Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số # Top 5 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số là một trong những khâu quan trọng giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho học sinh. Thông qua các hình thức sinh hoạt chuyên môn, nhà trường chú trọng bồi dưỡng cho giáo viên một số vấn đề cơ bản sau: – Bản chất của tăng cường tiếng Việt là giúp học sinh chưa biết hoặc biết nói ít tiếng Việt có thể học tập các môn học trong hệ thống giáo dục sử dụng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức. Tăng cường tiếng Việt không có nghĩa là tăng thêm lượng kiến thức mà chúng ta có thể giảm bớt hay nói cách khác là điều chỉnh lượng kiến thức làm cho nó dễ hiểu hơn, phù hợp hơn với đối tượng học sinh. – Tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số có vai trò quan quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh. Bởi vì, đối với học sinh dân tộc thiểu số tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2. Học sinh học bằng ngôn ngữ 1 (NN1) so với ngôn ngữ 2 (NN2) có sự khác biệt, cụ thể: + Học sinh học bằng NN1 có vốn tiếng Việt khoảng 4000 từ (trước khi đi học), tư duy trực tiếp bằng TV (tiếp cận TV tự nhiên), tiếp thu ngôn ngữ hiệu quả từ nghe – nói – đọc – viết và có tác động tích cực của gia đình, cộng đồng. + Học sinh học bằng NN2 thường không biết hoặc biết ít tiếng Việt, tư duy gián tiếp (tiếp cận tiếng Việt áp đặt), tiếp thu tiếng Việt hạn chế do không hình thành ngay được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa – ngữ pháp. Các em ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng và chịu sự ảnh hưởng tiêu cực của tiếng mẹ đẻ. – Khi thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh, giáo viên cần giúp các em tiếp cận với kiến thức, kĩ năng các môn học thông qua kinh nghiệm mà các em trích lũy được trước đó (có thể bằng tiếng mẹ đẻ), theo mức độ từ dễ đến khó. Chú ý đến học sinh, đến cuộc sống và môi trường học tập của các em, tạo điều kiện để học sinh được học tập theo đặc điểm cá nhân. Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Sử dụng đồ dùng học tập đa dạng, thường xuyên trong các hoạt động học tập. Hiểu được sự khác biệt giữa học sinh kinh và học sinh dân tộc thiểu số khi học tiếng việt sẽ giúp giáo viên lựa chọn được những phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số ở địa phương; tạo điều kiện thuận lợi để giúp học sinh học bằng NN2 lấp được chỗ trống về sự chênh lệch khoảng 4000 từ (trước khi đến trường). b.2. Thực hiện hiệu quả công tác Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ trước tuổi đến trường Chuẩn bị tiếng Việt là bước đầu của tăng cường tiếng Việt. Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một giúp các em có thể nghe hiểu một số câu, từ ngữ để giao tiếp với giáo viên, bạn bè; nhận diện được các chữ cái tiếng Việt, biết cách cầm bút, tư thế ngồi viết, thuộc một số bài hát, các nề nếp học tập…; có tâm thế sẵn sàng đi học, học các môn học và thực hiện các hoạt động giáo dục. Công tác chuẩn bị tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số thường được tổ chức trong dịp hè, trong khoảng thời gian một tháng vào trước năm học. Để thực hiện hiệu quả công tác này, trước hết, lãnh đạo nhà trường cần xây dựng kế hoạch Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số trước khi học lớp một; phân công nhiệm vụ cụ thể và triển khai kế hoạch kịp thời đến từng giáo viên trong trường; phối hợp tốt với thôn buôn và cha mẹ học sinh điều tra vận động học ra lớp. Chương trình học được thực hiện theo chương trình “Tập nói tiếng Việt cho học sinh dân tộc” theo tài liệu “Kế hoạch bài học Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em trước tuổi đến trường” của Bộ (tài liệu  được cấp phát cho giáo viên tập huấn hè 2008), gồm 60 bài, 180 tiết. Căn cứ vào đối tượng HS cụ thể của từng lớp, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo giáo viên lựa chọn một số nội dung ở tài liệu (phù hợp với đối tượng) để dạy cho trẻ. Ví dụ: – Căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, giáo viên lựa chọn số lượng, thời lượng bài dạy cụ thể trong thời gian một tháng như sau: Tổng số bài dạy là 30 bài, mỗi bài học trong 03 tiết, mỗi tiết khoảng 30 phút, sau mỗi tiết học có 05 phút chuyển tiết, giữa mỗi buổi học có 15 phút để vui chơi. – Trong mỗi tiết học, ngoài thời gian tập nói, giáo viên dành từ 15 đến 20 phút để hướng dẫn học sinh tập nhận diện các chữ cái từ dễ đến khó, tập tô, tập viết các âm vần. Để đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần tăng cường việc sử dụng đồ dùng dạy học (các thiết bị dạy học, tranh ảnh trực quan, đồ dùng dạy học tự làm…), tuyệt đối tránh dạy chay, hình thức. Cuối đợt học, giáo viên tổ chức khảo sát với từng học sinh để có kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng trong năm học. Đa số học sinh tham gia học tập là học sinh dân tộc thiểu số có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không thể vận động các em đóng góp để chi trả tiền bồi dưỡng cho giáo viên. Vì vậy, nhà trường có thể trích nguồn kinh phí chi thường xuyên của đơn vị để động viên, bồi dưỡng cho giáo viên trực tiếp giảng dạy. b.3. Tăng cường tiếng Việt trong các môn học Như chúng ta đã biết, trong điều kiện thực hiện một chương trình và một bộ sách giáo khoa, dù dạy học các môn học, bài học bằng tiếng Vệt cho học sinh Kinh hay học sinh dân tộc thiểu số thì giáo viên đều phải bám sát một chuẩn chung quốc gia về kiến thức và kĩ năng của các môn học. Để đáp ứng chuẩn này, khi dạy học các môn học cho học sinh dân tộc thiểu số, giáo viên cần tiến hành một số biện pháp tăng cường tiếng Việt nhằm giúp học sinh học bằng tiếng Việt có hiệu quả. – Chỉ đạo giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, thời lượng dạy học các môn học khác để tập trung vào dạy môn Tiếng Việt, Toán. – Thực hiện dạy học phân hóa đối tượng học sinh như: phân hóa theo sở thích, khả năng tiếp thu, đặc điểm cá nhân của học sinh,… – Sử dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học; tăng cường tổ chức dạy học theo nhóm, trò chơi học tập; sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên, có hiệu quả; khuyến khích sử dụng các trò chơi học tập để tăng cường tiếng Việt và yêu thích tiếng Việt cho học sinh. – Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích giáo viên tự học tiếng mẹ đẻ của học sinh để giúp các em vượt qua rào cản ngôn ngữ (có thể sử dụng song ngữ để giải nghĩa từ,) – Sử dụng hiệu quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Tài liệu bổ trợ tiếng Việt 1,2,3” để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong các buổi học thứ hai. – Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn để tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học (giáo viên chủ nhiệm lập danh sách những học sinh cần tăng cường tiếng Việt cho giáo viên bộ môn, giáo viên bộ môn dành thời gian trong mỗi tiết học để tăng cường tiếng Việt cho học sinh). – Riêng khối lớp một, chỉ đạo giáo viên thực hiện phương án tăng thời lượng tiếng Việt từ 350 tiết lên 500 tiết (3 tiết/ bài) đối với chương trình hiện hành ( trong những năm học trước và năm học 2016-2017). Bên cạnh việc thực hiện tăng cường tiếng Việt cho học sinh trong tất cả các môn học, việc tổ chức dạy học môn Tiếng Êđê cho học sinh dân tộc thiểu số trong nhà trường cũng rất cần thiết. Học tiếng mẹ đẻ không chỉ giúp học sinh biết giữ gìn những bản sắc văn hóa riêng, chữ viết của dân tộc mình mà còn hỗ trợ đắc lực cho các em trong việc học tập các môn học khác, đặc biệt là môn tiếng Việt. Để giúp giáo viên thực hiện hiệu quả các biện pháp tăng cường tiếng Việt trong các môn học, lãnh đạo nhà trường phải thực sự đồng hành cùng giáo viên. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ thăm lớp, lãnh đạo nhà trường góp ý, chia sẻ và cùng giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thực hiện. b.4. Xây dựng môi trường học tiếng Việt cho học sinh b.4.1. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường Những ấn tượng trực giác hết sức quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt là giai đoạn đầu của bậc tiểu học. Nếu hằng ngày học sinh học sinh được tiếp xúc với một không gian lớp học và trường học tiếng Việt, thì chắc chắn tiếng Việt sẽ dần dần được khắc sâu vào trí nhớ của các em. Vì vậy, xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường là một trong những yếu tố giúp giáo viên thực hiện hiệu quả công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tùy vào tình hình thực tiễn, nhà trường định hướng cho giáo viên tạo cảnh quan tiếng Việt phù hợp. Ví dụ: – Đối với không gian trường học tiếng Việt có thể là: khẩu hiệu, áp phích, bản tin,; tên lớp, tên phòng chức năng, Bên cạnh đó, nhà trường cần thực hiện tốt việc xây dựng mô hình thư viện trường học thân thiện: thư viện xanh, thư viện lớp học, thư viện lưu động,Tăng cường các hoạt động giao tiếp trong trường học, lớp học thông qua hoạt động học tập, vui chơi,để thực hiện hiệu quả xây dựng môi trường học tiếng Việt trong nhà trường. b.4.2. Xây dựng môi trường học tiếng Việt trong gia đình – Khảo sát để nắm được điều kiện cụ thể của từng gia đình học sinh như: ti vi, sách báo, góc học tập, – Xây dựng kế hoạch vận động, hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo môi trường tiếng Việt phù hợp với điều kiện từng gia đình, như: tạo góc học tập cho con em, đóng bàn ghế học tập, chọn vị trí đặt bàn học đủ ánh sáng, trang trí góc học tập (thời khóa biểu, giấy khen,); hướng dẫn cha mẹ học sinh tạo điều kiện về thời gian và nhắc nhở con em học bài, quan sát việc học của con em, nhắc nhở con em nghe radio, xem ti vi, đọc sách báo (nếu gia đình có), khuyến khích cha mẹ học sinh giao tiếp với con bằng tiếng Việt, b.4.3. Tổ chức hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp Hoạt động ngoài giờ lên lớp đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường. Chính từ những hoạt động như: hoạt động tập thể, hoạt động xã hội,…không chỉ trang bị cho các em những kiến thức cơ bản mà còn góp phần thực hiện hiệu quả việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, trau dồi cho các em những kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp, hình thành nhân cách học sinh, đem lại niềm vui cho các em khi đến trường. Để tổ chức hiệu quả các động ngoài giờ lên lớp, chúng tôi đã giao nhiệm vụ cho Tổng phụ trách đội phối hợp với Bí thư đoàn trường căn cứ hướng dẫn về hoạt động ngoài giờ lên lớp của Phòng Giáo dục và Đào tạo, nhiệm vụ năm học của nhà trường và đối tượng học sinh để xây dựng kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp ngay từ đầu năm. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc triển khai thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình thực hiện. * Một số hình ảnh Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp H1: Hội thi Phụ trách đội giỏi H2: Tổ chức các trò chơi dân gian trong tiết Hoạt động tập thể đầu tuần Bên cạnh việc tổ chức các hội thi, xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp cũng là một trong những tiêu chí được nhà trường hết sức quan tâm. Trước hết, phải xác định mục tiêu rõ ràng để giáo viên và học sinh thực hiện: giữ vệ sinh khuôn viên trường, vệ sinh nguồn nước, hệ thống thoát nước; giữ gìn vệ sinh và cảnh quan môi trường, có nhiều cây xanh bóng mát trong sân trường,… Tổ chức cho học sinh chăm sóc cây thường xuyên; vệ sinh phòng học đủ ánh sáng, thoáng mát, bàn ghế đúng qui cách, đủ chỗ ngồi; trang trí lớp học thân thiện. Tổ chức hiệu quả các hoạt động tập thể lành mạnh giúp xây dựng mối quan hệ tốt giữa thầy và trò, trò và trò. Giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt, ứng xử hợp lí các tình huống trong cuộc sống, kĩ năng làm việc và học tập theo nhóm, có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khoẻ, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội vì vậy, trong những năm học gần đây, không có tai nạn đáng tiếc nào xẩy ra với học sinh. Các em tự tin hơn trong giao tiếp, tích cực, tự giác hơn trong việc chấp hành các nội quy của nhà trường. b.5. Tăng cường công tác vận động duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần Duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh nói chung và công tác tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số nói riêng. Nó là nền tảng giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ và mang lại kết quả học tập tốt nhất. Để làm tốt công tác duy trì sĩ số, tăng tỉ lệ chuyên cần, chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp sau: b.5.1. Công tác phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Bác Hồ đã chỉ rõ: “ Giáo dục các em là việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách, trước hết là phải làm gương cho các em hết mọi việc”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục học sinh. Muốn công tác phối hợp đạt hiệu quả cao, trước hết nhà trường phải thực sự là trung tâm văn hóa giáo dục ở địa phương. Luôn gương mẫu trong việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Từ đó, địa phương sẽ đồng thuận, đồng lòng, đồng sức tham gia xây dựng nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên. Chuẩn bị cho năm học mới, ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức thống kê số liệu học sinh đầu năm; tích cực tham mưu với cấp ủy, chính quyền phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể địa phương tập trung truyên truyền lồng ghép trong các buổi họp thôn buôn, thông qua đài truyền thanh của xã về ngày toàn dân đưa trẻ đến trường. Làm tốt công tác tuyển sinh trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Đối với những gia đình ở xa thôn buôn, chúng tôi phân công giáo viên dân tộc tại chỗ đến tận nhà học sinh để vận động cha mẹ học sinh đưa trẻ đến trường nhập học. Sau ngày tựu trường, chỉ đạo giáo viên nắm tình hình sĩ số học sinh đến lớp, tìm hiểu nguyên nhân những học sinh chưa ra lớp, phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền thôn buôn tìm biện pháp vận động phù hợp với từng đối tượng học sinh để huy động tối đa số học sinh trong độ tuổi đến trường. Thường xuyên kiểm tra việc đi học chuyên cần của học sinh nhằm phát hiện kịp thời những đối tượng học sinh có nguy cơ bỏ học để có giải pháp khắc phục, không để học sinh bỏ học lâu ngày rồi mới tìm hiểu nguyên nhân và vận động. Phối hợp với ban chỉ đạo xã tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình và cộng đồng về vai trò của công tác giáo dục. Vận động các gia đình tạo điều kiện cho con em được đi học và thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể cùng quan tâm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của địa phương. Từ đó, huy động các nguồn lực và các lực lượng tích cực vận động học sinh đi học, học sinh bỏ học trở lại trường, hỗ trợ kịp thời những gia đình khó khăn để con em họ được đến trường như: hỗ trợ quần áo, sách vở, đồ dùng học tập… b.5.2. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc giúp nhà trường thực hiện tốt công tác giáo dục học sinh, trong đó có công tác duy trì sĩ số. Một giáo viên chủ nhiệm tốt không chỉ giúp lớp mình học tốt mà còn biết cách để giúp học sinh siêng năng học tập, yêu thích đến trường và làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh. Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong công tác duy trì sĩ số, đảm bảo chuyên cần, ngay sau khi tổ chức bàn giao chất lượng học sinh, chúng tôi tổ chức giao nhiệm vụ, chỉ tiêu duy trì sĩ số học sinh cho từng giáo viên chủ nhiệm lớp, xem đó là một trong những tiêu chí quan trọng để xét thi đua cuối năm. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm kiểm tra thường xuyên việc đi học chuyên cần của học sinh. Nếu học sinh nghỉ học không có lý do quá hai ngày, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm đến nhà học sinh để vận động các em trở lại lớp. Trường hợp học sinh vẫn không ra lớp sau khi đã được vận động thì phải báo ngay cho ban giám hiệu nhà trường để kịp thời phối hợp ban đại diện cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương có biện pháp vận động học sinh đi học lại. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên phối hợp chặt chẽ với gia đình để giáo dục học sinh. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm cần hướng dẫn, khuyến khích học sinh tham gia tích cực các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Bằng việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ giúp các em được tiếp xúc với môi trưòng rộng lớn hơn, phong phú hơn. Từ đó, học sinh học hỏi được nhiều hơn, có kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Việt tốt hơn, yêu thích đến trường hơn và từng bước giúp các em hoàn thiện nhân cách của mình. b.5.3. Phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn Sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn có vai trò hết sức quan trọng trong công tác duy trì sĩ số học sinh, đặc biệt là tỉ lệ chuyên cần của học sinh trong các buổi học thứ hai. Vì vậy, bên cạnh việc giao trách nhiệm cho giáo viên chủ nhiệm, chúng tôi cũng gắn trách nhiệm cho giáo viên bộ môn trong công tác phối hợp vận động học sinh đi học đều, duy trì sĩ số học sinh. Học sinh thường vắng học vào buổi học thứ hai có thể vì do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên các em ở nhà phụ giúp gia đình tăng thêm thu nhập. Cũng có thể vì các em không thích môn học do giáo viên bộ môn dạy,…Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm cần tìm hiểu nguyên nhân, phối hợp cùng giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có kết quả học tập tốt hơn ở các môn học, từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn. Hơn nữa, thông qua việc trao đổi với giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm sẽ nắm được

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc

Học sinh là người dân tộc thiểu số vốn dĩ rất nhút nhát, ngại giao tiếp với bạn bè người Kinh và thầy cô giáo. Nhiều em khi thầy cô gọi đứng dậy trả lời chỉ đứng và im lặng vì hoặc là không hiểu được câu hỏi hoặc là không tự tin với những câu trả lời bằng tiếng phổ thông của mình do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế. Trong khi chương trình sách giáo khoa quá tải, chưa thật sự phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số; giáo viên thì ôm đồm, “tham”, chạy đua với thời gian, tìm mọi cách để làm sao truyền đạt, chuyển tải hết những kiến thức trong sách giáo khoa trong thời gian của 1 tiết học. Do đó tiết học thường rơi vào tình trạng hối hả nhưng trầm lặng, nặng nề, khô khan và thường diễn ra theo hướng một chiều. Vì vậy, muốn tiết dạy đạt hiệu quả cần tạo ra một không khí thật nhẹ nhàng, hấp dẫn. Đây là giải pháp đặc trưng trong quá trình giảng dạy đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các Bậc học đặc biệt là bậc Mầm non.

Hiểu được tâm lý của học sinh dân tộc thiểu số, trường tiểu mẫu giáo Hoa Tang Bi đã có những chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và nhiều giáo viên ở trường mẫu giáo Hoa Tang Bi đã áp dụng những phương pháp phù hợp tùy theo các môn học nhưng đều chú trọng đến những yếu tố vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những trò chơi ở tất cả các môn học (chủ yếu là các trò chơi về ngôn ngữ, trò chơi trí tuệ sử dụng ngôn ngữ) như: Đọc thơ luyện phát âm cho trẻ…

* Tạo điều kiện bồi dưỡng cho giáo viên học tiếng Êđê

Cán bô, giáo viên, nhân viên trong nhà trường có rất nhiều thuận lợi để học tiếng Êđê để phục vụ cho việc giao tiếp với trẻ, vì ở trường chiếm 50% là giáo viên người Êđê, tiếp xúc và trao đổi những câu từ đơn giản và thông dụng nhất, nhà trường cũng tạo điều kiện và khuyên khích chị em đi học lớp học tiếng Êđê và tìm hiểu thêm về bản sắc và phong tục tập quán của người Êđê.

* Kết hợp với hội cha mẹ học sinh là người Êđê

Nhà trường và Ban chấp hành hội phụ huynh cùng nhau kết hợp để tham gia tổ chức các phong trào của nhà trường cũng như của ngành đưa ra. Tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các khối lớp với nhau, tổ chức các ngày lễ hội như ngày 8/3, Gia đình dinh dưỡng trẻ thơ…để có dịp giao tiếp giữa cô trò và cả phụ huynh gần gũi thân mật, tự tin hơn.

* Kết hợp với Ban tự quản thôn, Buôn, tổ dân phố

Ban giám hiệu nhà trường cùng kết hợp với Ban tự quản, thôn, Buôn, tổ dân phố tổ chức họp dân trong Buôn để tuyên truyền rộng rãi các mặt hoạt động tổ chức của nhà trường và có ích cho nhân dân, như đưa con em đi học đầy đủ khi đến tuổi đi học, để trẻ nhanh tiếp xúc và giao tiếp với bạn bè ở trường bằng tiếng phổ thông, trẻ được học, được chơi sạch sẽ. Tham gia đầy đủ các phong trào của trường tổ chức cũng như của thôn, Buôn tổ chức.

Thời gian hè đề nghị đoàn thanh niên của Buôn phải tổ chức những trò chơi có ích cho trẻ, được giao lưu học hỏi từ bạn bè, giao tiếp với bạn bè bằng tiếng phổ thông. Tạo sự mạnh dạn cho trẻ khi đi học tốt hơn, trẻ sẽ không bị nhút nhát hoặc kì thị phân biệt ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ.

Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việc Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Ở Lớp Lá

Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ của giáo dục Mầm non là khâu đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo viên Mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việc đào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa, tuỳ theo mỗi độ tuổi mà nội dung giáo dục khác nhau. Trẻ ở độ tuổi mầm non là tuổi học nói, những nhu cầu của trẻ thông qua lời nói để đến với người lớn, chính vì thế cung cấp Tiếng việt cho các cháu, nhất là trẻ người dân tộc thiểu số là rất quan trọng. Phần đa các cháu dân tộc thiểu số thường hay dùng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, nên khi đến lớp các cô giáo của cháu là người kinh cháu không biết tiếng kinh nên trong qúa trình cô giáo giảng dạy bằng tiếng việt thì trẻ rất khó tiếp thu bài giảng cũng như những chỉ dẫn, khẩu lệnh của cô trẻ không hiểu để thực hiện, cháu trở nên nhút nhát, thụ động, thậm chí tự ti, mặc cảm, dẫn đấn khả năng tiếp thu bài rất chậm. Bởi thế nên việc tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số là vấn đề đáng để tất cả chúng ta quan tâm, việc làm này sẽ góp phần vào việc hình thành và phát triển toàn diện cho trẻ.

Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy các cháu lớp 5 tuổi của trường mẫu giáo Hoa Thủy Tiên với số lượng trẻ hàng năm của lớp tôi là 35-40 cháu trong đó số trẻ con em dân tộc thiểu số chiếm 90%. Đa số các cháu là người dân tộc ê đê, các cháu lên lớp đều nói bằng tiếng mẹ đẻ, không hiểu được tiếng Việt, vì trình độ dân trí thấp nên bố mẹ các cháu chưa thực sự quan tâm đến việc việc học tập của con em mình, còn các cháu thì vì không hiểu tiếng việt nên các hoạt động trên lớp của giáo viên chưa cảm hóa, thu hút được trẻ đến lớp đầy đủ.

Cùng một môi trường học tập như nhau, cũng bài học đó, lượng kiến thức đó, phương pháp đó sao sự chêng lệch về khả năng tiếp thu của trẻ người kinh và trẻ người dân tộc thiểu số lại cách xa nhau đến vậy? phải chăng là bất đồng ngôn ngữ, là vốn tiếng việt của trẻ dân tộc thiểu số quá ít, bởi vì mọi cử chỉ, hành động của con người đều thông qua ngôn ngữ để hiểu và làm theo nhưng chính vì trẻ không hiểu nên không biết để làm theo.

Đứng trước thực trạng đó tôi rất băn khoăn, lo lắng phần vì ngay từ đầu năm mồi giáo viên đã kí cam kết chất lượng với hiệu trưởng phải thực hiện đúng yêu cầu mục tiêu giáo dục độ tuổi. Trẻ 5 tuổi khi ra lớp một trong những mục tiêu đó là trẻ phải thuộc 29 chữ cái, 10 chữ số thuộc một số bài thơ, biết kể một số câu chuyện … làm thế nào để tất cả các cháu cuối năm học đều đạt được yêu cầu cần đạt theo bộ chuẩn đây? Khi các cháu con em dân tộc thiểu số đến lớp chưa biết nghe, nói và chưa hiểu tiếng kinh? đó là câu hỏi, là nổi lo lắng, băn khoăn mà hàng đêm tôi trăn trở, phần nữa là lương tâm trách nhiệm của người giáo viên tôi không thể hàng ngày đến lớp hết giờ ra về mặc cho các cháu với một hành trang trống rỗng khi ra trường, vậy nên bản thân tôi tự thấy mình cần tìm cách nghiên cứu, chọn lọc một số phương pháp, biện pháp để cho các cháu học sinh dân tộc trong lớp của tôi biết nghe, nói và hiểu tiếng việt. Để các cháu không tự ti,mặc cảm, thích thú đến lớp, vốn tiếng việt được tăng lên, biết giao tiếp băng tiếng việt để từ đó thu hút trẻ hứng thú tham gia vào các hoạt động trong lớp để cuối năm trẻ có một hàng trang vững bước vào lớp 1.

Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp, biện pháp:

*Giải pháp thứ nhất: “Tạo hứng thú cho trẻ đi học chuyên cần ”

Ngay từ đầu năm học tôi lên kế hoạch để duy trì sĩ số học sinh, duy trì tỉ lệ các cháu đi học chuyên cần 97%. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm tôi đã huy động phụ huynh động viên trẻ đến trường, tuyên truyền cho cha mẹ trẻ về nội dung của các môn học, các hoạt động ở bậc học mẫu giáo nhất là lớp 5-6 tuổi, đó là gốc rễ, nền móng cho các cháu trong chương trình của tiểu học mà gần nhất là lớp 1 trong năm học tới của các cháu.

Phải làm sao để các cháu thực sự thích đến lớp mỗi ngày để các cháu được tiếp thu, được lĩnh hội đầy đủ kiến thức là hành trang theo cháu vào lớp 1. Trong khi các cháu phần đông là năm đầu đi học mẫu giáo lớp 5 tuổi mà không qua lớp mầm, chồi, rồi ngôn ngữ tiếng việt của các cháu thì hạn chế, bố mẹ đưa đến lớp các cháu còn khóc nhè đòi về, cô dỗ cháu không hiểu tiếng kinh, nên không nín. Phụ huynh thì chiều con thấy con khóc thì không muốn cho con học nữa, còn mong muốn con lớn lên có đất, có rẫy làm là được rồi. Trước cách nghĩ đó tôi thật sự rất lo lắng tôi đã tự nhủ mình phải thu hút được các cháu đến lớp đã sau đó rồi tính tiếp, hàng ngày phụ huynh đưa trẻ đến lớp tôi trò chuyện với họ, kể cho họ nghe một số trường hợp các cháu ở trong buôn năm học 2018-2019 đủ tuổi vào lớp 1 mà chưa qua mẫu giáo vào học lớp 1 được một thời gian rồi gia đình đến gặp hiệu trưởng trường mẫu giáo xin gửi vào học mẫu giáo để cho biết chữ cái đã chứ chưa biết chữ cái vào học lớp 1 không theo được các bạn…

Tôi cũng đưa ra một số gương mặt các cháu người dân tộc thiểu số đi học chuyên cần từ lớp 3-4, 4-5 tuổi giờ đang học lớp 5-6 tuổi thì cháu rất mạnh dạn, trong năm học cô cho cháu tham gia các hội thi mà nhà trường tổ chức cháu đạt kết quả cao như cháu H Quy, cháu Hà Thị Gia Như , Hà Thị Linh Đan…….

– Những việc làm đó thật đơn giản nhưng với những trẻ không hiểu tiếng kinh thì với tôi đó lại là một thách thức lớn bởi bản thân tôi là một giáo viên người kinh vậy nên để làm được điều đó tôi đã phải nhờ cô giáo H Trinh (Một đồng nghiệp chủ nhiệm lớp chồi bên cạch lớp tôi) chỉ cho tôi một số tiếng dân tộc như: ‘Nín đi, đừng khóc nữa, học ngoan chiều bố mẹ đón về, muốn đi tiểu con hãy xin cô, lúc vào học không được nói chuyện….” . Những việc làm đó tôi không quên thực hiện thường xuyên xen kẽ một cách sáng tạo đi kèm những lời nói, việc làm đó ngoài tình yêu thương trẻ như con cháu của mình rồi thì cần phải mày mò làm thêm đồ dùng đồ chơi lạ mắt, bữa thì những con bướm, con trâu làm từ lá cây, bữa thì mua bột cho trẻ cùng cô nặn bánh, bữa thì thiết kế trang phục cho trẻ làm người mẫu để cô đo đo, cắt cắt để cố tình cho trẻ đứng đợi cô mà quên đi sự nhút nhát e dè.

Cứ thế và kết quả thật đáng ghi nhận là các cháu sau 2 tuần đến lớp đã không khóc nữa, qua trò chuyện với phụ huynh tôi được biết trẻ về nhà không còn sợ phải đến lớp như trước nữa mà cháu thích thú khi bố, mẹ chuẩn bị chở đi học, không còn đòi quà bánh trước khi vào lớp, đến lớp cháu biết chào cô đi cất đồ dùng cá nhân đúng chỗ và vào chơi cùng các bạn một cách hòa đồng.

* Giải pháp thư hai: “ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học”

Đầu năm học tôi lên kế hoạch năm, tháng và đặc biệt là cụ thể vào kế hoạch tuần những nội dung tăng cường tiếng việt cho trẻ qua các môn học cụ thể tôi có kế hoạch hàng ngày từ thứ 2 đến thứ 6 mỗi ngày tôi tăng cường cho trẻ 3-4 từ mới đồng thời trẻ được ôn luyện lại vốn từ cũ một cách thường xuyên.

Khi tổ chức hoạt động tôi đã mời các cháu người đồng bào tham gia vào các hoạt động. Nhưng kết quả chưa được như mong đợi, so với trước đây trẻ đã nghe và hiêu cô giáo nói và làm theo yêu cầu của cô giáo nhưng vẫn còn bỡ ngỡ, chưa thật tự tin, mạnh dạn.

: Xây dựng kế hoạch tuần có nội dung tăng cường tiếng việt cụ thể

KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TRONG TUẦN

– Đón trẻ vào lớp, hướng dẫn trẻ cất đồ dùng cá nhân,trò chuyện với bố mẹ trẻ về tình hình của cháu khi ở nhà.

– Trò chuyện với trẻ về GĐ có những ai, mọi người trong GĐ làm gì?….

– Dạo chơi hít thở không khí trong lành.

– Trò chuyện về quang cảnh, khí hậu, dự báo thời tiết.

– Ôn cũ hoặc gợi mới

* Mục đích: Rèn luyện phản xạ nhanh, khéo léo

* Chuẩn bị: Vẽ 3 vòng tròn rộng giữa lớp làm nhà của gấu mũ 3 màu trắng, đen, vàng

* Cách chơi: Cô qui định vòng tròn 1 là nhà của gấu trắng,vòng 2 là nhà của gấu đen, vòng 3 là nhà của gấu vàng

– Chia trẻ thành 3 nhóm, mỗi nhóm đội một loại mũ khác màu phân biệt gấu trắng, gấu vàng, gấu đen.

– Nghe nhạc các chú gấu đi chơi,bò qua cổng, qua hầm khi có hiệu lệnh trời mưa các chú gấu về đúng nhà của mình.

– TCDG: Nu na nu nống

+ Mục đích: Trẻ dân tộc thiểu số được luyện đọc, biết chơi cùng nhau, củng cố thêm kĩ năng đếm, phân biệt bên phải, bên trái,ở giữa…và phát triển ngôn ngữ.

– Chơi tự do với đồ chơi đã chuẩn bị sẵn.

– Góc phân vai: Gia đình: Bố mẹ và con.

* Chuẩn bị: Một số đồ dùng như: Giày dép, túi ba lô, mũ, kính đeo mắt, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng bán hàng.(tiềng dân tộc để gọi tên đồ dùng)

* Hoạt động: Trẻ đóng vai bố mẹ đưa các con đi chơi, tổ chức chơi vui vẻ, trẻ xưng hô lễ phép. Bố mẹ chăm sóc các con, đi mua thực phẩm, nấu ăn, mang theo 1 số thức ăn nhẹ.

– Góc xây dựng: Xây nhà cho bé.

* Chuẩn bị: Các khối gỗ, cổng, hộp giấy… để xây nhà, cây cối, hoa…

* Hoạt động: Trẻ biết xếp chồng các hộp giấy, khối gỗ để xây nhà, xung quanh có trồng cây xanh, có chuồng nuôi một số con vật như gà vịt….

– Góc học tập: Ôn chữ cái chữ số đã học, chơi lô tô.

* Chuẩn bị: . Vở bài tập chưa thực hiện xong. Nhóm chữ cái chữ số đã học.

* Hoạt động: Ôn chữ cái chữ số đã học, trẻ làm tiếp vở chưa xong

– Ôn kiến thức buổi sáng, làm quen kiến thức mới.

– Trò chơi học tập: “Đoán xem đó là ai”.

– Vệ sinh, nêu gương, bình cờ, trả trẻ.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học môi trường xung quanh:

Tôi nắm được tâm lí của trẻ là thích tìm tòi khám phá, thích những cái mới lạ và trực quan hình ảnh, trực quan hành động chiếm ưu thế ở trẻ nên ngay trong môn khám phá tùy vào từng đề tài tôi chuẩn bị tranh ảnh sinh động đẹp mắt, đa dạng để thu hút trẻ tập trung chú ý kết hợp cho trẻ đọc từ dưới tranh, đồ dùng, tôi ưu tiên những cháu dân tộc được đọc trước, cho các cháu đọc theo từ, tôi tăng cường và cho trẻ nói theo tôi câu có từ.

– Và không chỉ gợi ý cho các cháu bằng lời, tôi đã hành động để các cháu nắm vững cách : Thường xuyên tổ chức theo nhóm, theo tổ, xen kẽ các cháu người Kinh và các cháu đồng bào dân tộc. Hay những giờ sinh hoạt ngoài trời, giờ vui chơi, nói chuyện với trẻ bằng tình cảm chân tình và gần gũi.Ví dụ như: ” bạn H Sinh mới cắt tóc phải không, đẹp quá nhỉ, ai đưa cháu đi cắt tóc đó, bạn Y Dư sáng đi học quần áo, đầu tóc thật gọn gàng đẹp thật đấy phải không các bạn…” Những lần quan tâm hỏi han trẻ tôi trerất thích thú, gần gũi, tôi xoa đầu âu yếm trẻ. Để trẻ cảm nhận được tình thương yêu của cô giáo đối với mình.

– Những buổi sinh hoạt cuối tuần tôi thường đưa ra những tấm gương các bạn chăm phát biểu, sáng tạo, nói tiếng kinh giỏi…Để thúc đẩy sự cố gắng , phấn đấu hơn của các cháu trong thời gian tới, tạo cho trẻ vui tươi, mạnh dạn, tự tin, tôi luôn gần gũi trò chuyện cùng trẻ không rầy la khi cháu làm sai. Mà ngược lại tôi luôn tôn trọng, yêu thương cháu. Không phân biệt đối xử bất công bằng với trẻ. Thường xuyên để ý giao tiếp và tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động.

Các hoạt động cô giáo sử dụng tiếng kinh trẻ không hiểu thì giáo viên sử dụng cả hai thứ tiếng hoặc vừa nói vừa cho trẻ nhìn, chỉ vào sự vật.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học Làm quen chữ cái:

Sau mỗi tiết học làm quen chữ cái tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như trẻ nói từ có chứa chữ cái đã học thi đua tìm, nói tên các bạn trong lớp ví dụ học chữ e,ê trẻ tìm tên bạn lê, bạn sen…và không chỉ là tên các bạn mà những đồ dùng, những bức tranh, những món đồ chơi có tên chứa chữ cái tôi đều khai thác để cho trẻ được luyện đọc vừa tăng cường cho trẻ phát âm chữ cái để ghi nhớ chữ cái tôi còn có mục đích cho trẻ được luyện âm tiếng việt và hơn nữa qua đó trẻ có ý thức thi đua và làm sôi nổi hơn các hoat động. Với đặc điểm của trẻ mầm non là học qua chơi, chơi mà học nên tôi luôn có gắng chuyển thể các bài học sang hình thức vui chơi để trẻ được: thứ nhất là nhẹ nhàng không áp lực, thứ 2 là huy động được tính tích cực, hứng thú tự giác của trẻ. Tôi thường cho trẻ chơi các trò chơi với chữ cái như: trò chơi bánh xe chữ cái (vòng quay kì diệu)., nối chữ cái trong từ về chữ cái tương ứng, xếp chữ cái bằng hội hạt, nặn chữ cái, gắn chữ cái lên đồ dùng có tên chứa chữ cái theo yêu cầu của cô…ví dụ: gắn chữ u lên cái xích đu,chữ e lên tranh em bé, chữ a lên mái nhà… bên cạnh đó tô thường cho trẻ được trải nghiệm thực tế như cho trẻ đi dao chơi tham quan tìm chữ cái trong các bảng hiệu, cổng thôn… thiết nghĩ trẻ được thực hành trải nghiệm nhiều với đồ dùng đồ chơi, tiếp xúc thực tế ngoài xã hội sẽ giúp trẻ ghi nhớ chữ cái một cách sâu sắc hơn, tập phát âm Tiếng việt một cách chính xác hơn. Chính những việc làm đó đã góp phần không nhỏ vào việc cung cấp vốn Tiếng việt cho trẻ.

Vd: Tôi cho trẻ đi thăm nhà văn hóa cộng đồng tôi giait thích cho trẻ hiểu đó là nơi sinh hoạt văn hoa, văn nghệ của tất cả mọi người trong buôn vào những dịp lễ, cho trẻ nhận biết, tự hào về buôn làng của mình và tôi không quên cho trẻ nhận biết, tìm chữ cái đã học trong những bảng hiệu, những dòng chữ trong nhà văn hóa, vô tình những lần trẻ theo bố mẹ đến sinh hoạt văn nhóa, văn nghệ trẻ khoe với bố me, với các bạn là trẻ đã biết được các chưc cái trên dòng chữ kia…

Qua một thời gian thực hiện lớp tôi tiến bộ rõ rệt, cháu hứng thú trong học tập, nhiều cháu thuộc chữ cái và phát âm chuẩn chữ cái khi đã được làm quen.

+ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua môn học làm quen văn học:

Muốn trẻ giao tiếp, tiếp thu được kiến thức cô giáo truyền thụ trước hết thì trẻ phải nghe hiểu được yêu cầu của cô giáo nên việc giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng việt trong học tập cũng như trong cuộc sống là vấn đề cần thiết. đối với trẻ 5 tuổi môn văn học là môi trường, là cơ hội cho trẻ tiếp xúc với nhiều nhân vật trong thơ, chuyện…qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc, được thể hiện lời thoại…và được phát triển ngôn ngữ, với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi phần đông là học sinh người dân tộc thiểu số nên mỗi lúc lên kế hoạch tôi đã chú ý tới việc lựa chọn những bài thơ, câu chuyện không quá dài, nội dung dễ hiểu,nhân vật gần gũi với trẻ vì vốn từ cũng như thời gian tập trung chú ý của các cháu không được như những trẻ người kinh, khi lên tiết tôi luôn tạo tình huống bất ngờ để thu hút trẻ trẻ tập trung chú ý, khơi gợi ở trẻ tính tò mò dể tạo tâm thế cho trẻ trước khi vào học. trước lúc vào giờ học tôi trò chuyện dẫn dắt trẻ bằng những câu hỏi gần gũi, thân thiện vào bài một cách nhẹ nhàng không gây áp lực cho trẻ, trong quá trình đọc, kể tôi thường dừng lại trực tiếp ở những câu, từ khó để giải thích cho trẻ hiểu ngay trong quá trình tôi đọc một cách kịp thời, kết hợp tranh, ảnh, đồ dùng trực quan để giải thích là một cách làm tôi thấy rất hiệu quả, ngoài ra tôi không quên phối hợp các động tác minh họa đơn giản phù hợp, và tôi cho trẻ thực hiện động tác minh họa cùng với cô nhằm lôi cuốn, khích lệ trẻ chăm chú lắng nghe, để lĩnh hội từng câu, từng lời của cô mà không bị mệt mỏi, uể oải, có thể nói đó là chất xúc tác, tiếp sức cho các cháu một cách hiệu quả.

Vd: khi tôi kể chuyện cáo, thỏ gà trống cho cacvs cháu nghe đến những lời thoại các nhân vật tôi cho trẻ nói theo như “gâu gâu cáo ở đâu”của bầy chó,cúc cù cu cu cu của anh gà trống… tôi cho trẻ nói và làm điệu bộ và trẻ đã rất thích. Khi đã lôi cuốn được sự chú ý của trẻ tôi tiến hành các công việc tiếp theo và không quên gọi những cháu dân tộc đọc từ, đọc câu với nhiều hình thức như là tôi đố trẻ, nhờ trẻ, gợi ý cho trẻ, cho các cháu thi đua, cho trẻ nói tiếp…và tất nhiên là sử dụng những câu từ gần gũi, cụ thể để giảng nội dung câu chuyện, bài thơ một cách ngắn gọn để trẻ có thể tiếp thu một cách nhẹ nhàng sau đó tôi cho trẻ nói tên nhân vật trong thơ, chuyện qua tranh ảnh, và không quên khuyến khích trẻ bằng những món quà hay những tràng pháo tay động viên, bởi thế nên học sinh lớp tôi ngày càng mạnh dạn, tự tin, ham thích học thơ, kể chuyện và nhiều cháu thuộc thơ, kể lại câu chuyện một cách hoàn chỉnh, qua những việc làm đó học sinh dân tộc của lớp tôi so với trước vốn từ được tăng lên rất nhiều, trẻ nghe, hiểu được lời của cô, nắm được yêu cầu của bài và tôi nghĩ mình đã gặt hái được nhiều thành công hơn so với trước.

* Giải pháp thư ba: “ Tăng cường tiếng việt cho trẻ qua hoạt động vui chơi”

Hoạt động vui chơi đóng vai trò chủ đạo, không thể thiếu ở lứa tuổi mầm non. Nhận thức được điều đó, bản thân tôi luôn thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mà nghành đề ra. Ngoài việc dạy và học thì hoạt động vui chơi luôn diến ra trong các ngày trẻ được đến lớp, tôi luôn sáng tạo làm nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động vui chơi của trẻ. Bởi vì đối với trẻ những món dồ chơi mới mẻ, lạ mắt là điểm đến, là động lực thu hút trẻ nhiều nhất và qua hoạt động vui chơi này phát huy cho trẻ tính mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Trẻ thể hiện hết cái tôi của mình trẻ biết và độc lập trong suy nghĩ và dám khẳng định chính bản thân mình và đó cũng là cơ hội giúp trẻ được tăng cường tiếng việt, trong khi các cháu chơi thì trẻ vô tư thể hiện hết những gì trẻ biết, trẻ có và cô giáo qua đó phát hiện được khả năng của trẻ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ để thuận tiện trong việc phát triển các lĩnh vực khác ở trẻ. Nhờ sự tích cực hứng thú trong hoat động vui chơi mà trong năm học này chúng tôi đã đạt được những thành tích đáng kể về chiến lược tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc.

Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp hàng ngày của trẻ không chỉ là trong quá trình học mà ngay cả khi trẻ vui chơi thì ngôn ngữ giúp trẻ phân, nhận vai chơi, thể hiện vai chơi của mình trong quá trình chơi. Vui chơi là trẻ được tái tại lại những hành động, việc làm lời nói của người lớn ở môi trường xã hội bên ngoài vào trong các góc chơi của trẻ, ở đây thành phần trẻ được thể hiện, giao tiếp rất đa dạng và phong phú nên chính ở môi trường này ngôn ngữ của trẻ được cung cấp nhiều hơn, trẻ được thoải mái thể hiện mình qua vai chơi. Tận dụng thời gian này tôi đã thực hiện ý đồ tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc bằng cách: tôi làm nhiều đồ chơi ở các góc tạo môi trường mới lá, đẹp mắt thu hút sự hứng thú của trẻ, cho trẻ được tự chọn góc chơi, vai chơi, lúc trẻ chọn vai chơi tôi luôn gợi ý cho trẻ đổi vai hàng ngày để tất cả trẻ đều có cơ hội vào vai các thành viên trong xã hội hôm nay bé là bác sĩ, mai bé làm bệnh nhân, ngày kia là người đầu bếp, chúng tôi khi cháu H Sinh về chơi ở góc phân vai làm cô bán hàng lần đầu khi chơi tôi trực tiếp làm người đi mua hàng đến cữa hàng tôi chào bác H Sinh hôm nay cửa hàng có bán những thứ gì? Tất nhiên là lúc đầu cháu sẽ e dè thì tôi gợi ý cho trẻ cầm các món hàng lên và nói tên các món hàng đó bằng 2 thứ tiếng vừa tiếng kinh và tiếng dân tộc, những lần sau tôi gợi ý rủ các bạn khác đi chợ và hỏi mua những món đồ theo nhu cầu…giải thích cho trẻ những từ (mua, bán, trả tiền…) kèm theo những hàng động mô phỏng cụ thể cho trẻ hiểu từ tiếng việt và cho trẻ nói theo.

Đến góc xây dựng cũng như những góc chơi khác tôi hỏi cháu Y Dư hôm nay bác thợ xây gì?( xây nhà cho gia đình ở) vật liệu, dụng cụ xây dựng có những gì?(viên gạch, cái bay, cái thước, …) cho cháu cầm viên gạch và đọc nói từ viên gạch, cái bay…những lầnchơi sau tôi cho trẻ tập nói cả câu dài hơn và cứ như vậy tôi ghé đến các góc chơi khác xin tham gia chơi với trẻ vài phút để tìm hiểu nhận ra điểm mạnh và hạn chế của từng trẻ và qua đó tôi thực hiện công việc tăng cường tiếng việt cho những trẻ thiếu hụt tiếng việt, nhắc nhở, khuyến khích, hướng dẫn các cháu giao tiếp với bạn chơi bằng tiếng việt. Khi trẻ đã hòa nhịp được với các bạn, các cháu dân tộc đã tự tin, mạnh dạn tôi không cần nhập vai chơi với trẻ nữa mà gợi ý để trẻ giao lưu với nhau liên kết với các nhóm chơi khác để trẻ mạnh dạn, tự tin trao đổi trong lúc chơi cùng bạn, khi trẻ tham gia các góc chơi là thế giới người lớn được trẻ tái tạo lại trong trò chơi của trẻ tất cả mối quan hệ, giao tiếp của xã hội được trẻ thể hiện hơn nữa hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động diễn ra thường xuyên trong quá trình trẻ đến lớp nên đây chính là thời điểm tốt nhất để trẻ được tiếp thu, tăng cường vốn từ tiếng việt với phương châm “Mưa dầm thấm lâu” song hành với việc trẻ chơi tôi kết hợp tăng cường tiếng việt cho trẻ, với trẻ đây là lúc trẻ thoải mái thể hiện bản thân, thể hiện vốn có của mình, với cô đây là thời điểm thuận lợi để nắm bắt tình hình, thực tế sử dụng ngôn ngữ của các cháu nên việc cung cấp ngôn ngữ ở hoạt động vui chơi rất hiệu quả.

* Giải pháp thư tư: “ Tăng cường tiếng việt cho ở mọi lúc, mọi nơi”

* Giải pháp thư năm: “ Kết hợp với phụ huynh để tăng cường tiếng việt cho trẻ”

Bên cạnh sự nỗ lực chung sức của cô và trẻ khi trẻ ở lớp, ở trường, chúng ta phải phối kết hợp với phụ huynh khi trẻ về nhà bởi vì khi về nhà đa số trẻ được sinh hoạt trong môi trường giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, qua các buổi thăm nhà phụ huynh học sinh tôi thấy rằng người gia và phụ nữ trong mỗi gia đình người thiểu số ít khi biết nói tiếng kinh, mọi nhu cầu, hoạt động trong gia đình họ sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp mà hàng ngày thời gian đến lớp của trẻ cô giáo khó khăn lắm mới cho trẻ nói vài từ tiếng việt bập bẹ trong khi thời gian trẻ về nhà thì bố mẹ ông bà chú bác lại sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ một cách đại trà, đó cũng là cái khó khăn tôi gặp phải, để đẩy ùi khó khăn này tôi phải tranh thủ thời gian buổi tối đến nhà gặp gỡ phụ huynh, tận dung những buổi sinh hoạt cộng đồng để tuyên truyền đến các bậc phụ huynh.

Đồng ý là mỗi chúng ta phải nhớ cội nguồn, tôn vinh bản sắc vùng miền, những cần phải đảm bảo được cái chung để đáp ứng với nhu cầu học tập của thế hệ trẻ. tôi đã tuyên truyền tới phụ huynh tầm quan trọng của việc nghe, hiểu và giao tiếp bằng tiếng phổ thông, tôi trò chuyện giải thích với phụ huynh rằng các cháu nhà mình đến lớp không được mạnh dạn như những cháu người kinh, vì cháu nói tiếng kinh không thành thạo, nên những bài giảng của cô cháu nghe không hiểu được hết các yêu cầu nên kho cô hỏi trẻ chưa trả lời được, chưa làm được bài tập theo yêu cầu của cô nếu các cháu biết nói, nghe hiểu thành thạo tiếng kinh thì các cháu cũng học rất giỏi…vậy nên rất mong phụ huynh tạo điều kiện, môi trường cho trẻ được giao tiếp bằng tiếng kinh, khi ở lớp cô đã cho cháu nghe, nói tiếng kinh thì về nhà phụ huynh nên sử dụng tiếng kinh để giao tiếp với cháu, kềm cặp cháu các môn hoạc chữ cái, số, cho cháu đọc thơ, kể chuyện, khuyến khích cháu hát để rèn luyện cách phát âm cho cháu như thế cháu đến lớp cháu sẽ nghe cô giáo giảng bài và biết trả lời thành thạo các câu hỏi của cô, tiếp thu bài một cách dễ dàng, học giỏi hơn trong cấp học mầm non và cũng là tiền đề tốt cho các cấp học sau này và đúng như mong muốn của tôi phụ huynh đã biết quan tâm đến con em mình hơn, chăm lo cung cấp vốn tiếng việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn.không những thế mà phụ huynh còn tuyrn truyền tới những người khác trong buôn qua những dịp gặp gỡ nhau bên những ché rượu cần, họ khoe nhau những thành tích con em mình đạt được mad cứ cuối tuần, cuối tháng tôi vẫn báo cáo về cho phụ huynh những tiến bộ của con em họ việc làm đó của tôi đã mang lại hiệu quả cao hiện nay trẻ dân tộc thiểu số lớp tôi nói tiếng kinh lưu loát, biết dùng từ, câu để diễn đạt điều trẻ muốn nói, không còn trẻ nói câu không rõ nghĩa, câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ, trẻ mạnh dạn giao lưu cùng cô giáo, cùng bạn bè và mọi người xung quanh.

“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo chỉ thị của bộ chính trị là việc làm mà chi bộ, ban giám hiệu trương tôi luôn chỉ đạo sát sao tới đảng viên,giáo viên trường.

Tôi nhận thấy rằng đây chính là một tài sản vô giá của dân tộc và là cơ sở bền vững cho mỗi người Đảng viên, cán bộ giáo viên học tập và noi theo. Tuyệt đối không vi phạm đạo đức nhà giáo, luôn luôn là tấm gương sáng cho các cháu noi theo ” Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người“. Bỏi vì lẽ đó, tôi tự nhủ rằng mình phải làm gì để chuẩn bị cho các cháu một hàng trang tốt nhất khi bước vào lớp 1. Nhất là những cháu dân tộc thiểu số, cuối năm học nhận biết, phát âm chuẩn 29 chữ cái, 10 chữ số, biết nói tiếng phổ thông thành thạo, đạt được các yêu cầu phát triển 5 lĩnh vực, đảm bảo chất lượng cuối năm để từ cái nền móng cơ ban đó các cháu sẵn sàng tiến bước vào cấp học tiếp theo. Và bản thân cũng góp phần nhỏ vào sự thành công của nhà trường, vào sự nghiệp giáo dục mầm non của xã nhà, tiến lên đáp ứng nhu cầu hiện tại. Với bao khó khăn vất vả khi trường lớp ở xa trung tâm đa số là người dân tộc tại chỗ, trình độ nhận thức của người dân chưa cao, kinh tế bà con còn nghèo nàn, lạc hậu, phụ huynh học sinh còn coi nhẹ ngành học mầm non các cháu đi học không đều, đến lớp còn khóc nhè, ngôn ngữ giao tiếp còn hạn chế, trẻ chư hòa đồng với bạn, nhút nhát rụt rè nên trẻ không dám thể hiện mình, đến lớp trẻ thụ động cũng chính vì ngôn ngữ thứ 2 của trẻ còn quá ít ỏi, Cơ sở vật chất quá nghèo nàn thiếu thốn, giáo viên nhà xa đi lại rất vất vả.

Nhưng trong một thời gian ngắn, với sự quan tâm của ban giám hiệu, chính quyền địa phương, và nhất là với sự sự băn khoăn, lo lắng trước sự thiếu hụt, thiệt thòi của các cháu đã thúc đẩy sự nổ lực, tận tâm của bản thân một lòng tâm huyết với nghề cho đến nay lớp là 1chúng tôi đã đi vào ổn định. Các cháu đã đi học chuyên cần, đến lớp hòa đồng với các bạn, thể hiện tốt cái tôi của mình, chất lượng các môn học đối với các cháu tăng lên rõ rệt qua bảng theo dõi đánh giá hàng tháng. Cho đến thời điểm này đã có trên 95% cháu nhận biết nhanh và phát âm đúng chữ cái Tiếng việt đã được học. 96% cháu biết cách tô các nét cơ bản và tô đúng quy trình. 97% cháu hiểu được ngôn ngữ Tiếng việt, biết dùng ngôn ngữ Tiếng việt để diễn đạt thành câu có nghĩa, trẻ nói lưu loát bằng ngôn ngữ Tiếng việt. Ngoài việc học trẻ đã mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với cô giáo, với bạn bè lúc ở nhà cũng như lúc mọi nơi.

Kết quả theo dõi sau khi áp dụng các phương pháp, biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ của lớp tôi thì kết quả về 5 lĩnh vực phát triển cuối tháng 12 của lớp tôi cụ thể như sau:

– Tỉ lệ phần trăm của năm mặt phát triển tăng lên rõ rêt, nhất là về lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, thẩm mĩ, phát triển ình cảm xã hội…

Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện, hổ trợ kinh phí để giáo viên làm đồ dùng, đồ chơi, trang trí các góc đẹp mắt thu hút sự chú ý của trẻ cũng như sự nhìn nhận của phụ huynh để càng ngày càng tin tưởng vào giáo viên và cũng từ đó phụ huynh đã nhận thức rõ việc đưa con em đến trường là cần thiết vậy nên tỷ lệ huy động trẻ đi học 98%..

Học kì I lớp luôn đứng đầu trong các phong trào về nề nếp thói quen của trẻ, duy trì sĩ số, phong trào làm đồ dùng trang trí lớp, và đặc biệt là không còn tình trạng học sinh dân tộc thiểu số bỏ học theo bố mẹ đi nương đi rẫy theo thời vụ như những năm học trước vẫn thường diễn ra. Phụ huynh nhiệt tình trong việc tạo môi trường tiếp xúc cho trẻ, để trẻ được giao lưu với các bạn, nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường tiếng việt cho trẻ.cụ thể là những buổi tập văn nghệ các bậc cha mẹ trẻ rất nhiệt tình bớt thời gian chở các cháu đến lớp tập, nhìn thấy con em của họ được hát, múa họ rất vui và tự hào.

Khi các cháu đến lớp vệ sinh rất sạch sẽ, biết chào hỏi, thưa gởi lễ phép, các hoạt động trẻ hứng thú tham gia và tạo mối quan hệ hòa đồng, đoàn kết trong lớp. các cháu manh dạn giao lưu, tham gia tích cực vào các giờ học, như tham gia kể chuyện, đoạc thơ, biểu diễn văn nghệ…

Vận dụng một số biện pháp giúp tăng cường tiếng việt cho các cháu học sinh con em dân tộc thiểu số tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp giúp cho trẻ sử dụng tiếng việt một cách thành thạo bản thân tôi đã nghiên cứu những nội và áp dụng linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động vui chơi, học tập,mọi lúc mọi nơi phù hợp với hoàn cảnh thực tế tình hình của lớp, của địa phương.giáo viên luôn tạo tình cảm cho trẻ giao lưu trò chuyện với cô,với bạn nghe hiểu lời nói của cô, của bạn. tăng cường công tác làm đồ dùng đồ chơi đẹp, tạo ra môi trường mới lạ để thu hút trẻ tham gia vào các hoạt động phát triển ngôn ngữ thực sự hứng thú, thực hiện thông qua các hoạt động ở lớp và mọi lúc mọi nơi. Với vốn kinh nghiệm tích luỹ ít ỏi về việc tăng cường tiếng việt ấy tôi đã áp dụng và có hiệu quả cao, tại lớp của mình. Tôi tin rằng cuối năm học này 97% trẻ dân tộc thiểu số nói được tiếng việt thàng thạo.

Xác định mục tiêu nhận ra tầm quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ trong trường Mẫu Giáo để giúp trẻ nghe hiểu tiếng việt, Phải coi trọng những hành động, suy nghĩ của trẻ dù là nhỏ nhất và luôn đạt câu hỏi ” Luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu” lên hàng đầu. Tạo được nề nếp hoạt động thường xuyên, liên tục, mang tính tự giác, tự nguyện cao, và quyết tâm thực hiện không ngại khó khăn.

Luôn luôn làm tốt công tác tham mưu, công tác xã hội hoá giáo dục để toàn xã hội chung tay xây dựng trường học ngày càng đi lên.

Skkn Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường, Tăng Cường Tiếng Việt Cho Trẻ Dân Tộc Thiểu Số Vùng Cao Trong Trường Mầm Non

KINH NGHIỆM “MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG, TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG CAO TRONG TRƯỜNG MẦM NON”.

I . ĐẶT VẤN ĐỀ: Tiếng Việt là ngôn ngữ sử dụng chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở Giáo dục khác (quy định tại Luật giáo dục Việt Nam). Như vậy học sinh dân tộc thiểu số (DTTS) được giáo dục thông qua ngôn ngữ tiếng Việt trong hệ thống nhà trường. Bởi vì Tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ của các em DTTS mà ngôn ngữ sử dụng trong gia đình và cộng đồng của trẻ DTTS chủ yếu bằng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc).Vì vậy, trẻ em các DTTS trước khi đi học chưa biết hoặc biết rất ít Tiếng Việt. Đây là một cản trở lớn đến khả năng tiếp thu kiến thức khi trẻ đến trường. Nếu trẻ em DTTS đi học ở các cơ sở Giáo dục mầm non thì khả năng tiếp cận với tiếng Việt so với trẻ em người dân tộc Kinh vẫn muộn hơn ít nhất là 3 năm và có thể muộn hơn nữa nếu trẻ không có cơ hội học ở các cơ sở giáo dục mầm non. Để trẻ em dân tộc thiểu số có thể chủ động trong lĩnh hội kiến thức ở Tiểu học, cần thiết phải chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ ngay ở lứa tuổi mầm non. (Theo tạp chí giáo dục mầm non số 4 -2008) Vì sao phải tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng DTTS ? Tất cả các trường Mầm non của Việt nam đều dạy học trực tiếp bằng tiếng Việt trong khi không phải tất cả học sinh đều biết tiếng Việt trước tuổi đến trường. Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất đối với học sinh người Kinh, nhưng là ngôn ngữ thứ hai đối với học sinh DTTS. Giữa việc học bằng ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có những khác biệt. Cụ thể là: * Ngôn ngữ học tập của học sinh người Kinh là ngôn ngữ 1 (TV)

1

Học sinh đến trường và sử dụng TV là ngôn ngữ giao tiếp và học tập. Đối với học sinh người Kinh, học tập bằng Tiếng Việt là một lợi thế, vì: Trước khi đến trường trẻ đã biết nghe và nói bằng Tiếng Việt, đã có vốn về Tiếng Việt khá phong phú, trẻ 5 tuổi có khả năng học được từ 300 đến 500 từ Tiếng Việt trong một năm học. * Ngôn ngữ học tập của học sinh người DTTS là ngôn ngữ 2 (TV). Học sinh người DTTS đến trường học tập bằng Tiếng Việt với tư cách ngôn ngữ 2. Trẻ học Tiếng Việt – một ngôn ngữ mới và học bằng tiếng Việt. So với học sinh Kinh, học sinh DTTS sử dụng tiếng Việt ngôn ngữ học tập một cách khó khăn, vì: – Học sinh chưa biết hoặc biết rất ít tiếng Việt qua nghe nói. – Học sinh học ngôn ngữ 2 nói chung bằng tư duy gián tiếp, thông qua sự tiếp cận áp đặt- từ việc ngôn ngữ có chủ định (qua bài học) đến việc vận dụng nó trong sinh hoạt hàng ngày, do đó học sinh không thật tự tin. Điều này có thể được khắc phục tốt nếu như học sinh DTTS được học nghe- nói nhiều hơn trước khi vào lớp 1. – Học sinh ít nhận được tác động từ môi trường gia đình, cộng đồng; hơn nữa tiếng mẹ đẻ có thể còn cản trở việc học ngôn ngữ 2 . (Theo cuốn hướng dẫn giáo viên tăng cường tiếng việt sách của Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn)

Như vậy có thể khẳng định rằng việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS ngay từ lứa tuổi Mầm non sẽ là cơ hội để thực hiện quyền bình đẳng trong học tập và phát triển của trẻ. Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS trong trường Mầm non. Năm học 2006-2007 Sở GD&ĐT Nghệ An đã triển khai chuyên đề ” Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số”. Thực hiện triển khai chuyên đề trường Mầm non Lưu Kiền đã khảo sát thực trạng như sau: 2

II. THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG TIẾNG VIỆT VÀ VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ DTTS TRƯỜNG MN LƯU KIỀN. 1.Thực trạng về vốn từ tiếng Việt của trẻ DTTS: Lưu Kiền là xã miền núi thuộc vùng đặc biệt khó khăn đang thụ hưởng chế độ theo QĐ 112/QĐ-TTGCP, với tổng dân số là 3.822 người, thuộc hai dân tộc Thái và H Mông: Trong đó: Dân tộc Thái là 3.529 người Tỷ lệ 92% Dân tộc H Mông là 293 người 8% Trẻ em từ 0- 5 tuổi toàn xã: 446 cháu, trong đó số trẻ được huy động đến học tại trường mầm non là 204 cháu, tỷ lệ 46 %. Trường mầm non Lưu Kiền đã tổ chức huy động trẻ từ 12-72 tháng tuổi đến trường gồm có: Nhóm trẻ 14 cháu Mẫu giáo 189 /237 cháu tỷ lệ 79% Trẻ 5 tuổi 78 cháu tỷ lệ 100 % a. Chất lượng khảo sát vốn từ tiếng Việt của trẻ mẫu giáo tại trường cho thấy: Néi dung

TrÎ 3 tuæi

TS SL %

TrÎ 4 tuæi

TS

SL %

101 35 69

TrÎ 5 tuæi

TS SL %

TrÎ høng thó víi c¸c ho¹t 18 5 ®éng vui ch¬i, häc tËp do c” tæ chøc.

25

32 46

TrÎ m¹nh d¹n tù nhiªn 18 5 trong c¸c ho¹t ®éng.

25

101 32 31

69 33 47

TrÎ chñ ®éng tÝch cùc 18 4 trong giao tiÕp TiÕng ViÖt

23

101 30 30

69 28 40

36

3

víi c” gi¸o vµ b¹n bÌ. TrÎ hiÓu c©u hái yªu cÇu 18 2 cña c” gi¸o vµ biÕt c¸ch ph¸t ©m chuÈn, diÔn ®¹t c©u ®óng ng÷ ph¸p.

11

101 10 10

69 12 16

TrÎ hiÓu néi dung bµi häc, 18 3 thùc hiÖn ®îc c¸c kü n¨ng thùc hµnh díi sù híng dÉn cña c” gi¸o.

15

101 28 27

69 21 30

TrÎ thÝch ®i häc vµ häc tËp 18 10 56 cã nÒn nÕp.

101 71 70

69 50 72

b. M”i trêng häc tËp tiÕng ViÖt t¹i c¸c líp mÉu gi¸o . Néi dung

KÕt qu¶ Tèt Kh¸ TB

YÕu

Líp häc ®îc trang trÝ vµ xÕp ®Æt an 9 toµn ph¶n ¸nh néi dung chñ ®Ò, phong phó ng”n ng÷ ch÷ viÕt

0

2

5

2

Cã c¸c ®å dïng, ®å ch¬i häc liÖu 9 cho trÎ thùc hiÖn tr¶i nghiÖm vµ thuËn tiÖn khi sö dông.

0

3

4

2

C¸c s¶n phÈm cña trÎ cã tªn gäi, ®- 9 îc trng bµy vµ sö dông ë c¸c gãc kh¸c nhau.

0

3

4

2

M”i trêng ngoµi líp an toµn, cã vên 9 hoa c©y c¶nh, vên rau, vên thuèc nam, vên c©y ¨n qu¶ vµ ®å ch¬i trªn s©n (cã biÓn tªn gäi) ®Ó trÎ t×m hiÓu, kh¸m ph¸.

0

2

4

2

Cã n¬i cung cÊp th”ng tin trao ®æi 9 víi phô huynh

0

3

5

Trêng líp vÖ sinh s¹ch sÏ

9

1

5

2

1

c. Kh¶o s¸t chÊt lîng gi¸o viªn. Néi dung

KÕt qu¶ Tèt Kh¸ TB

YÕu

Sö dông hîp lý vµ linh ho¹t c¸c h×nh 14 thøc tæ chøc ho¹t ®éng GD.

1

4

7

2

C¸c ho¹t ®éng GD tæ chøc ®¹t môc 14 ®Ých yªu cÇu bµi häc.

1

4

7

2

Ho¹t ®éng GD tæ chøc s¸ng t¹o, hÊp 14 dÉn, tù nhiªn l”i cuèn trÎ tÝch cùc tham gia.

1

4

7

2

C¸c ho¹t ®éng GD dùa trªn kinh 14 nghiÖm tËn dông s¶n phÈm cña trÎ.

0

4

8

2

C¸c ho¹t ®éng GD cã sö dông 14 nguyªn vËt liÖu dÔ kiÕm , rÎ tiÒn vµ s½n cã cña ®¹i ph¬ng cho trÎ tr¶i nghiÖm.

1

3

8

2

Lu”n quan t©m vµ t¹o c¬ héi cho 14 mäi trÎ ®Òu tham gia c¸c ho¹t ®éng GD. §Æc biÖt lµ trÎ cã cã héi nãi TiÕng viÖt (tr¶ lêi, nãi, kÓ chuyÖn…)

1

3

8

2

Cã ph¬ng ph¸p khuyªn kÝch trÎ suy 14 nghÜ, t duy, t×m tßi, kh¸m ph¸, s¸ng t¹o. quyÕt ®Þnh lùa chän vµ chia sÎ ý kiÕn c¸ nh©n cho c” vµ b¹n.

0

4

8

2

14

4

8

2

0

– Phần lớn ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của phụ huynh với trẻ là tiếng mẹ đẻ – Ít dành thời gian đưa con đến trường học (chủ yếu trẻ tự đi và về) b. Về trẻ. – Ngôn ngữ đầu tiên của trẻ DTTS là tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc NN1) – Trẻ DTTS tiếp thu ngôn ngữ thứ 2 (tiếng Việt) bằng cách gián tiếp, thông qua bài học của cô giáo. – Trẻ ít được tiếp xúc rộng rãi nên thường nhút nhát, thiếu tự tin khi đứng trước người lạ và chỗ đông người. c. Về môi trường học tập. – Đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học chưa đảm bảo, chưa phong phú cho việc dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS. – Giáo viên chưa biết cách xây dựng môi trường học tập tiếng Việt cho trẻ DTTS trong lớp học. – Khả năng đóng góp, phối kết hợp của phụ huynh trong xây dựng môi trường học tập cho trẻ gặp khó khăn và hạn chế. d. Về cô giáo. – Lúng túng trong lựa chọn các biện pháp tổ chức các hoạt động GD tăng cường Tiếng Việt cho trẻ. – Chưa sáng tạo trong sự dụng các nguyên liệu, phế liệu thiên nhiên để giúp trẻ thực hành trải nghiệm. – Cung cấp cho trẻ DTTS nhiều khái niệm, kỹ năng khó, đặt các câu hỏi / yêu cầu chưa phù hợp với nhận thức, khả năng của trẻ DTTS. – Chưa quan tâm đến giáo dục cá nhân, cá biệt từng trẻ. – Công tác tuyên truyền cho các bậc phụ huynh hiệu quả chưa cao. 7

Biện pháp phối kết hợp với phụ huynh:

8

– Tạo mỗi quan hệ thân mật và tin tưởng giữa giáo viên và gia đình, phối hợp với phụ huynh trong việc dạy tiếng Việt cho trẻ DTTS. Yêu cầu giáo viên làm tốt các nội dung sau: – Tổ chức các buổi tuyên truyền giúp phụ huynh hiểu được về lợi ích của tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS (qua họp phụ huynh, họp phụ nữ, họp xã viên, loa phát thanh bản, hội thi, góc tuyên truyền nhóm lớp, buổi tuyên truyền điểm…)

Cô Mai HT trường MN Lưu Kiền

Lạnh đạo và phụ huynh xem tuyên

tuyên bố lý do buổi tuyên truyền

truyền

– Vận động phụ huynh đóng góp, mua sắm đồ dùng, tư trang phục vụ học tập, ăn ngủ.. tại trường cho trẻ ( có thêu, viết tên, ký hiệu riêng cá nhân trẻ) – Phụ huynh đóng góp nguyên vật liệu thiên nhiên và phế liệu gia đình cho lớp học để cô giáo làm đồ dùng đồ chơi và tổ chức cho trẻ thực hành trải nghiệm tự tạo sản phẩm. – Tăng cường giao tiếp tiếng Việt với con cái tại gia đình như: Trò chuyện, kể chuyện, hát dân ca địa phương và dịch lời bài hát ra tiếng Việt; đặt các câu hỏi và yêu cầu câu trả lời về đồ vật, con vật, sự vật; tổ chức một số trò chơi với con cái bằng tiếng Việt v..v 9

– Quan tâm và thường xuyên theo dõi góc tuyên truyền của lớp.

Giáo viên đang tuyên truyền cho phụ huynh

3. X©y dùng m”i trêng häc tËp tiÕng ViÖt. a. Sè lîng:

01

ChØ ®¹o ®iÓm §Þa ®iÓm Sè líp

28

Lín K.KiÒn

Sè ch¸u

08

ChØ ®¹o ®¹i trµ §Þa ®iÓm

161

Cßn l¹i

Góc học tập lớp 5 tuổi Khe Kiền

Góc nghệ thuật

– Đồ chơi bố trí trên góc phải có tên ( viết theo chữ in thường hoặc viết thường), sắp xếp theo chủng loại gọn gàng, thuận tiện trong sử dụng và ở dạng mở. – Chỉ đạo làm các bài tập góc ngôn ngữ (LQCC và LQVH) dán tường. Bài tập góc LQVH: Chủ điểm Thế giới thực vật VÝ dô:

Hoa kÕt tr¸i ( ST Thu Hµ) G¾n h/¶ hoa cµ G¾n h/¶ hoa míp G¾n h/¶ hoa lùu

§á nh

tim tÝm vµng vµng chãi chang G¾n h/¶ ®èm löa

G¾n h/¶ hoa võng

nho nhá

G¾n h/¶ hoa ®ç

xinh xinh

G¾n h/¶ hoa mËn

tr¾ng tinh

11

Rung rinh tríc giã Nµy §õng h¸i G¾n h/¶ hoa

Nªn hoa

G¾n h/¶ c¸c b¹n nhá G¾n h/¶ hoa

yªu mäi ngêi G¾n h/¶ mét sè qña

Bài tập góc làm quenvăn học

Bài tập góc : LQCC Ví dụ: Chủ điểm thế giới thực vật LQCC: l,m,n G¾n h/¶ qu¶ M¬

G¾n h/¶ qu¶ G¾nh/¶ qu¶ Lùu Na

12

quả …ơ

quả….a

quả….ựu

Trẻ đang thực hiện bài tập góc làm quen chữ cái

– Dòng 1, gắn đúng hình ảnh (quả m¬, quả na, quả lùu) – Dòng 2, tìm chữ in rỗng tô màu và gắn đúng vị trí tương ứng với hình ảnh. – Dòng 3, tìm và gắn chữ còn thiếu để từ có ý nghĩa, phát âm chữ cái, đọc từ (Quả mơ, quả na, quả lựu) Từ bài tập góc trẻ được hoạt động tích cực và phát triển ngôn ngữ thứ 2 tiếng Việt nhiều hơn. Các bài tập sẽ thay đổi sau mỗi chủ điểm để tránh sự nhàm chán cho trẻ. Khi hướng dẫn trẻ chơi cô giáo luôn chú ý yêu cầu trẻ phát âm tên gọi các hình ảnh, phát âm chữ cái, đọc và điền các chữ cái có trong từ (đối với trẻ 5 tuổi). -Sáng tạo bài tập góc về môn LQVT cho trẻ 5 tuổi về nhận biết số lượng.

13

Trẻ 5 tuổi đang thưc hiện bài tập góc môn Làm quen với toán

Trẻ 5 tuổi đang thưc hiện bài tập góc môn

làm quen văn học dán trên tường

Trẻ 5 tuổi đang chơi ở góc sách

*. Tạo môi trường học tập tiếng Việt ngoài lớp học: 14

– Tên trường, tên lớp: có biển ghi tên trường, lớp học gắn ở cổng, cửa chính. Thường xuyên hỏi trẻ tên trường mình, lớp học mình là gì?

Trường Mn Lưu Kiền

Vườn rau sạch trường MN Lưu Kiên

Xây dựng vườn hoa, cây cảnh, vườn rau, vườn thuốc nam, vườn cây ăn quả ở các ví trí hợp lý. Viết tên và cắm biển cho chúng. Thường xuyên tổ chức cho trẻ chăm sóc, khám phá MTXQ để mở rộng vốn tiếng Việt cho trẻ.

Vườn hoa trường MN Lưu Kiền

Vườn thuốc nam trường MN Lưu Kiền

15

Nhà vệ sinh có ghi biển hướng dẫn khu vệ sinh nam, nữ, biển cấm đi chân đất, biển hướng dẫn đi xong dội nước, rửa tay bằng xà phòng..gắn ở các vị trí hợp lý, dễ quan sát. – Toàn bộ khu vực trong và ngoài lớp phải sạch sẽ, an toàn. 4. Bồi dưỡng nâng cao kiến thức về phương pháp ” Tăng cường tiếng Việt cho trẻ DTTS” cho giáo viên. Đầu năm học tổ chức tập huấn nội dung chuyên đề cho GV toàn trường với các nội dung chính sau: – In ấn cung cấp tài liệu cho GV (chuyên đề tăng cường TV, 150 buổi học cho trẻ 5tuổi DTTS, hướng dẫn GV về tăng cường TV….) – Tổ chức các tiết dạy mẫu chuyên đề (3 tiết/năm), rút kinh nghiệm.

Tài liệu tham khảo

Dự giờ dạy mẫu

– Hướng dẫn ứng dụng một số trò chơi giúp tăng cường tiếng Việt cho trẻ. – Hướng dẫn xây dựng môi trường điểm về tăng cường TV cho trẻ DTTS. – Tổ chức buổi tuyên truyền điểm về huy động phụ huynh tham gia đóng góp, xây dựng môi trường học tập TV cho trẻ DTTS 16

TT C¸c chñ ®Ò xËy dùng trong n¨m cña ch¬ng tr×nh CSGD trÎ

Chñ ®Ò lång ghÐp t¨ng cêng TV cho trÎ DTTS.

1

Trêng MÇm non

Lêi chµo vµ lµm quen

2

Gia ®×nh

Nh÷ng ngêi bÐ yªu quý.

3

§éng vËt

Nh÷ng con vËt sèng chung quanh bÐ

4

Thùc vËt

Hoa qu¶ ë ®Þa ph¬ng 17

5

TÕt vµ mïa xu©n

LÔ héi quª em

6

HiÖn tîng thiªn nhiªn

Nói rõng vµ thêi gian

7

Ph¬ng tiÖn giao th”ng

§êng bÐ ®Õn trêng

8

Mét sè ngµnh nghÒ phæ biÕn

NghÒ ®an l¸t vµ dÖt thæ cÈm.

9

Trêng TiÓu häc

Lµm quen trêng TH ë ®Þa ph¬ng.

Ho¹t ®éng trong ngµy

Néi dung lång ghÐp t¨ng cêng TV

1

§ãn trÎ

BÐ chµo c”, chµo mÑ

2

§iÓm danh

H·y nªu tªn b¹n nµo v¾ng häc

3

ThÓ dôc s¸ng

TËp ®Õm theo nhÞp h”

4

Giê häc chung MTXQ:Lµm quen tªn gäi mét sè ®å dïng ®å ch¬i trong líp MG Häc h¸t: Trêng chóng ch¸u lµ trêng MN

5

Ho¹t ®éng ngoµi trêi

Lµm quen tªn c”, tªn b¹n; trß ch¬i: kÕt b¹n th©n

6

Ho¹t ®éng gãc

Ch¬i tù chän víi ®å ch¬i yªu thÝch ë c¸c gãc.( khuyÕn khÝch trÎ cïng b¹n ch¬i chung)

7

¡n tra

Gäi tªn mãn ¨n

8

Ngñ tra

Nghe h¸t d©n ca Inh l¶ ¬i b”ng 2 tiÕng ViÖt vµ Th¸i

9

Ho¹t ®éng chiÒu

D¹y trÎ chµo c”, chµo b¹n.

10

VÖ sinh tr¶ trÎ

xÕp hµng vÖ sinh c¸ nh©n ®óng thao t¸ckÕt hîp ®äc th¬ ” 18

tay s¹ch” Chµo c”, chµo b¹n.

c. Tăng cường dạy trẻ nghe – nói thông qua vật thật và đồ dùng trực quan. Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo là trực quan hành động, trẻ ghi nhớ và nhớ lại những sự kiện, những ấn tượng mà trẻ đã được trải nghiệm, vì vậy lựa chọn vật thật và đồ dùng trực quan dạy trẻ phải là những đồ vật gần gũi, có ở địa phương. Việc dạy trẻ thông qua vật thật, vừa giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh, vừa cung cấp vốn từ cho trẻ. Đối với trẻ em DTTS giáo viên không nên tham vọng quá nhiều khi cung cấp kiến thức cho trẻ. Cần biết lựa chọn đối tượng cung cấp gần gũi với cuộc sống trẻ, kết hợp chuẩn bị vật thật hoặc đồ dùng trực quan để trẻ quan sát, lựa chọn câu hỏi ngắn gọn, từ dễ đến khó. Khuyến khích trẻ trả lời đủ câu. Ví dụ: Đề tài lớp lớn: làm quen một số loại hoa( chủ điểm: thế giới thực vật) – Chọn đối tượng làm quen: Các loại hoa có ở địa phương như: Hoa Ban, hoa Mào gà, hoa Cúc vàng, Hoa Gạo – Sử dụng đồ dùng truyền thống gần gũi của địa phương bằng vật thật giúp trẻ tăng cường tiếng Việt có hiệu quả hơn như cái bế, cái niếng ( hông xôi), váy thổ cẩm, khung cửu, vạch (cuốc nhỏ làm cỏ lúa rãy), chum rượu cần, ghế mây….

19

Niếng( hông xôi)

Chum rượu cần

Khung cửu dệt thổ cẩm

Váy thổ cẩm

Ghế mây

Cái quay sợi

– Số lượng làm quen : vừa phải (3- 4 loại) phụ thuộc vào độ tuổi – Phương pháp hướng dẫn: Giáo viên chỉ vào từng bông hoa và nói tên ví dụ cô chỉ vào “Bông hoa Ban” cho trẻ nhắc lại “Bông hoa Ban” mỗi từ như vậy nhắc lại 3- 4 lần. Sau khi trẻ nắm vững từ mới thì dạy trẻ nói cả câu “Đây là Bông hoa Ban”. sau đó đưa ra từ mệnh lệnh “Cắm bông hoa Ban vào lọ”. Khi trẻ thực hiện đúng yêu cầu của cô giáo có nghĩa là trẻ đã hiểu được nghĩa của từ. Tích cực thu thập các nguyên liệu thiên nhiên và phế liệu gia đình để dạy trẻ tạo sản phẩm theo chủ để. Đưa sản phẩm của trẻ tạo ra vào các hoạt động vui chơi, học tập.

20

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Một Số Biện Pháp Tăng Cường Tiếng Việt Cho Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!