạch thu thập hồ sơ, tàiliệu;

    Các phòng, ban, đơn vị công chức, viên chức của cơ quan xác định những loại hồ sơ, tài liệu cần thu thập vào lưutrữ;

    Chuẩn bị tốt các phương tiện bảo quản để tiếp nhận hồ sơ, tàiliệu;

    Bảo quản tài liệu lưutrữ

    Bảo quản tài liệu lưu trữ là toàn bộ những công việc được thực hiện

    nhằmđảm bảo giữ gìn trạng thái nguyên vẹn của nó.

    Công tác bảo quản lưu trữ bao gồm các nội dung như: Phòng ngừa, phòng hỏng, phục chế tài liệu lưu trữ và phòng gian bảo mật. Công tác này được quy định cụ thể tại Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ Quốc gia.

    Nguyên nhân gây hại đến tài liệu lưu trữ có nhiều yếu tố khách quan tự nhiên như: Nhiệt độ, ánh sáng, bụi mốc, côn trùng, bão lụt… Và còn do yếu tố

    chủ quan của con người như: Do sự thiếu trách nhiệm của các nhân viên lưu trữ và người sử dụng tài liệu lưu trữ.

    Biện pháp bảo quản là: Chống ẩm, chống mối mọt côn trùng… Phải chú ý đến cách bố trí tủ đựng và trang bị phương tiện kỹ thuật. Cần trang bị đầy đủ giá, tủ đựng tài liệu… Kho lưu trữ phải đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát, sạch sẽ, đồng thời phải có chế độ phòng cháy chữa cháy cho kho lưutrữ.

    Tổ chức khai thác sử dụng tài liệu lưutrữ

    Là toàn bộ công tác nhằm bảo đảm cung cấp cho cơ quan Nhà nước và xã hội những thông tin cần thiết phục vục cho mục đích chính trị, kinh tế, tuyên truyền, giáo dục, văn hoá, quân sự và phục vụ cho các quyền lợi chính đáng của công dân.

    Mục đích sử dụng tài liệu lưu trữ là tổ chức khai thác sử dụng tốt và có hiệu quả tài liệu lưu trữ

    *Thời hạn nộp lưu tàiliệu

                 Tài liệu của các tổ chuyên môn, của  các đoàn thể, cá nhân: Hết 01 năm học nộp về cho các tổ chưởng chuyên môn, nộp về phòng văn thư lưu

    II.   THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VĂN THƯ LƯU TRỮ TƯỜNG THCS

    * Thực trạng, những thuận lợi và khó khăn.         

               1. Đặc điểm tình hình chung

               Công tác văn thư là một lĩnh vực hoạt động không thể thiếu trong hoạt động quản lý của tất cả các cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ kịp thời cho việc lãnh đạo, quản lý điều hành công việc, cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức.

               Với vai trò như vậy, công tác văn thư có ảnh hưởng trực tiếp tới việc giải quyết công việc hằng ngày, tới chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ

    quan, tổ chức. Trong thời gian qua, công tác văn thư đã đạt được những kết quả nhất định thể hiện trên phương diện quản lý và tổ chức thực hiện như sau:

               Nhận thức được vai trò, ý nghĩa và tác dụng của công tác văn thư trong hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước nói chung, của mỗi cơ quan tổ chức nói riêng, Nhà nước đã quan tâm đến việc ban hành các văn bản để quản lý, chỉ đạo công tác này.

               Ban hành Quy định công tác văn thư, lưu trữ các cấp và các ngành; Quy định về quản lý văn bản đến, quản lý văn bản đi; lập hồ sơ và quản lý hồ sơ tài liệu lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu của cơ quan… Cùng với việc ban hành văn bản quản lý, chỉ đạo công tác văn thư thì tổ chức văn thư được quan tâm kiện toàn ở các ngành, các cấp. Tuy nhiên:

               Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện công tác văn thư trong thời gian qua đã bộc lộ những hạn chế cần được quan tâm khắc phục, đó là:

               Văn thư ở các trường nhìn chung chưa được kiện toàn theo đúng quy định của nhà nước.

               – Cơ sở vật chất cho công tác văn thư bước đầu được cải thiện tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về hiện đại hóa công tác văn thư.

               – Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính theo thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của bộ nội vụ vẫn còn lỗi, chưa thống nhất khi vận dụng, làm giảm hiệu lực của văn bản hành chính, gây khó khăn khi tiếp nhận và giải quyết văn bản.

               – Việc nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan chưa được thực hiện.

    2. Thuận lợi

    Công tác văn thư lưu trữ có đầy đủ hệ thống văn bản mang tính pháp lý. Các văn bản đến đều được chuyển trực tiếp vào hộp thư điện tử của Trường.  Được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Phòng Giáo dục và Đào tạo và Ban giám hiệu nhà trường.

    Đảng, Chính quyền, ban ngành, đoàn thể và nhân dân rất quan tâm đến giáo dục, có tinh thần đoàn kết và hợp tác với nhà trường. Đội ngũ thầy cô giáo năng động, nhiệt tình, có năng lực chuyên môn tốt, có ý thức vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của mình với tinh thần trách nhiệm cao. 

    Cơ sở vật chất đáp ứng khá đầy đủ và kịp thời cho công tác quản lý, dạy học và các hoạt động khác.

    3. Khó khăn

              Việc giao, nhận văn bản, công văn và lưu trữ chủ yếu bằng hình thức thủ công, sắp xếp không khoa học.

              Số lượng văn bản đến rất nhiều để tìm một văn bản đã lưu một cách nhanh chóng nhất là một vấn đề không dễ dàng.

    Chính những vấn đề bức xúc trên thúc đẩy tôi tìm giải pháp thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả để hoàn thành tốt  nhiệm vụ được giao.        

    III. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ Ở TRƯỜNG THCS.

    Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế với việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu trữ là một yêu cầu tất yếu. Chính vì thế nhà trường đã xác định rõ:

    Nâng cao nhận thức của Cán bộ – Giáo viên – Nhân viên về công tác văn thư, lưu trữ nhằm phát huy hiệu quả của công tác văn thư và giá trị của tài liệu lưu trữ;

    Tạo bước chuyển biến, đưa công tác văn thư, lưu trữ đi vào nề nếp và thực hiện đúng quy định của pháp luật về công tác văn thư, lưu trữ; Góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

    Để góp phần nâng cao chất lượng công tác văn thư, lưu  trữ nhằm thực hiện những mục tiêu chung của nhà trường theo xu hướng công cuộc cải cách hành chính, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    *Chútrọng việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện công tác văn thư, lưu trữ

    Trong quá trình quản lý, kế hoạch là khâu đầu tiên của một quá trình.Mọi hoạt động quản lý đều được bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch.

    Kế hoạch là xác định mục tiêu mà mỗi nhà trường cần phải đạt được trong một hay nhiều năm tới và các phương thức để đạt được mục tiêu ấy… Có thể thấy, việc xây dựng kế hoạch trong các nhà trường giống như việc tạo nên một cây cầu nối giữa mục tiêu mà trường đó đạt được với phương thức để thực hiện được các mục tiêuấy.

    Quản lý công tác văn thư, lưu trữ là trách nhiệm không chỉ của thủ

    trưởng cơ quan mà còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cơ quan, đơn vị.

    Xác định được tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch nói chung, kế hoạch công tác văn thư lưu trữ nói riêng, nhà trường đã tiến hành xây dựng

    kế hoạch theo đúng sự chỉ đạo của cấp trên, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, cụ thể tới từng bộ phận, thành viên trong nhà trường.

    Để xây dựng được kế hoạch nhà trường đã dựa trên các văn bản chỉ đạo của các cấp, các ngành.

    Về cơ bản các quy định đối với công tác văn thư lưu trữ bao gồm:

    Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/05/2005 của liên Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày vănbản;

    Thông tư 01/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hànhchính;

    Công văn số 879/VTLTNN-NVĐP ngày 19/12/2006 về việc Hướng dẫn tổ chức tiêu huỷ tài liệu hết giátrị;

    Thông tư số 09/2011/TT-BNV ngày 03 tháng 6 năm 2011 của Bộ Nội vụ quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu hình thành phổ biến trong hoạt động của các cơ quan, tổchức;

    – Luật lưu trữ đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2012;

    Trên cơ sở các văn bản của nhà nước, hàng năm nhà trường đã xâydựngkếhoạch,banhành Quychếcôngtácvănthư,lưutrữphùhợpvớiđiềukiện thựctếcủanhàtrường.

    *Nângcaonhậnthức,trìnhđộnghiệpvụcánbộ,viênchứctronghoạt

    động của công tác văn thư, lưu trữ

    Đổi mới nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên về công tác văn thư lưu trữ bằng nhiều hình như: Phổ biến, trao đổi trong cuộc họp, hội  nghị…Qua đó giúp CBGVNV hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của công tác văn thư, lưu trữ từ đó có  ý thức thực hiện tốt các quy định về văn thư lưutrữ.

    Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ, giáo viên, nhân viên thông qua

    việc cử cán bộ, nhân viên dự các buổi tập huấn tại huyện, tại Trường, khuyến khích tự học tập bồi dưỡng.

    Giáo dục ý thức kỷ luật và tính tích cực trong lao động cho cán bộ, nhân viên văn thư, lưu trữ.

    * Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác văn thư, lưu trữ

    Hiện nay, cuộc cách mạng công nghệ thông tin diễn ra sôi động tác động sâu sắc và trực tiếp đến mọi mặt hoạt động: kinh tế, xã hội của đất nước. Phương hướng tin học hoá công tác văn thư, lưu trữ xuất phát từ yêu cầu thực tế cũng như khả năng phát triển trong tương lai. Sử dụng công nghệ thông tin cho phép nâng cao năng suất lao động của nhân viên văn thư lên nhiều lần, đồng thời giảm nhẹ sức lao động của nhân viên văn thư. Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác văn thư, lưu trữ đảm bảo cung cấp thông tin một cách nhanh chóng cho cán bộ, lãnh đạo giúp lãnh đạo ra được những quyết định kịp thời, chính xác, đúng đắn, góp phần phục vụ công cuộc cải cách hành chính.

    C. KẾT LUẬN

    I. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

              Qua hơn 9 năm làm công tác văn thư của Trường THCS, nhờ đưa ra một số giải pháp và cách thực hiện có khoa học, bản thân tôi đã đạt được một kết quả như sau:

              – Khả năng soạn thảo văn bản có bước tiến bộ rõ rẹt về phông chữ, kỹ thuật thể thức trình bày, nội dung văn bản.

              – Các loại thông tin báo cáo kịp thời, đúng, nhanh, sạch đẹp, đáp ứng được các yêu cầu của Ban giám hiệu đề ra.

              – Tủ đựng hồ sơ ngăn nắp, phân loại cụ thể, đẹp mắt, có khoa học.

              – Việc lưu trữ văn bản đã dần đi vào nề nếp.

              – Công việc đều được giải quyết hàng ngày, chủ động.

              Các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác văn thư lưu trữ được bổ sung kịp thời.

              Làm tốt công tác kiểm tra và vệ sinh toàn diện khu vực lưu trữ không để xảy ra tình trạng bị mối mọt.

              Như vậy để bảo quản tốt hồ sơ và lưu trữ trong trường học là một công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, thận trọng, khoa học và ngăn nắp. Ngoài những hồ sơ văn thư lưu trữ và bảo quản còn có nhiều loại khác nữa.

              II. KẾT LUẬN

    Hiện nay công tác văn thư ở trường đã đi vào nề nếp, phát huy được hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý, giảng dạy và hoạt động khác trong nhà trường nhờ biết khai thác tốt các thế mạnh sẵn có và ứng dụng tốt Công nghệ thông tin vào công tác văn thư lưu trữ. Bản thân tôi được phân công làm nhiệm vụ Văn thư nhà trường. Ý thức đầy đủ được vai trò và tầm quan trọng của công tác văn thư lưu trữ nhà trường nên trong quá trình công tác tôi luôn tìm tòi, cải tiến công tác tìm ra những biện pháp tích cực nhất đem lại hiệu quả cao trong công tác văn thư hành chính, góp phần tích cực trong việc tham mưu cho lãnh đạo nhà trường hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý nhà trường và cũng như để chia sẻ cùng đồng nghiệp.

    * Bài học kinh nghiệm:

    Là người làm công tác văn thư cần phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi học hỏi trao dồi kinh nghiệm, vận dụng một cách linh hoạt hoàn cảnh thực tế ở mỗi nơi. biến cái khó thành cái dễ, thành thói quen của mình, thì công việc lúc nào cũng trôi chảy và đạt hiệu quả cao, luôn có tính kiên trì học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn của mình.

    Công tác văn thư là một bộ mặt của cơ quan đơn vị nên trước tiên người làm công tác này phải nhạy bén, phương pháp làm việc khoa học, nhanh chóng và chính xác…

    Áp lực công việc đối với người làm công tác văn thư là rất lớn nên đòi hỏi người làm công tác này phải bình tỉnh và có phương pháp khoa học giải quyết công việc nhanh chóng mang tính kiên trì.

       Người làm công tác văn thư luôn luôn trực tiếp xử lý từng công việc một nhưng với thái độ phải hết sức hoà nhã, ân cần, siêng năng, không nóng nảy.

    Phải thật sự yêu quý công việc, xem việc của mình làm là tạo điều kiện cho lãnh đạo để cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm học.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/05/2005 của liên Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày vănbản;

    Thông tư 01/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hànhchính;

    Công văn số 879/VTLTNN-NVĐP ngày 19/12/2006 về việc Hướng dẫn tổ chức tiêu huỷ tài liệu hết giátrị;

    Thông tư số 09/2011/TT-BNV ngày 03 tháng 6 năm 2011 của Bộ Nội vụ quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu hình thành phổ biến trong hoạt ñộng của các cơ quan, tổchức;

    Luật lưu trữ đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm2012;

                                                                                

    MỤC LỤC

    Lời nói đầu………………………………………………………Trang 1

    PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU  

    I. Đặt vấn đề…………………………………………………………………… Trang 2  

    II. Mục đích nghiên cứu………………………………………….Trang 3

    III. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………… Trang 3

    IV.Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………. Trang 4

    V. Phương pháp nghiên cứu…………………………………………….. Trang 4

    PHẦN B: NỘI DUNG

        I. Cơ sở lý luận ……………………………………………………………  Trang 5

        II. Thực trạng công tác văn thư lưu trữ ở trường THCS……… Trang 21

        III. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác VTLT ở trường THCS.. Trang 23

    PHẦN C: KẾT LUẬN

    I. Kết quả nghiên cứu……………………………………………………….. …Trang 26

              II. Kết luận …………………………………………………………… ….Trang 26

              Tài liệu tham khảo………………………………………………Trang

    Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ Tại Vksnd Tỉnh Sơn La

    Trong 5 năm qua, việc triển khai và áp dụng các văn bản về công tác văn thư, lưu trữ tại VKSND tỉnh Sơn La được thực hiện đúng quy định; kịp thời phổ biến, quán triệt các quy định về công tác văn thư cho cán bộ, công chức, trong toàn đơn vị. Cán bộ văn thư, lưu trữ được kiện toàn, củng cố; trình độ công chức làm công tác văn thư, lưu trữ ở VKSND tỉnh và các huyện, thành phố có nhiều chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của các đơn vị; công tác hướng dẫn lập hồ sơ công việc và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ, Lưu trữ cơ quan được thực hiện thường xuyên và đã được các đơn vị chú ý thực hiện nghiêm túc; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác văn thư, lưu trữ được trang bị tương đối đầy đủ, góp phần việc tra cứu tài liệu được dễ dàng.

    VKSND tỉnh Sơn La đã kịp thời quán triệt đến các đơn vị thực hiện đúng quy định của Nhà nước, của VKSND tối cao về công tác văn thư, soạn thảo văn bản như: Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP; Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính; Thông tư số 07/2012/TT-BNV, ngày 22/11/2012 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; Quyết định số 393/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trong ngành Kiểm sát nhân dân; Quyết định số 381/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về việc ban hành Quy chế về công tác văn thư, lưu trữ trong ngành Kiểm sát nhân dân.

    Tổ chức bộ máy và nhân sự làm công tác văn thư hiện nay: Công tác văn thư của VKSND tỉnh Sơn La được bố trí tại Văn phòng tổng hợp VKSND tỉnh. Lãnh đạo Viện đã quan tâm, chú trọng đến công tác văn thư, lưu trữ; bố trí 01 biên chế làm công tác văn thư; 01 hợp đồng làm công tác lưu trữ kiêm văn thư. Đơn vị đã thực hiện chế độ phụ cấp độc hại hằng năm đối với cán bộ làm công tác lưu trữ.

    Đầu tư kinh phí và tổ chức, chỉ đạo ứng dụng công nghệ trong công tác văn thư, lưu trữ: Tình hình đầu tư kinh phí cho các hoạt động văn thư trong thời gian qua luôn được lãnh đạo Viện tỉnh quan tâm chú ý, như đầu tư sửa chữa cải tạo kho lưu trữ, trang bị giá, tủ đựng tài liệu, mua sắm thiết bị, phương tiện bảo quản và phục vụ việc sử dụng tài liệu lưu trữ, máy photo, máy Scan, máy vi tính…

    Đơn vị đã ứng dụng phần mềm quản lý văn bản ANA từ năm 2016 đến tháng 7/2018, ứng dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành VNPT-iOffice 4.0 trong công tác văn thư và sử dụng trong toàn ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.

    Đối với công tác soạn thảo và ban hành văn bản: Công tác xây dựng, ban hành văn bản ngày càng được nâng cao về chất lượng nội dung và thể thức; kỹ thuật trình bày, soạn thảo văn bản được thực hiện theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ nội vụ; Quyết định số 393/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của VKSND tối cao quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trong ngành Kiểm sát nhân dân. Qua kiểm tra và theo dõi, nhận thấy việc thực hiện về kỹ thuật trình bày văn bản và nội dung văn bản của Viện kiểm sát hai cấp được thực hiện đúng theo quy định, mang lại hiệu quả thiết thực, phục vụ công tác quản lý và điều hành của các cơ quan.

    Công tác quản lý văn bản đi, đến: Năm 2018, VKSND tỉnh đã áp dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành VNPT-iOffice 4.0 quản lý và đăng ký văn bản đi đến bằng sổ trên phần mềm giúp cho việc xử lý, cập nhật cơ sở dữ liệu trong công tác văn thư khoa học hơn, đạt được nhiều hiệu quả thiết thực. Đối với văn bản đến và đi hoàn toàn điện tử trong nội bộ VKSND 2 cấp, từ năm 2018 đến nay chiếm khoảng 70% tổng số văn bản đến, đi góp phần nâng cao chỉ số công nghệ thông tin của VKSND hai cấp.

    Số lượng văn bản đến của Viện kiểm sát hai cấp, bình quân khoảng trên 8.000 văn bản/năm. Các văn bản khi tiếp nhận được chuyển cho người có thẩm quyền xử lý đảm bảo chính xác và giữ bí mật đúng theo quy định; lãnh đạo Viện luôn chú trọng đến việc theo dõi, đôn đốc quá trình giải quyết văn bản đến, giao cho đơn vị, cá nhân có trách nhiệm nghiên cứu, tham mưu, giải quyết văn bản đến theo đúng thời hạn quy định. Số lượng văn bản đi của đơn vị bình quân khoảng 4.500 văn bản/năm; lưu văn bản đi (bản gốc) văn thư của đơn vị sắp xếp thứ tự theo quy định.

    Lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ tài liệu vào Lưu trữ cơ quan

    Khối tài liệu hồ sơ các vụ án đã được lập hồ sơ, sắp xếp có khoa học giúp các đơn vị tra tìm hồ sơ, tài liệu được thuận tiện, nhanh chóng. Còn lại khối tài liệu cũ đã được chỉnh lý sơ bộ và sắp xếp lên giá để bảo quản an toàn và thuận tiện trong khai thác hàng năm. Phần mềm quản lý hồ sơ đã được ứng dụng vào hơn 3.000 hồ sơ vụ án và sắp xếp lên giá di động nhằm phục vụ các đơn vị khai thác nhanh chóng, thuận tiện.

    Quản lý và sử dụng con dấu: Đơn vị đã thực hiện việc quản lý và sử dụng con dấu đúng theo quy định hiện hành, chưa có trường hợp nào để xảy ra vi phạm trong việc quản lý và sử dụng con dấu; con dấu được sử dụng trong ngày, khi hết thời gian làm việc được nhân viên văn thư cất giữ trong phòng có khóa.

    Bên cạnh những ưu điểm đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện thực hiện nhiệm vụ công tác văn thư, lưu trữ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế:

    Nhận thức của một số lãnh đạo đơn vị, cán bộ, Kiểm sát viên về công tác văn thư, lưu trữ và tầm quan trọng của tài liệu lưu trữ có thời điểm chưa đầy đủ, dẫn đến việc chỉ đạo, hướng dẫn, thực hiện nhiệm vụ văn thư, lưu trữ ở một đơn vị chưa được quan tâm chú trọng đúng mức.

    Còn một số tài liệu, hồ sơ chưa được chỉnh lý theo đúng quy định, do khó khăn về nguồn kinh phí; kho lưu trữ chật, hẹp chưa đảm bảo theo quy định.

    Từ những hạn chế trên, đưa ra một số giải pháp thực hiện tốt công tác văn thư, lưu trữ trong thời gian tới:

    Nâng cao nhận thức đối với công tác văn thư, lưu trữ:

    Nâng cao nhận thức, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác văn thư, lưu trữ và tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo Viện, các lãnh đạo Phòng, nhất là Chánh Văn phòng và Phó chánh Văn phòng phụ trách công tác văn thư, lưu trữ đối với công tác này ở các đơn vị. Từ lãnh đạo Viện đến lãnh đạo Phòng phải chấp hành đúng các quy định về công tác văn thư, lưu trữ của Nhà nước, của Ngành. Chú trọng công tác quán triệt để phổ biến một số văn bản đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành về công tác văn thư, lưu trữ và các văn bản hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến và việc lập hồ sơ, nộp lưu hồ sơ vào Lưu trữ của VKSND tối cao.

    Bố trí, tuyển dụng công chức làm công tác văn thư, lưu trữ:

    Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh phải bố trí lựa chọn công chức kiêm nhiệm công tác văn thư thực hiện các công việc như: Tiếp nhận, đăng ký, trình chuyển giao văn bản, sắp xếp, bảo quản và phục vụ việc tra cứu sử dụng bản lưu văn bản; soạn thảo, ban hành văn bản; lập hồ sơ công việc và tổ chức giao nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan. Viện tỉnh có kế hoạch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn thư, lưu trữ chuyên trách. Tạo điều kiện cho các công chức được tham gia các lớp đào tạo nghiệp vụ hoặc tham gia các lớp tập huấn do VKSND tối cao và Chi cục Văn thư – Lưu trữ thuộc Sở Nội vụ tỉnh Sơn La tổ chức.

    Theo thực tế hiện nay, văn thư chuyên trách thuộc Văn phòng chỉ có 01 người. Khi công chức văn thư chuyên trách nghỉ phép, nghỉ việc riêng hoặc ốm đau sẽ không có công chức đủ tiêu chuẩn làm công tác văn thư, dẫn đến để bảo đảm công việc thường xuyên, liên tục, phải bố trí các công chức khác không có chuyên môn nghiệp vụ văn thư làm công tác này nên thường dẫn đến sai sót.

    Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ văn thư, lưu trữ:

    Cán bộ, công chức được giao soạn thảo văn bản phải bảo đảm về trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản; phải ký nháy/tắt vào cuối văn bản theo đúng quy định; đảm bảo hiệu lực pháp lý (về nội dung và thể thức) của văn bản; thường xuyên làm tốt công tác tự đào tạo tại chỗ cho công chức làm công tác soạn thảo văn bản, đảm bảo kỹ thuật và thể thức trình bày văn bản.

    Lãnh đạo cần nắm rõ được năng lực của từng công chức làm công tác văn thư, lưu trữ để tổ chức đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho phù hợp với từng người. Việc cử công chức đi đào tạo phải có trọng tâm, cần phải xác định đúng các nội dung ưu tiên trong bồi dưỡng đào tạo. Ngoài trình độ về chuyên môn nghiệp vụ văn thư, lưu trữ, công chức cần phải bổ túc thêm về tin học để đáp ứng yêu cầu công việc tốt hơn; cần có chính sách khuyến khích, động viên tinh thần và vật chất nhằm nâng cao tinh thần làm việc của công chức kiêm nhiệm văn thư, lưu trữ. Hằng năm, nên tổ chức cho đội ngũ này đi tiếp cận thực tế tại các cơ quan lưu trữ như Chi cục Văn thư – Lưu trữ tỉnh.

    Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin:

    Hiện nay, ngoài nhiệm vụ bảo quản an toàn thì việc tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ là tất yếu của lưu trữ lịch sử, lưu trữ hiện hành theo xu thế phát triển của xã hội và hội nhập thế giới. Tài liệu lưu trữ được số hóa và bảo quản bằng file điện tử như PDF. Đây cũng là hình thức lưu trữ đang ngày càng phổ biến ở các thư viện và cơ quan lưu trữ trên thế giới.

    Thực hiện chủ trương ” Số hóa hồ sơ vụ án hình sự ” theo Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP ngày 01/02/2018 hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Kiểm sát viên tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu, khai thác, cập nhật tài liệu bất cứ lúc nào mà không phụ thuộc vào hồ sơ giấy; phục vụ tối đa cho hoạt động tranh tụng tại phiên tòa; lưu trữ gọn gàng, được lâu, tránh mối mọt và phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo điều hành như việc lãnh đạo đơn vị dễ dàng tiếp cận hồ sơ… Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lưu trữ sẽ thu hẹp được không gian lưu trữ, đồng thời, công tác quản lý tài liệu lưu trữ chặt chẽ hơn, truy xuất nhanh hơn.

    Văn phòng cần chủ động lập kế hoạch báo cáo lãnh đạo viện để mua sắm mới và thường xuyên bảo dưỡng, sửa chữa máy photocoppy để đảm bảo công việc sao in, nhân văn bản không bị gián đoạn

    Bố trí kho lưu trữ kiên cố, đảm bảo diện tích, đúng quy chuẩn:

    Về lâu dài, kho lưu trữ phải có hệ thống báo cháy khẩn cấp và có lắp đặt hệ thống phòng cháy tự động, hệ thống điện, hệ thống nước, chế độ nhiệt độ, độ ẩm, chế độ ánh sáng, chế độ thông gió. Trang thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ trong kho cần quan tâm đến những thiết bị: Cặp đựng tài liệu, giá để tài liệu, tủ đựng tài liệu, dụng cụ đo nhiệt độ – độ ẩm, quạt thông gió, máy hút ẩm, máy điều hoà không khí; dụng cụ làm vệ sinh tài liệu như máy hút bụi, máy lọc bụi toàn kho hoặc các phương tiện làm vệ sinh thông thường khác. Đồng thời, cần có những biện pháp, kỹ thuật bảo quản phù hợp như chống ẩm, nấm mốc, côn trùng, mối, chuột… tổ chức lại tài liệu trong kho, xử lý tài liệu trước khi nhập kho, xếp tài liệu trên giá, lập sơ đồ giá trong kho, đưa tài liệu ra sử dụng, kiểm tra tài liệu trong kho. Giải phóng không gian lưu trữ định kỳ hàng năm theo hướng thống kê, lựa chọn ra những tài liệu đã hết giá trị để tiến hành tiêu huỷ.

    Thường xuyên kiểm tra, đánh giá công tác văn thư, lưu trữ:

    Để đảm bảo công tác văn thư, lưu trữ được thực hiện tốt, ngoài một số biện pháp trên, cần thường xuyên tiến hành việc kiểm tra xem số văn bản tài liệu lưu trữ có đúng quy định, quy trình thực hiện các nghiệp vụ lưu trữ đúng hay không, nếu không đúng thì kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Qua công tác kiểm tra, bộ phận lưu trữ nói riêng và văn thư nói chung sẽ rút ra những mặt còn hạn chế để kịp thời khắc phục, sửa chữa.

    Thực hiện chính sách khen thưởng những công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ; khuyến khích tinh thần, tạo niềm đam mê, sáng tạo trong công việc. Đồng thời, xử lý nghiêm minh, kiểm điểm đối với công chức vi phạm các quy định về văn thư, lưu trữ, đặc biệt việc đảm bảo các tài liệu mật trong ngành Kiểm sát nhân dân./.

    Vũ Thị Tố Nga, VKSND tỉnh Sơn La

    (Theo Trang tin điện tử VKSND tỉnh Sơn La)

    Nhiệm Vụ Quyền Hạn Của Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học

    Cho mình hỏi Nhiệm vụ quyền hạn của văn thư lưu trữ trong trường học là như thế nào ạ? mình đang công tác tại 1 trường học [……………]

    Nhiệm vụ quyền hạn của văn thư lưu trữ trong trường học

    Cho mình hỏi nhiệm vụ quyền hạn của văn thư lưu trữ trong trường học là như thế nào ạ? mình đang công tác tại 1 trường học, mình thấy cô văn thư trường mình hơi quá đà tức là văn thư ngoài làm việc chuyên môn của mình còn chỉ đạo cả giáo viên và nhân viên trong trường, thậm chí còn chửi cả giáo viên khi phụ huynh tham gia đóng các khoản huy động thấp, vừa ỷ là đảng viên nữa nên chửi giáo viên trong trường không ra gì?

    Nội dung tư vấn về nhiệm vụ quyền hạn của văn thư lưu trữ

    1. Chức năng của văn thư lưu trữ trong trường học

    Điều 2 Thông tư 06/2015/TT-BNV chức năng nhiệm vụ quyền hạn tổ chức văn thư lưu trữ quy định chức năng của văn thư lưu trữ là:

    “1. Tổ chức văn thư, lưu trữ Bộ là Phòng Văn thư – Lưu trữ thuộc Văn phòng Bộ.

    2. Phòng Văn thư – Lưu trữ giúp Chánh Văn phòng Bộ tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý công tác văn thư, lưu trữ của các vụ, văn phòng, thanh tra, cục, tổng cục và các tổ chức tương đương, các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ và thực hiện công tác văn thư, lưu trữ của Bộ.”

    Theo quy định pháp luật, văn thư lưu trữ giúp Chánh văn phòng bộ tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý công tác văn thư, lưu trữ của các vụ, văn phòng, thanh tra, cục, tổng cục và các tổ chức tương đương, các đơn vi sự nghiệp công lập thuộc Bộ và thực hiện công tác văn thư, lưu trữ của Bộ.

    Như vậy, cán bộ văn thư lưu trữ trong trường của bạn có chức năng tham mưu cho thủ trưởng cơ quan của mình và làm công tác quản lý, lưu trữ các đơn thư, giấy tờ,… tại cơ quan mình.

    2. Nhiệm vụ quyền hạn của văn thư lưu trữ trong trường học

    Điều 3 Thông tư 06/2015/TT-BNV chức năng nhiệm vụ quyền hạn tổ chức văn thư lưu trữ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của văn thư lưu trữ là:

    Thứ nhất: Nhiệm vụ của phòng Văn thư – Lưu trữ giúp Chánh Văn phòng Bộ thực hiện:

    Xây dựng, trình Bộ ban hành các chế độ, quy định về văn thư, lưu trữ;

    Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật và của Bộ về công tác văn thư, lưu trữ;

    Xây dựng, tổ chức thực hiện các đề án, dự án, chương trình, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, hàng năm về công tác văn thư, lưu trữ;

    Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, sáng kiến vào công tác văn thư, lưu trữ;

    Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ văn thư, lưu trữ cho công chức, viên chức của Bộ;

    Thực hiện chế độ báo cáo đột xuất, báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê tổng hợp về công tác văn thư, lưu trữ và tài liệu lưu trữ theo quy định;

    Thực hiện sơ kết, tổng kết, thi đua, khen thưởng về công tác văn thư, lưu trữ.

    Thứ hai: Thực hiện công tác văn thư của Bộ

    Quản lý văn bản đi, văn bản đến;

    Quản lý sổ sách, cơ sở dữ liệu về văn bản;

    Quản lý, sử dụng con dấu của Bộ và các loại con dấu khác được giao;

    Hướng dẫn công chức lập hồ sơ; giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan;

    Thực hiện chế độ báo cáo, báo cáo thống kê cơ sở về công tác văn thư.

    Thứ ba: Thực hiện công tác lưu trữ của Bộ

    Thu thập hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan;

    Quản lý tài liệu lưu trữ điện tử, hướng dẫn lập hồ sơ, tài liệu điện tử;

    Phân loại, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu; thực hiện các thủ tục tiêu hủy tài liệu hết giá trị;

    Bố trí kho bảo quản và thực hiện nghiệp vụ bảo quản tài liệu;

    Tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ;

    Giao nộp hồ sơ, tài liệu thuộc diện nộp lưu vào Trung tâm Lưu trữ quốc gia;

    Thực hiện chế độ báo cáo, báo cáo thống kê cơ sở về công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ.

    Như vậy, cán bộ làm công tác văn thư ở trường của bạn có chức năng nhiệm vụ nêu trên. Cán bộ văn thư có thể thực hiện việc chỉ đạo các giáo viên trong Nhà trường nếu được Hiểu trưởng giao cho đảm nhiệm công tác này. Còn về việc cán bộ văn thư quát mắng giáo viên, nhân viên thì vi phạm đạo đức của Đảng viên và không có chức vụ nào có quyền quát máng người khác.

    , quý khách vui lòng liên hệ tới để được luật sư tư vấn Để được tư vấn vấn chi tiết về lĩnh vực lao động Tổng đài tư vấn pháp luật lao động 24/7: 19006500 hoặc Gửi câu hỏi về địa chỉ Email: lienhe@luattoanquoc.com Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

    Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

    Tăng Cường Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Trong Công Tác Văn Thư, Lưu Trữ

    ThS. Lê Văn Năng Trung tâm Tin học Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước

    1. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hành chính và công tác văn thư, lưu trữ 1.1. Thực trạng chung về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hành chỉnh

    Hiện nay, quá trình triển khai ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác quản lý hành chính gặp không ít khó khăn. Chưa hình thành được nguồn thông tin (dữ liệu) điện tử đủ nhiều và có chất lượng cao để phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, hỗ trợ lãnh đạo ra quyết định hành chính kịp thời; nhất là kết quả tin học hóa chưa hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định hành chính cũng như đáp ứng đầy đủ thông tỉn của doanh nghiệp và nhân dân; hỗ trợ các ngành kinh tế – xã hội khác phát triển. Mặc dù hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ đã hình thành, nhưng việc vận hành các hệ thống thông tin điện tử đã triển khai trong thời gian qua còn có nhiều hạn chế, không đồng đều giữa các địa phương.

    Bên cạnh những khó khăn về hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin chưa đủ, kinh phí vận hành còn eo hẹp, khó khăn lớn là quá trình cải cách hành chính nhà nước còn chậm, chưa hỗ trợ việc thay đổi phương thức làm việc trong môi trường công nghệ mới. Đội ngũ lãnh đạo, công chức, viên chức chưa có đủ trình độ, nhận thức, thói quen, chưa bắt kịp với yêu cầu làm việc chặt chẽ của hệ thống thông tin điện tử trong các cơ quan hành chính nhà nước.

    Việc nhận thức vai trò của ứng dụng CNTT mang lại hiệu quả cho công tác quản lý điều hành nói chung còn thấp, thể hiện ở đầu tư cho tin học hóa, bố trí thời gian, nguồn nhân lực của Bộ, tỉnh cho chương trình tin học hóa còn thấp, tình trạng cát cứ thông tin vẫn diễn ra. Công tác thông tin tuyên truyền hiểu rõ lợi ích của ứng dụng CNTT còn chậm, tỷ lệ tham gia dịch vụ điện tử của Chính phủ còn thấp. Tình trạng chậm ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã làm ảnh hưởng đến tiến độ triển khai các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, không tổ chức được nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước; không giải phóng được lưu lượng thông tin điện tử trao đổi trên mạng.

    Tuy còn những hạn chế nhất định, cùng với sự cố gắng của các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong việc ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tạo ra một phương thức làm việc mới có sử dụng CNTT trong các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu quả làm việc của lãnh đạo, công chức, viên chức nhà nước. Nhiều cơ quan nhà nước đã chuyển từ điều hành thủ công truyền thống sang điều hành qua mạng máy tính, thiết lập được hệ thống thông tin điện tử trong cả nước, hình thành hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ, bao gồm trung tâm tích hợp dữ liệu của các Bộ, các tỉnh, mạng cục bộ (LAN) của mỗi cơ quan thuộc cơ cấu bên trong của Bộ, tỉnh, mạng diện rộng liên kết các hệ thống tin học của Bộ, tỉnh. Trong đó điểm hội tụ của toàn hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ là cổng thông tin điện tử Chính phủ được khai trương và đưa vào vận hành.

    Hệ thống thông tin điện tử của các bộ, tỉnh đã vận hành các phần mềm ứng dụng tin học hóa quản lý hành chính nhà nước và cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo của bộ, tỉnh và Thủ tướng Chính phủ.

    Theo Báo cáo đánh giá xếp hạng trang/cổng thông tin và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin năm 2011, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và ủy ban nhân dân các các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cung cấp gần 1000 dịch vụ công trực tuyến (có hơn 800 dịch vụ mức độ 3 và 8 dịch vụ mức độ 4). Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước cũng đã được nâng cao: tỷ lệ cán bộ thường xuyên sử dụng email khá cao, hơn 80% đối với cơ quan cấp Bộ, trên 60% ở cấp quận/huyện, số liệu khảo sát về lưu trữ thông tin số trong các cơ quan nhà nước của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước năm 2011 cũng cho thấy: có 110/169 cơ quan, tổ chức được khảo sát sử dụng phần mềm để đăng ký văn bản đi, đến và 101/169 cơ quan, tổ chức đã trao đổi văn bản điện tử qua mạng, trong đó chủ yếu là trao đổi thư điện tử trong nội bộ (63,3%), với cơ quan cấp trên (53,3%), cấp dưới (51,5%) và ngang cấp (57,4%).

    1.2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác văn thư, lưu trữ

    Theo Luật Lưu trữ thì tài liệu lưu trữ điện tử được hình thành từ hai nguồn:

    – Được tạo lập ở dạng thông điệp dữ ỉiệu hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được lựa chọn để lưu trữ;

    – Được sổ hóa từ tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác.

    Trong đó, những đặc điểm sau đây được coi là quan trọng để xác định giá trị tài liệu lưu trữ điện tử:

    – Tồn tại một cách hoàn chỉnh và không bị sửa đổi như khi nó được tạo ra và lưu trữ lúc ban đầu;

    – Có mối liên kết rõ ràng với các tài liệu khác ở bên trong hoặc bên ngoài hệ thống thông qua mã phân loại hoặc các chỉ số nhận dạng riêng khác dựa trên nguyên tắc phân loại;

    – Có ngữ cảnh hành chính, có thể nhận dạng được;

    – Có tác giả, địa chỉ và thời gian tạo ra;

    – Phản ánh một vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có một số đặc điểm chung.

    a) Đối với nhóm tài ỉiệu lưu trữ điện tử được tạo lập ở dạng thông điệp dữ liệu hình thành trong quả trình hoạt động của cơ quan, to chức, cá nhân

    Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Công văn số 139/VTLTNN-TTTH ngày 14 tháng 3 năm 2009 về việc hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến và lập hồ sơ trong môi trường mạng. Nội dung văn bản hướng dẫn quy trình xử lý văn bản đi, văn bản đến và lập hồ sơ trong môi trường mạng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là công văn hướng dẫn chưa phải văn bản quy phạm pháp luật và nội dung văn bản chưa quy định điều kiện để bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng truy cập cũng như các yêu cầu của việc thu thập, lựa chọn, bảo quản, sử dụng đối với nhóm tài liệu này.

    Do chưa có văn bản quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc quản lý tài liệu lưu trữ điện tử nên tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý điều hành, đặc biệt là hệ thống quản lý, xử lý văn bản chưa theo yêu cầu của công tác văn thư, lưu trữ về quy trình tạo lập, chuyển giao, xử lý và lưu trữ văn bản ở giai đoạn văn thư cũng như việc chuyển giao vào lưu trữ để đảm bảo giá trị pháp lý và giá trị lưu trữ của văn bản, tài liệu. Phần mềm ứng dụng quản lý văn bản hiện nay ở hầu hết các cơ quan chủ yếu xuất phát từ nhu cầu phục vụ xử lý thông tin nhanh bằng phương tiện điện tử, tiết kiệm thời gian, mang lại hiệu quả thông tin kịp thời. Việc bảo đảm tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng trụy cập của tài liệu điện tử trong suốt vòng đời của tài liệu từ khi sản sinh, được lựa chọn để lưu trữ lâu dài chưa được thực hiện.

    b) Đổi với nhóm tài liệu được sổ hỏa từ tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác

    Trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trước đây và ngày nay ngoài tài liệu điện tử có rất nhiều tài liệu hình thành trên các vật mang tin khác. Việc số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác cũng là một nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan lưu trữ nhằm bảo quản lâu dài tài liệu lưu trữ và đáp ứng nhu cầu chia sẻ, cung cấp thông tin tài liệu lưu trữ một cách nhanh chóng, chính xác.

    Trong những năm qua, các Trung tâm Lưu trữ quốc gia thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước và nhiều địa phương đã tiến hành số hoá tài liệu lưu trữ để bảo quản và khai thác, sử dụng. Cụ thể như sau:

    Các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đã số hoá được khoảng 5.000.000 trang ảnh, 2.500 giờ ghi âm, cơ sở dữ liệu thông tin cấp 2 (meta data), 1.500.000 hồ sơ, văn bản.

    – Các Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh đã số hoá được khoảng: 12.000.000 trang ảnh, cơ sở dữ liệu thông tin cấp 2 (meta data), 4.500.000 hồ sơ, văn bản.

    Đối với việc quản lý tài liệu số hoá từ tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước đã ban hành Hướng dẫn số 169/HD-VTLTNN ngày 10 tháng 3 năm 2010 về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu lưu trữ. Nội dung văn bản hướng dẫn mô tả thông tin đầu vào đối với các tài liệu, hồ sơ công việc, cơ quan lưu trữ, phông/sưu tập lưu trữ, hồ sơ lưu trữ, văn bản trong hồ sơ lưu trữ. Tuy nhiên, văn bản chưa có các quy định về định dạng dữ liệu để trao đổi và lưu trữ.

    Từ những lý do trên dẫn đến những khó khăn trong việc chia sẻ thông tin, thu thập, nộp lưu giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân với lưu trữ cơ quan và lưu trữ lịch sử cũng như việc bảo quản, sao lưu dự phòng, khôi phục dự phòng tài liệu lưu trữ điện tử tại các cơ quan lưu trữ.

    Thực hiện nhiệm vụ này, trong thời gian tới cần phải có các quy định sau:

    – Tài liệu lưu trữ điện tử của cơ quan, tổ chức phải được lập hồ sơ, lựa chọn và bảo quản theo nghiệp vụ lưu trữ và kỹ thuật công nghệ thông tin trong hệ thống quản lý tài liệu điện tử.

    – Hệ thống quản lý tài liệu điện tử phải bảo đảm để tài liệu lưu trữ điện tử có tính xác thực, toàn vẹn, nhất quán, an toàn thông tin, có khả năng truy cập và chuyển đổi theo thời gian ở môi trường điện tử ngay từ khi tài liệu được tạo lập.

    – Bộ Nội vụ chủ trì, phối họp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử và trách nhiệm của các cá nhân, đem vị trong quá trình xử lý công việc trong hệ thống quản lý tài liệu điện tử.

    – Tài liệu lưu trữ điện tử hình thành từ việc số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn dữ liệu thông tin đầu vào. Đối với tài liệu lưu trữ có giá trị bảo quản vĩnh viễn, cơ quan, tổ chức, cá nhân không được hủy tài liệu trên các vật mang tin khác sau khi tài liệu này đã được số hoá.

    – Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm sử dụng chữ ký số để xác nhận tài liệu sau khi số hoá để bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn của tài liệu điện tử hình thành từ việc số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác.Chữ ký số của cơ quan, tổ chức phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về giao dịch điện tử.

    2.2. Công tác xác định giá trị tài liệu điện tử

    Tài liệu điện tử sẽ trải qua nhiều thay đổi từ thời điểm chúng được sản sinh cho đến khi hết giá trị hiện hành. Công nghệ thông tin luôn ở trong trạng thái phát triển, các cơ quan/tổ chức sản sinh ra tài liệu liên tục phải cập nhật các thay đổi đó trong các hệ thống thông tin của mình bao gồm cả các tài liệu “sống” trong các hệ thống đó. Trong mỗi lần chuyển đổi tài liệu hình thành trong một hệ thống đã lỗi thời sang một hệ thống mới, bên cạnh những thay đổi có chủ định, những thay đổi không cố ý vẫn xảy ra vì mỗi công nghệ có một sự định dạng, cách thức tổ chức dữ liệu khác nhau và đặc biệt là ngày càng ưu việt hơn. Như vậy, sẽ hình thành một “quy trình bảo quản liên tục”. Quy trình này bắt đầu khi tài liệu được tạo lập theo đúng những yêu cầu về tính xác thực đã đặt ra và tiếp tục với việc ghi chép lại/tài liệu hoá toàn bộ những thay đổi đối với tài liệu cũng như các quá trình đánh giá, chuyển giao, tái tạo và bảo quản tài liệu.

    Việc xác định giá trị tài liệu điện tử để lựa chọn cho lưu trữ, vì vậy phải bao gồm các hoạt động sau: thu thập thông tin về tài liệu và các bối cảnh của chúng; xác định giá trị của tài liệu; xác định tính khả thi của việc bảo quản tài liệu, và đưa ra quyết định đánh giá cuối cùng. Những thông tin về tài liệu cần được thu thập bao gồm thông tin về bối cảnh tạo lập và về bối cảnh công nghệ – thông tin làm cơ sở và căn cứ vào đó, tài liệu được xem là xác thực. Việc xác định giá trị đòi hỏi phải xác định cả giá trị cần tiếp tục bảo quản của tài liệu điện tử và tính xác thực của chúng. Tóm lại, việc xác định giá trị tài liệu bao gồm 4 phần:

    – Phải xem xét, xác định tính xác thực của tài liệu;

    – Phải xác định tính khả thi của việc bảo toàn tính xác thực của tài liệu trong suốt quá trình bảo quản, khai thác sử dụng sau này;

    – Các tiêu chuẩn đánh giá và việc đánh giá phải được thực hiện ngay từ đầu trong vòng đời của tài liệu;

    – Phải liên tục giám sát tài liệu của cơ quan/tổ chức sản sinh ra tài liệu. Đe bảo đảm các yêu cầu này, cần có những quy định theo nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn xác định giá trị nội dung tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác.

    Cùng với sự lựa chọn và thay đổi của các phương tiện lưu trữ này là sự nâng cấp nền tảng công nghệ. Phương tiện lưu trữ được thực hiện trong môi trường công nghệ này không thể sử dụng được trong môi trường công nghệ mới. Vì vậy, phải có những biện pháp kịp thời để xử lý. Cơ hội đối với công tác thu thập, bảo quản tài liệu điện tử là vật mang tin có dung lượng lớn, có thể chuyển giao dưới nhiều hình thức: băng từ, đĩa chúng tôi DVD, đĩa lưu trữ trực tuyến…tiết kiệm được thời gian, kho tàng, nhân lực.

    2.4. Công tác tồ chức phục vụ khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ điện tử

    Khác với các phương pháp lưu trữ truyền thống như lưu trữ trên giấy, băng từ, micro film hay một số phương tiện mang tin khác, công nghệ thông tin tỏ rõ thế mạnh trên tất cả các phương diện như: có thể tra cứu thông tin tài liệu lưu trữ theo nhiều chiều, đối với các loại hình tài liệu, đối với nhiều phông; có thể phục vụ đồng thời nhiều độc giả cùng một thời điểm; có thể lưu trữ trên nhiều phương tiện, bảo quản ở nhiều nơi, bảo đảm tính an toàn của các cơ sở dữ liệu; cung cấp công cụ quản lý hiện đại cho công tác lưu trữ như thống kê lưu trữ, quản lý độc giả, quản lý kho, quản lý môi trường bảo quản (nhiệt độ, độ ảm). Đe tăng cường phục vụ khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ điện tử nhằm phát huy giá trị tài liệu lưu trữ, định hướng quản lý trong thời gian tới như sau:

    – Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm đăng tải các thông tin về quy trình, thủ tục, chi phí thực hiện dịch vụ sử dụng tài liệu lưu trữ điện tử trên trang tin điện tử của cơ quan, tổ chức.

    – Khuyến khích các cơ quan, tổ chức thực hiện dịch vụ sử dụng tài liệu lưu trữ điện tử trực tuyến.

    – Bộ Nội vụ hướng dẫn các chức năng cơ bản của phần mềm phục vụ công tác quản lý và sử dụng tài liệu lưu trữ điện tử.

    – Triển khai phần mềm phục vụ công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại các cơ quan lưu trữ là nguồn nộp lưu vào các Trung tâm Lưu trữ quốc gia đáp ứng các yêu cầu đồng bộ hoá dữ liệu và tích hợp dữ liệu từ các cơ quan lưu trữ; phục vụ khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ trực tuyến đáp ứng yêu cầu ở mức độ 4:

    + Thông tin về quy trình, thủ tục thực hiện dịch vụ khai thác sử dụng tài liệu lưu trữ trực tuyến, các giấy tờ cần thiết, các bước tiến hành, thời gian thực hiện, chi phí thực hiện dịch vụ;

    + Cho phép độc giả tải về mẫu đơn, hồ sơ để độc giả có thể in ra giấy, hoặc điền vào các mẫu đơn. Việc nộp lại hồ sơ sau khi hoàn thành được thực hiện qua đường bưu điện hoặc độc giả trực tiếp mang đến các Trung tâm Lưu trữ quốc gia;

    + Độc giả có thể điền trực tuyến vào các mẫu đơn, hồ sơ và gửi lại trực tuyến các mẫu đơn, sau khi điền xong tới các Trung tâm Lưu trữ quốc gia. Các yêu cầu đọc tài liệu và trả lời yêu cầu được thực hiện qua mạng. Tuy nhiên, việc thanh toán chi phí và trả kết quả sẽ được thực hiện khi độc giả đến trực tiếp các Trung tâm Lưu trữ quốc gia;

    + Ngoài các mức độ trên, việc thanh toán chi phí được thực hiện trực tuyến, việc phục vụ độc giả được thực hiện trực tuyến.

    Hiện nay, Lưu trữ tại các nước phát triển, đã thực hiện việc thu thập tài liệu lưu trữ điện tử hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân và số hóa tài liệu lưu trữ để xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo lập các dịch vụ khai thác sử dụng thông tin tài liệu lưu trữ như các hệ thống thông tin: địa chính, thăm dò tài nguyên, nông nghiệp, khoa học công nghệ. Cùng với đó là các dịch vụ lưu trữ, khai thác và tìm kiếm thông tin ngày càng phát triển với tốc độ nhanh chóng. Bởi vậy, vấn đề quản lý công tác: thu thập; xác định giá trị tài liệu; bảo quản an toàn; tổ chức khai thác, sử dụng; bảo đảm tính xác thực và toàn vẹn thông tin tài liệu lưu trữ điện tử là một vấn đề có tính cấp bách và cũng là thách thức cần phải được các cơ quan quản lý lưu trữ có thẩm quyền đầu tư nghiên cứu và ban hành các chính sách. Nếu không, có thể xảy ra việc các cơ quan lưu trữ không thể thu thập được tài liệu điện tử hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; không bảo đảm tính toàn vẹn, tính xác thực trong quá trình thu thập và bảo quản; không bảo đảm được khả năng truy cập trong quá trình bảo quản do lạc hậu về công nghệ./.

    Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài: Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Văn Thư Lưu Trữ Trong Trường Học trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!