Xu Hướng 12/2022 # Đề Tài Giải Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á / 2023 # Top 21 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Đề Tài Giải Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Giải Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Các bạn sinh viên vào tải mẫu chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính ngân hàng Chuyên đề Giải pháp xử lý nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á – Chi nhánh Hà Nội

1. LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của vấn đề Trong thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp, hoạt động của hệ thống Ngân hàng mà lúc đó là hệ thông ngân hàng một cấp (vừa đảm nhận chức năng quản lý nhà nước, vừa thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ) được thực hiện theo kế hoạch chỉ đạo của Nhà nước. Có nghĩa là, nguồn vốn đầu vào của Ngân hàng nhà nước được nhà nước cấp và lượng vốn cung ứng ra thị trường cũng được thực hiện theo kế hoạch phát triển đã đề ra. Như vậy, hoạt động ngân hàng của chúng ta vẫn chưa mang đúng nghĩa của nó. Trong cơ chế thị trường, hệ thống Ngân hàng được phân chia làm hai cấp : Ngân hàng nhà nước đảm nhiệm chức năng quản lý vĩ mô và các ngân hàng thương mại thực hiện kinh doanh tiền tệ tín dụng. Nhờ sự phân biệt rõ ràng như vậy mà hoạt động của hệ thống Ngân hàng dần hoàn thiện và phát triển. Nhất là trong những năm gần đây, hoạt động của các ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ. Để thực hiện đường nối đổi mới nền kinh tế của Đảng và Nhà nước, các ngân hàng thương mại đã thực hiện chiến lược đổi mới mạnh mẽ các hoạt động của mình như: tăng cường huy động vốn từ nhiều nguồn, chú ý phát triển hoạt động makerting ngân hàng – chủ động tìm khách hàng thay vì chờ khách hàng đến với mình như trước, nâng cao chất lượng công nghệ ngân hàng, đổi mới cách thức tổ chức và điều hành…tất cả những điều đó đã góp phần không nhỏ cho sư nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh độc lập trên cơ sở hạch toán lỗ lãi “lời ăn- lỗ chịu”. Trong lĩnh vực kinh doanh Ngân hàng bao gồm rất nhiều hoạt động: hoạt động tín dụng, thanh toán, chuyển hoá vốn và các dịch vụ khác, trong đó hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, đây là hoạt động quan trọng nhất và mang lại 80%-90% lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Chính vì tính quan trọng của nó mà các khoản tín dụng do ngân hàng thương mại cấp ra phải đảm bảo được hiệu quả kinh doanh (thu được gốc + lãi đúng hạn và lãi thu được phải bù đắp được chi

2. phí, tạo ra được lợi nhuận cho hoạt động tín dụng). Nhưng nền kinh tế thị trường là kinh tế của sự cạnh tranh gay gắt và luôn chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. Trong cuộc cạnh tranh đó sẽ có một người thắng và nhiều kẻ thất bại. Cũng là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, chỉ đặc biệt hơn là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, các ngân hàng thương mại không thể chối bỏ được quy luật cạnh tranh này. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại luôn phải khắc phục những rủi ro trong bất cứ hoạt động nào của mình: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro chuyển hoá vốn, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái…Trong đó, rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà hậu quả của nó ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động khác, ảnh hưởng đến chính sự tồn tại và phát triển của bản thân ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: Nguyên nhân từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng, từ khả năng lắm bắt thông tin nhưng nguyên nhân chủ yếu là từ phía khách hàng, có nghĩa là khách hàng không trả được nợ vay cho ngân hàng vào thời điểm đáo hạn. Như vậy sẽ gây ra rủi ro đọng vốn hay rủi ro mất vốn cho phía ngân hàng. Từ những phân tích trên cho ta thấy rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được xuất phát từ khoản nợ mà khách hàng không trả được cho ngân hàng khi đến hạn, hay còn gọi đó là các khoản nợ quá hạn . Chính vì vậy, Để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh tín dụng thì trước hết ta phải có những biện pháp để phòng ngừa và hạn chế khả năng xuất hiện nợ quá hạn, giảm thiểu những tổn thất mà nợ quá hạn gây ra. Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề, sau thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á- chi nhánh Hà Nội, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Giải pháp xử lý nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á – chi nhánh Hà Nội.” 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài. Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng và giải pháp phòng ngừa, xử lý nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á – chi nhánh Hà Nội. Trên cơ sở đó để nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc trong vay vốn và hoàn thiện hơn các biện pháp đảm bảo an toàn để phòng ngừa nợ quá hạn. 2

3. 3. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu . Luận văn chỉ nghiên cứu và hoàn thiện về giải pháp phòng ngừa, xử lý nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại đặc biệt là Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á – chi nhánh Hà Nội, nhưng kết quả thu được có thể vận dụng cho các ngân hàng khác. Lý luận về giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ quá hạn trong ngân hàng thương mại. Giải pháp phòng ngừa và hạn chế nợ quá hạn tại ngân hàng thương mại cổ phần Bắc á chi nhánh Hà Nội. 4. Phương pháp nghiên cứu. * Phương pháp chung: là phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tế.Từ lý luận để xem xét thực tế và từ thực tế khái quát thành lý luận. * Phương pháp cụ thể: Phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp quy nạp, diễn giải, mô tả… 5. Kết cấu luận văn. Nội dung chính của luận văn chia làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề về nợ quá hạn và xử lý nợ quá hạn của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. Chương 2: Thực trạng nợ quá hạn và xử lý nợ quá hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á – chi nhánh Hà Nội. Chương 3: Giải pháp và kiến nghị về xử lý nợ quá hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á- chi nhánh Hà nội. 3

4. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ NỢ QUÁ HẠN VÀ XỬ LÝ NỢ QUÁ HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1. Nợ quá hạn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Như đã biết, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại và đem lại 80%-90% doanh thu cho các ngân hàng. Trong điều kiện cạnh tranh như ngày nay, nhu cầu của khách hàng ngày càng lớn và khó tính hơn, các ngân hàng thương mại luôn phải tìm ra các biện pháp để hoàn thiện hơn các hoạt động của mình, không chỉ mở rộng thêm về số lượng các loại hình hoạt động, tăng quy mô hoạt động của ngân hàng, mà còn phải quan tâm đến chất lượng của các hoạt động đó, nhất là vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỉ lệ nợ quá hạn xuống thấp. Tuy nhiên, trong quan hệ tín dụng việc phát sinh nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi.Nhưng vấn đề là ở chỗ làm thế nào để cho tỉ lệ nợ quá hạn không vượt quá con số cho phép, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại. Có thể nói nợ quá hạn luôn là vấn đề mà các ngân hàng thương mại phải quan tâm thường xuyên . Hoạt động của ngân hàng thương mại có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, bởi nó là trung gian tài chính cung cấp vốn cho nền kinh tế, điều này được thể hiện như sau: Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế được tạo ra từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm…Sau đó bằng nguồn vốn huy động được trong xã hội thông qua nghiệp vụ tín dụng lại trở lại cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu vốn cho quá trình tái sản xuất xã hội. Như vậy, nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế. Như vậy sẽ làm cho nền kinh tế phát triển bền vững hơn. 4

5. Do vai trò rất quan trọng của hệ thống Ngân hàng thương mại, để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của nó, nhà nước và ngân hàng nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định về hoạt động kinh doanh ngân hàng, tạo hành lang pháp lý trong kinh doanh và tăng cường mức độ an toàn cho hoạt động ngân hàng. Đó là một trong những điểm rất mạnh trong việc quản lý của hệ thống ngân hàng hiện nay và tình hình đó sẽ còn được cải tiến sâu hơn nữa. Vấn đề là ở chỗ phải tìm hiểu rõ xem nợ quá hạn phát sinh từ đâu, cái gì gây nên nợ quá hạn. Và nếu nợ quá hạn xảy ra thì phải làm thế nào để khống chế, xử lý nó. 1.1.1 .Khái niệm và phân loại nợ quá hạn. 1.1.1.1. Khái niệm và nguồn gốc phát sinh nợ quá hạn . a.Khái niệm. Theo quyết định số 284.2000.QĐ-NHNN1 ngày 25.8.2000 về việc ban hành quy chế cho vay vốn của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng quy định rõ: NQH trong kinh doanh của ngân hàng là hiện tượng của khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn mà đã cam kết trong khế ước vay trước đây. Nếu không được điều chỉnh kỳ hạn nợ hay được ra hạn nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền chậm trả. Như vậy bản chất của NQH trong kinh doanh tín dụng là hiện tượng đến thời hạn thanh toán khoản nợ người đi vay không có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho vay. Hay nói cách khác thì NQH là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Ta có: Tỉ lệ Nợ quá hạn (%) = Tổng Nợ quá hạn x 100 Tổng dư nợ – Ý nghĩa: Tỉ lệ nợ quá hạn phản ánh: Cứ 100 đồng cho vay thì có bao nhiêu đồng NQH. Trong đó : +Tổng NQH bao gồm: NQH, nợ chờ xử lý, nợ khoanh. +Tổng dư nợ cho vay, cho thuê phải xem xét đến các yếu tố: 5

6. * NQH <180 ngày, 180 ngày< NQH<360 ngày * Các khỏan nợ chờ xử lý. * Nợ cho vay được khoanh. Theo quy định của NHNN thì tỉ lệ NQH so với tổng dư nợ cho vay, cho thuê ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 5% và NQH khó đòi chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng NQH thì NHTM đó mới được đánh giá là có hoạt động tín dụng hiệu quả. Để xem xét về thực trạng NQH, Người ta quan tâm nhiều đến rủi ro mang tính thời hạn. Ta có: Tỷ lệ NQH theo thời gian(%) = Số nợ gốc chưa trả của tất cả các khoản vay quá hạn từ 1,31,61,91…360 ngày x 100 Tổng dư nợ cho vay, cho thuê Dựa vào cách tính cụ thể này, các NHTM biết một cách chính xác hơn về tình hình NQH của ngân hàng mình trong từng thời điểm, so sánh với mức quy định chung, để từ đó có các biện pháp điều chỉnh, và quản lý tín dụng tốt hơn. b.Nguồn gốc phát sinh NQH. Khi tiến hành cấp tín dụng, Các NHTM luôn luôn mong muốn thu lại được cả gốc và lãi của khoản tín dụng đầy đủ và đúng thời hạn. Chính vì thế, khi quyết định cấp một khoản tín dụng thì các NHTM phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt các bước trong quy trình tín dụng từ việc thu thập thông tin, thẩm định khách hàng, giải ngân, giám sát quá trình sử dụng, thu lại gốc và lãi. Đặc biệt là phải làm tốt bước giám sát quá trình sử dụng khoản vay của khách hàng, nếu phát hiện thấy có biểu hiện sử dụng vốn sai mục đích thì các NHTM phải có biện pháp ngăn ngừa và xử lý kịp thời. Chính vì vậy, quản lý 6

8. không được vững chắc, các đối tác tự ý huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh, đẩy tình hình tài chính của DN vào chỗ khó khăn. Năm là thu nhập của người vay không ổn định, có nhiều thu nhập bất thường với khối lượng lớn Như vậy NHTM khó có thể thu lại khoản vay do tình hình tài chính của DN cũng bất ổn định, nhất là vào lúc khoản vay tới thời điểm đáo hạn tỉ lệ xảy ra NQH là rất cao. Sáu là số vòng quay vốn tín dụng trong thực tế thấp hơn trong hợp đồng tín dụng đã kí kết dẫn đến ứ đọng vốn trong SXKD của người vay. Ngoài ra còn một số dấu hiệu khác như: KH tự ý xin hoãn nợ, khất nợ, hoàn trả nợ vay NH chậm hay quá kỳ hạn, không đầy đủ như đã cam kết, gia tăng TSCĐ qua việc sáp nhập hay mua lại của các DN khác, các thảm hoạ thiên nhiên xảy ra: bão lụt, hoả hoạn… Đó là các dấu hiệu khó khăn về tài chính của KH cũng có nghĩa là khả năng trả nợ vay của KH thấp. Trên cơ sở các dấu hiệu này, NH sẽ tìm ra các biện pháp điều chỉnh và ngăn ngừa kịp thời, tránh dẫn đến những khoản NQH có thể gây ra RRTD. 1.1.1.2.Phân loại NQH . Có rất nhiều nguồn gốc làm phát sinh NQH. Vấn đề là ở chỗ, khi NQH phát sinh thì làm thế nào để xử lý nó. Để tiện cho việc quản lý tín dụng và xây dựng kế hoạch thu hồi vốn vay trong từng trường hợp cụ thể, giải quyết NQH thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số tiêu thức phân chia thường được áp dụng trong các NHTM. * Căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản vay: + NQH dưới 180 ngày + NQH từ 180 ngày đến 360 ngày + NQH trên 360 ngày. * Căn cứ vào khả năng thu hồi: + NQH đòi đủ 1000%. + NQH khó đòi khả năng thu hồi không đủ và phải kéo dài. + NQH không có khả năng thu hồi. 8

10. nhân gây RRTD là từ phía khách hàng. Các NHTM cho đến ngày nay cũng đưa ra nhiều biện pháp và có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc hạn chế RRTD từ nguyên nhân này, việc “khám sức khoẻ” của KH trước, trong và sau khi cho vay, độ tin cậy trong quá trình quan hệ, mục đích sử dụng tiền vay, hiệu quả của phương án SXKD là cơ sở vững chắc cho việc quyết định có cho vay hay không. Tuy nhiên, NQH vẫn xảy ra và trở thành vấn đề bức xúc trong hệ thống NHTM nước ta hiện nay, vậy nguyên nhân là do đâu. a. Rủi ro trong công việc kinh doanh của người đi vay. Trong điều kiện phát triển như ngày nay ,chúng ta chủ yếu xét đến các DN. Khi các DN được phép vay một khoản vay để thực hiện một dự án kinh doanh thì phần chi phí để trả cho NH được trích từ lãi mà dự án này thu được. Như vậy, “sức khoẻ” của khoản tín dụng phụ thuộc vào tính khả thi của dự án. Cũng có nghĩa là, Bất cứ một rủi ro nào trong quá trình SXKD của doanh nghiệp (đang sử dụng vốn của NH) cũng đều ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ NH. Tính rủi ro trong công việc kinh doanh của DN có thể do việc triển khai dự án đầu tư SXKD không khoa học, chưa thực hiện kỹ càng, xác thực. Các số liệu về mức tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường, chất lượng NVL đầu vào, các yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm chưa đầy đủ. Ngoài ra, cũng có thể có những nguyên nhân bất khả kháng, ngoài ý muốn của các điều kiện sản xuất, gây nên tình trạng khó khăn trong làm ăn, mang lại rủi ro cho DN và làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH ở các mức độ khác nhau. b. Các thiệt hại DN phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp. Nếu giá cả của NVL trên thị trường tăng do khan hiếm hay do một lý do nào khác mà DN không thể không tiến hành SX. Như vậy sẽ đẩy giá thành của mỗi đơn vị sản phẩm tăng lên, trong khi đó giá bán sản phẩm trên thị trường lại không thay đổi sẽ làm cho tổng doanh thu giảm xuống, lợi nhuận thu được từ dự án cũng giảm so với kế hoạch. 10

12. vay đối với NH hay doanh nghiệp cố ý không muốn trả nợ để dùng khoản tiền đó đầu tư kiếm lời. 1.1.2.2.Nguyên nhân từ phía NH. Tuy chiếm tỉ lệ không cao trong các nguyên nhân gây rủi ro tín dụng – NQH, nhưng nó lại phản ánh trình độ, khả năng quản lý, năng lực kinh doanh của NHTM. Trước hết là ở tầm quản lý, Ban quản trị NH phải đưa ra được một chính sách cho vay phù hợp với thực tế. Bởi chính sách cho vay là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của NH. Chính sách đưa ra đồng bộ, thống nhất, đầy đủ, đúng đắn, sẽ xác định phương hướng đúng đắn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện nhiệm vụ nâng cao hiệu quả KT-XH của hoạt động tín dụng, nếu không sẽ dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe hở cho người sử dụng vốn, như vậy sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế, dẫn đến rủi ro tín dụng – NQH. Thứ hai là NH chưa thật chú trọng vào mục tiêu của các khoản vay, tính toán thiếu chính xác hiệu quả đầu tư của dự án dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay. Thứ ba là NH đã không chú trọng khâu giám sát khoản vay sau quyết định cho vay hay quá tin vào khách hàng. Có thể dẫn đến tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, hay tình hình tài chính, khả năng thanh toán của KH có vấn đề. Như vậy sẽ gây nên rủi ro cho khoản vay NH. Thứ tư là do trình độ của cán bộ tín dụng còn yếu kém không có khả năng đánh giá dự án vay vốn. Thêm vào đó NH lại không cung cấp đủ số liệu thống kê, các chỉ tiêu để phân tích, so sánh, đánh giá vai trò vị trí của DN trong ngành, khả năng phát triển trong tương lai… Từ đó dẫn đến việc đánh giá sai hiệu quả của dự án cho vay. Mặt khác cũng có thể do tư cách đạo đức của cán bộ tín dụng, thông đồng với KH để trục lợi riêng gây nên rủi ro tín dụng cho NH và tình trạng NQH rất dễ xảy ra. 12

14. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động NH rất nhạy cảm với mọi sự biến động của nền kinh tế. Nền kinh tế đang ở trong tình trạng suy thoái, sản xuất đình đốn, thu nhập của mọi thành viên trong nền kinh tế giảm, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ NH, số lượng các khoản nợ quá hạn tăng lên. Mặt khác, NH cũng gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh của mình do hoạt động kinh doanh của các DN kém hiệu quả. Còn nếu nền kinh tế quá nóng, hiện tượng lạm phát xảy ra, giá cả đồng tiền giảm sút và chỉ số giá cả tăng nhanh, gây khó khăn cho hoạt động SXKD, tác động xấu đến việc thu hồi công nợ của NH. Ngoài ra, các lĩnh vực SXKD còn gặp rủi ro bất khả kháng về thiên nhiên, thiên tai và dịch hoạ. *. Nhân tố chính sách. Sự điều chỉnh về chính sách, chế độ, pháp luật, những thay đổi về địa giới hành chính các địa phương, xát nhập, hay tách ra của các bộ ngành trong nền kinh tế đều gây rủi ro trong kinh doanh tín dụng của NHTM nếu như không nắm bắt kịp thời các thông tin. *. Nhân tố quốc gia. Nếu NH đầu tư sang một nước khác hay đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài tại VN, hoặc cho vay, bảo lãnh đối với DNVN trong quan hệ với nước ngoài để tiếp nhận máy móc thiét bị công nghệ hay đầu tư cho các DN có quan hệ SXKD hàng hoá với thị trường ngoài nước… thì NH phải quan tâm đến rủi ro của quốc gia đối với từng nước khác nhau. Nếu như ở các nước đó có sự suy thoái về kinh tế, có biến động về chính trị, có NH bị phá sản, có sự biến động mạnh về giá cả, lãi suất, về thuế xuất nhập khẩu… gây khó khăn cho khách hàng của NH. Như vậy NH sẽ gặp khó khăn trong vấn đề thu nợ, và bị ảnh hưởng gián tiếp của các biến động đó. *. Nhân tố môi trường. Môi trường kinh doanh bên ngoài có tác động rất lớn đến các khoản vay dưới các góc độ khác nhau. Ta có thể xem xét một số yếu tố môi trường có thể gây ra rủi ro tín dụng và NQH như: 14

16. hưởng của nó không chỉ trong phạm vi hệ thống NH mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, bởi NHTM là trung gian tài chính cung ứng vốn cho nền kinh tế, luân chuyển tiền tệ cho nền kinh tế, tạo sự phát triển ổn định cho nền kinh tế. Chính vì vậy mà mọi thành phần kinh tế rất quan tâm đến hoạt động kinh doanh của NH, đặc biệt là ảnh hưởng của NQH. 1.1.3.1. Đối với NH. NQH sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, do NQH phát sinh khi KH không trả được nợ vay NH tại thời điểm đáo hạn. Như vậy, cũng có nghĩa là một phần vốn của NH bị lãng phí do bị tồn đọng trong các khoản nợ . Việc tồn đọng này làm cho NH mất đi các cơ hội kinh doanh kiếm lời khác. Hơn nữa, NQH còn làm giảm vòng quay vốn của NH. Ta có : Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ Số dư nợ bình quân Doanh số thu nợ có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với số dư nợ bình quân. Nếu doanh số thu nợ càng cao thì sẽ làm cho số dư nợ bình quân giảm. Hay nói cách khác NQH phát sinh làm cho doanh số cho vay giảm, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Hoạt động tín dụng tạo ra cho NH tới 80%-90% thu nhập. Mà nguồn vốn của NH chủ yếu được huy động từ bên ngoài với chi phí huy động lớn, để bù đắp cho khoản chi phí chủ yếu này thì NH phải lấy từ thu nhập của các khoản cho vay. Do vậy, nếu khoản cho vay không thu hồi được dẫn đến một bộ phận tài sản của NH bị đóng băng trong khi các khoản chi phí huy động vẫn phải chi trả, vậy NQH đã làm giảm lợi nhuận của NH. Bên cạnh đó nếu tài sản của NH bị đóng băng sẽ làm giảm dư nợ tín dụng, giảm khả năng thanh toán. Nếu khoản vay của KH bị xếp vào NQH thì NH sẽ áp dụng mức lãi suất NQH cao hơn mức lãi xuất thường (150% lãi suất thường ). Vậy tại sao các NHTM luôn phải hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng này trong khi có thể kiếm được một khoản thu nhập tốt từ lãi xuất phạt NQH. Bởi thực tế thì đây chỉ là khoản thu nhập ảo, NH khó có thể thu hồi được. Mặt khác, NH lại còn phải bỏ 16

17. ra một khoản chi phí quản lý giám sát, thanh lý khoản nợ này trong tương lai, đây là một điều mà không NHTM nào muốn bởi nó còn làm ảnh hưởng đến uy tín của NH. Trong hợp đồng cho vay giữa NH và KH có một điều khoản là: Nếu như khách hàng không trả được khoản nợ vay và có những hành vi vi phạm đến các điều khoản trong hợp đồng thì NH có thể đưa ra các cơ quan pháp luật để xử lý. Việc có xử lý được hay không cũng làm ảnh hưởng đến uy tín của NH mà trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường ngày nay, uy tín của NH cũng là một sản phẩm kinh doanh rất có giá trị . Một điều nguy hiểm hơn nữa nếu NQH không được hạn chế thì một nguy cơ phá sản của NH là rất cao. NQH là nguyên nhân chủ yếu gây ra RRTD, mà NH sống được là nhờ có hoạt động tín dụng lành mạnh. Chính vì thế mà NQH là vấn đề bức xúc cần giải quyết của các NHTM. 1.1.3.2. Đối với khách hàng. Đối với khoản NQH, KH sẽ phải chịu lãi xuất nợ quá hạn theo quy định bằng 150% mức lãi xuất cho vay cùng loại. Nếu tình hình tài chính của KH đang gặp khó khăn lại gánh thêm phần chi phí tăng lên từ khoản lãi xuất phạt này thì càng làm tăng gánh nặng trả nợ NH. Thêm vào đó, hoạt động kinh doanh của DN càng phát triển thì nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán qua NH càng lớn. Vì một nguyên nhân nào đó mà khoản vay của DN bị liệt vào NQH, mặt khác số dư tiền gửi của DN tại NH không còn khả năng trả nợ thì việc hưởng dịch vụ thanh toán qua NH sẽ bị ngưng lại. Quá trình thanh toán bị ngưng lại cũng đồng nghĩa với việc luân chuyển vốn của DN bị ảnh hưởng theo chiều hướng xấu, mất đi nhiều cơ hội kinh doanh với các khoản lợi đáng nhẽ ra sẽ thu được. Tình trạng không có khả năng trả nợ mà càng kéo dài thì uy tín của KH đối với các đối tác làm ăn càng giảm xuống. Thứ nhất là đối với các NHTM Họ sẽ không muốn quan hệ với các KH có tình hình hoạt động kém hiệu quả, gây ra RRTD-NQH cho họ. Thứ hai là, các bạn hàng sẽ rút lại các hợp đồng làm ăn nếu có những thông tin không tốt về tình hình tài chính của DN. 1.1.3.3. Đối với nền kinh tế. 17

19. Theo quy định của luật pháp thì chỉ có đơn vị pháp nhân mới có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế. Trong khi hợp đồng tín dụng cũng là một hợp đồng kinh tế, cho nên NH chỉ ký kết với các đơn vị có đây đủ tư cách pháp nhân. Ở đây tư cách pháp nhân được hiểu là: Một tổ chức được nhà nước thành lập hay cho phép thành lập một cách hợp pháp, phải có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phải có tài sản độc lập với tài sản của tổ chức và cá nhân khác, tự nhân danh mình tham gia các quan hệ quản lý và tự chịu trách nhiệm về tất cả hoạt động của mình trong phạm vi phần tài sản mà mình quản lý. Như vậy, Một đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân phải có đầy đủ và hợp lệ các giấy tờ: *. Quyết định thành lập DN: Quyết định thành lập DN cho phép NH khẳng định được tư cách của đơn vị và hoạt động của DN phù hợp với luật định. Đây là cơ sở đầu tiên để NH lựa chọn KH đầu tư vốn. DN hoạt động theo đúng luật định thì vốn của NH bỏ vào sẽ an toàn hơn. *. Quyết định tổ chức: Quyết định tổ chức sẽ cho NH biết về người lãnh đạo của DN. Đối với một DN thì vai trò của người lãnh đạo rất quan trọng. NHTM phải quan tâm tới trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, khả năng kinh doanh, khả năng trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn của người lãnh đạo này. *. Giấy phép kinh doanh : Giấy phép kinh doanh cho biết DN đang hoạt động ở đúng lĩnh vực được phép kinh doanh hay không. NH chỉ cho vay những đối tượng phục vụ cho quá trình SXKD của DN theo đúng luật định. Nếu KH vay vốn đầu tư cho những mặt hàng không thuộc phạm vi chức năng của mình thì NH không cho vay bởi mức độ RR cao.  . Phân tích tình hình SXKD: Để phân tích tình hình SXKD thì NH dựa vào hai chỉ tiêu sau: – Thứ nhất là dựa vào doanh thu của DN: 19

20. Đây là cơ sở kinh tế cơ bản phản ánh chất lượng tiêu thụ sản phẩm của DN. Nếu doanh thu càng lớn thì DN càng có thể tăng thu nhập, có điều kiện mở rộng SXKD, và tăng khả năng trả nợ vay cho NH. Nhưng doanh thu của DN tăng nhanh trong kỳ có thể là do những thu nhập bất thường trong kinh doanh. Khi quyết định cho vay NH phải hết sức chú ý . – Thứ hai là dựa vào kết quả SXKD của DN: Kết quả SXKD của DN được tính bằng chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm. Kết quả kinh doanh càng tăng chứng tỏ DN làm ăn có hiệu qủa, khả năng sử dụng vốn tốt, khoản tín dụng của NH có điều kiện hoàn trả đúng hạn.  .Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở báo cáo tài chính của DN tại thời điểm gần nhất, NHTM sẽ đánh giá dược DN thừa vốn hay thiếu vốn, việc sử dụng tài chính của DN có tốt hay không, từ đó sẽ đánh giá được mức độ RR của khoản vay sau này. Khi phân tích tình hình tài chính của đơn vị, NHTM cần sử dụng các chỉ tiêu như: – Tỉ số chênh lệch giữa vốn tự có. vốn sử dụng, hạn chế không cho những DN có vốn tự có thấp vay để hạn chế thấp nhất RR cho khoản vay. – Chênh lệch giữa các khoản phải trả. phải thu: Chênh lệch này cho biết tỉ lệ vốn đi chiếm dụng và vốn bị chiếm dụng là bao nhiêu. Khi xem xét chỉ tiêu này NH sẽ thấy được ảnh hưởng của nó đến khả năng hoàn trả khoản vay đúng hạn của KH. – Khả năng thanh toán : một DN có khả năng thanh toán tốt là có khả năng tự cân đối các khoản nợ khi đến hạn. Nếu DN mất khả năng thanh toán thì khoản tín dụng của NH sẽ gặp RR cao.  . Phân tích dự án vay vốn của KH. a. Phân tích tính pháp lý của dự án. Để thực thi một dự án thì trước hết dự án đó phải có tính pháp lý. Tính pháp lý của dự án phải thoả mãn các điều kiện sau: 20

21. – Mục đích đầu tư của dự án phải phù hợp với mục đích hoạt động của DN mà cấp có thẩm quyền đã phê duyệt. – Dự án phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt. b. Phân tích tính khả thi của dự án: Để dự án SXKD được thực thi thì phải có đầy đủ NVL, nhân lực, có thị trường tiêu thụ. *. Về nguồn NVL phục vụ cho SX: NH phải xem xét nguồn NVL này được cung cấp từ nguồn nào, có dễ kiếm tìm, hay được thay thế hay không, có ổn định không. Quan trọng hơn nữa là chất lượng của NVL có được đảm bảo, giá cả có hợp lý hay không. Bởi tất cả các yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả SXKD của DN và tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay cho NH. *. Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm sản xuất ra có tiêu thụ được trên thị trường hay không, DN đã phải tính đến khi quyết định thực hiện dự án. Trong kế hoạch của dự án, DN phải tính một cách cụ thể về khối lượng, mẫu mã, chủng loại, giá cả của sản phẩm sao cho khi đưa ra thị trường được chấp nhận ngay và sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn phải đáp ứng cả nhu cầu trong tương lai. Việc nghiên cứu sản phẩm có ý nghĩa đánh giá khả năng thực thi của dự án và khả năng hoàn trả nợ vay NH của DN. Sản phẩm là mấu chốt quan trọng để DN có nguồn thu bù đắp cho tất cả các chi phí đã sử dụng. Cho nên khi nghiên cứu tính khả thi của dự án, các NHTM phải đặc biệt chú ý đến sản phẩm và chu kỳ sống của nó * Phân tích hiệu quả kinh tế do dự án đem lại: Ta có chỉ tiêu sau: Hiệu quả kinh tế = Lợi nhuận thu được của dự án Tổng số vốn đầu tư bỏ vào dự án 21

22. Chỉ tiêu này cho biết : Cứ mỗi đồng vốn bỏ ra thì DN thu lại được bao nhiêu phần lợi nhuận. Dựa vào chỉ tiêu này, NH sẽ biết được hiệu quả sử dụng vốn của DN có tốt hay không. Mỗi dự án SXKD đều có sự tham gia của NH dưới hình thức cho vay vốn, khi đó DN sẽ phải chịu một mức lãi suất theo quy định cho khoản vay đó. Hiệu quả kinh tế do dự án đem lại phải đảm bảo lớn hơn mức lãi suất mà NH cho vay, như vậy mới đảm bảo cho DN khả năng trả vốn và lãi cho NH một cách đầy đủ. Đây là chỉ tiêu quan trọng để NH có quyết định cho vay hay không. * Phân tích giá thành của sản phẩm: Giá thành sản phẩm càng thấp thì khả năng thu lợi càng cao. Đây là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện mọi kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Bởi giá thành sản phẩm phản ánh toàn bộ chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giá thành thấp chứng tỏ dự án đã tận dụng một cách có hiệu quả mọi tiềm năng của DN. Nhưng khi đánh giá về giá thành của sản phẩm, các NHTM phải xem xét các chi phí cấu thành nên giá thành và tổng giá thành có hợp lý hay không, chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm trên thị trường có cao không. * Phân tích khả năng đáp ứng về vốn cho dự án: Để thực hiện một dự án SXKD, điều đầu tiên và rất quan trọng là phải có vốn. Khi xem xét về nguồn vốn cung cấp cho dự án, phải xem xét xem nguồn vốn được cung cấp từ nguồn nào, có đảm bảo an toàn và ổn định hay không. Thông qua phân loại nguồn vốn, NH sẽ có con số chính xác về VTC của DN tham gia vào dự án. NH chỉ cho vay các dự án mà VTC của DN tham gia vào dự án lớn . Như vậy sẽ thúc đẩy được DN sử dụng đến mức lớn nhất các tiềm lực của mình. Mặt khác, căn cứ vào VTC của DN mà NH tính ra mức dư nợ tối đa có thể cấp cho DN, tránh trường hợp cấp thừa, lãng phí, giảm hiệu quả sử dụng vốn. Tóm lại, nhờ vào việc phân tích đánh giá KH và dự án mà KH xin vay vốn đã giúp cho NH lắm bắt được tình hình “sức khoẻ” hiện tại và trong tương 22

23. lai của DN, khả năng đầu tư, hiệu quả đầu tư có thể đạt được của dự án để từ đó đưa ra quyết định cho vay đúng đắn nhất, hạn chế được NQH phát sinh. 1.1.4.2. Đối với Ngân hàng.  . Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng. Để hạn chế NQH, Công việc của các NHTM không chỉ là phân tích đánh giá yếu tố KH mà phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng. * Kiểm tra việc chấp hành kế hoạch dư nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn xem có phù hợp với cơ cấu nguồn vốn, có những biện pháp để khỏi tăng nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng SXKD của các tổ chức kinh tế trên địa bàn. * Kiểm tra hồ sơ cho vay, đánh giá chính xác về tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay. Đặc biệt là tính pháp lý và tính thực tiễn của những tài liệu trong hồ sơ vay vốn như: Đơn xin vay, phương án SXKD, tình hình tài chính của đơn vị vay, hồ sơ đảm bảo nợ vay, giấy phép kinh doanh, giá trị của tài sản đảm bảo, hợp đồng mua bán vật tư… * Kiểm tra về một số chỉ tiêu như: – Thời hạn cho vay, thời hạn gia nợ, mức tín dụng được cấp. * Khi kiểm tra thời hạn cho vay phải xác định cơ sở của thời hạn cho vay có phù hợp với sự luân chuyển vốn của đối tượng vay. * Gia hạn nợ phải đảm bảo tuân thủ quy trình ra hạn nợ, đặc biệt là hướng khắc phục giải quyết khoản nợ sau khi gia hạn của KH. * Về mức tín dụng được cấp phải làm rõ cơ sở xác định mức tín dụng thông qua việc xem xét nhu cầu vay, khả năng đáp ứng của NH, giá trị tài sản làm đảm bảo… * Kiểm tra về việc bảo quản TS thế chấp cầm cố: Phải xem xét mối tương quan về giá trị tài sản thế chấp với số vốn được vay. Theo quy định của NHNN, Số vôn được vay của KH chỉđược phép <=70% giá trị của tài sản thế chấp, đó là cơ sở đầu tiên để NH đưa ra hạn mức cho vay 23

25. Trên thực tế không phải bất cứ DN nào cũng sử dụng có hiệu quả vốn vay. Thậm chí, NHTM còn rơi vào tình trạng mất vốn hay thâm hụt vốn do sự giả danh hay mạo nhận DN gây ra RR, tổn thất cho NH. Chính vì vậy mà vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng là việc làm hết sức cần thiết. Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề, NHNN đã xây dựng hệ thống thông tin phòng ngừa RR của ngành NH gọi tắt là CIC (Credit Imformation Center). Hệ thống CIC đã phần nào làm giảm bớt tình trạng thiếu thông tin tín dụng phục vụ công tác cho vay của các NHTM và các TCTD. Tuy vậy, do mới đi vào hoạt động nên hệ thống CIC vẫn còn nhiều bất cập như: thông tin thu thập được chủ yếu do các DN và các NHTM cung cấp nên chưa đảm bảo tính trung thực. Và công nghệ sử dụng chưa đồng bộ và hiện đại, gây ra tình trạng chậm chạp trong việc thu thập và xử lý thông tin. Chính vì vậy, thông tin mà CIC cung cấp vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cho các NHTM và TCTD trong việc thẩm định KH, đưa ra một quyết định cho vay an toàn nhất, khiến cho tỉ lệ NQH và nợ khó đòi của cácNHTM VN vẫn cao hơn so với mức cho phép.  . Phân tích khả năng mở rộng hay thu hẹp TD trong từng thời kỳ. Nên mở rộng hay thu hẹp TD trong từng thời kỳ khác nhau, các NHTM phải phân tích đánh giá trước hết ở tầm vĩ mô. Đó là, việc nắm bắt kịp thời thông tin về các chính sách của NN đối với nền kinh tế nói chung và đối với hệ thống NHTM nói riêng. Như vậy sẽ làm giảm được các RR xảy ra do sự thay đổi của chính sách.Trong điều kiện các văn bản pháp luật chưa hoàn thiện như nước ta hiện nay, hệ thống NHTM phải chú ý đến các chính sách tín dụng của mình sao cho phù hợp với tình hình hiện tại và có thể phát triển trong tương lai Tiếp đó là phải nghiên cứu nhu cầu thị trường, để từ đó có cái nhìn tổng quát về nhu cầu của thị tường đối với sản phẩm của từng ngành SXKD trong thời điểm hiện tại và tương lai. Từ đó đưa ra các quyết định nên thu hệp hay mở rộng hoạt động tín dụng đối với các ngành cụ thể, tránh RR biến động đối với môi trường kinh doanh.  .Thực hiện tốt việc đôn đốc thu nợ và lãi phù hợp với từng khoản vay 25

27. Như đã biết, bản chất của NQH là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Bởi nó vi phạm đồng thời tính hoàn trả đầy đủ của hoạt động tín dụng, gây nên sự đổ vỡ lòng tin của người cấp tín dụng đối với người nhận tín dụng . Khi một khoản vay được giải ngân, không cần biết khoản vay đó có vấn đề hay không, các NHTM đã phải đề ra các biện pháp để ngăn ngừa và hạn chế NQH xảy ra. Nếu tình trạng NQH xảy ra thì các NH phải đưa ra các biện pháp để xử lý nó nhằm làm giảm thiểu đến mức tối đa ảnh hưởng của nó đến hoạt động tín dụng và hoạt động của cả NH. Trước hết ta nói đến các hình thức xử lý NQH trong hệ thống các NHTM. Tuy nhiên, phải tuỳ vào mức độ của khoản nợ mà đưa ra các hình thức xử lý khác nhau một cách phù hợp nhất. 1.2.1.1. Đối với các khoản nợ quá hạn thông thường. Đây là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao, để tạo điều kiện cho KH trong việc trả nợ thì NH có thể áp dụng các hình thức sau. *. Gia hạn nợ: Gia hạn nợ thực chất là việc kéo dài thêm thời hạn trả nợ cho KH sau khi khoản vay tới thời điểm đáo hạn mà KH không trả được nợ. Để được gia hạn nợ thì các DN phải có đơn xin gia hạn. Việc gia hạn nợ có thể tiến hành trước thời điểm đáo hạn của khoản vay, nếu vì bất cứ một lý do nào đó mà DN không xin gia hạn thì khoản vay sẽ bị chuyển sang NQH và đương nhiên là DN sẽ phải chịu lãi xuất NQH cao hơn lãi xuất của khoản vay thông thường. Như vậy sẽ gây ảnh hưởng xấu cho cả phía DN và phía NH. Nhưng nếu sau dó DN lai có đơn xin gia hạn nợ, NH xét nếu thấy hợp lý thì khoản nợ sẽ được chuyển về khoản nợ thông thường chịu lãi xuất gia hạn. Các khoản nợ kiểu này thường xảy ra đối với các DN có trình độ chuyên môn cao nhạy bén với cơ chế thị trường và có khả năng điều chỉnh hoạt động kinh doanh để có thể thu hồi vốn hoàn trả khoản vay cho NH. * Khai thác: Đây là một quá trình làm việc cùng với người vay cho đến khi khoản vay được hoàn trả đầy đủ mà không cần đến các công cụ pháp lý để thu nợ. 27

28. Thông thường, nếu tình hình tài chính của DN gặp khó khăn thì khoản cho vay của NH cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi nhưng nếu DN có ý thức trách nhiệm đối với khoản vay thì NH có thể xem xét để xử lý bằng hình thức khai thác. Có nghĩa là người vay sẽ tự khắc phục các khó khăn về tài chính của mình và nhanh chóng trả nợ vay cho NH, tránh trường hợp đẩy DN vào tình trạng phá sản. Khai thác là một biện pháp tổng hợp, tuỳ theo những khó khăn khác nhau để có các hình thức xử lý khác nhau sao cho thích hợp nhất. – Đưa ra những lời khuyên, tư vấn giúp cho KH khôi phục tình hình SXKD của mình, tạo nguồn thu nhập ổn định, giải quyết khó khăn về vấn đề tài chính và khả năng trả nợ vay cho NH. Bằng những kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình trên nhiều lĩnh vực, NH sẽ tư vấn cho KH về thị trường tiêu thụ sản phẩm, tư vấn về các khoản chi phí chưa hợp lý, tìm bạn hàng…Từ đó DN sẽ tự kinh doanh để thu được kết quả tốt nhất , trả nợ đầy đủ cho NH. – Điều chỉnh kỳ hạn nợ cho những khoản vay mà NH đã đưa ra chưa phù hợp với chu kỳ SXKD của DN . Vòng luân chuyển vốn chưa kết thúc, DN chưa thu hồi lại được vốn, trong khi các khoản nợ đã xắp đến hạn trả. Như vậy khoản cho vay cuả NH sẽ có nguy cơ gặp RR. Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ cho phù hợp sẽ tạo nên sự an tâm cho KH trong SXKD và tạo uy tín cho NH trong việc cho vay. – Cấp phát thêm vốn để “nuôi nợ”: NH sẽ cung cấp thêm vốn cho KH trong trường hợp KH không trả được khoản nợ trước khi nó đã đến kỳ hạn phải trả và phải xin gia hạn nợ. Đây là việc làm hết sức mạo hiểm, nếu không tính kỹ thì NH sẽ rơi vào tình trạng bị gia tăng các khoản NQH. DN thường xin cấp phát thêm vốn để giải quyết khó khăn tài chính tạm thời. NH phải xem xét tính hoàn trả của KH, uy tín của KH, khả năng giải quyết tình hình tài chính rồi mới quyết định có nên cấp phát thêm vốn hay không . – Nếu khoản vay có nguy cơ gặp RR do giám đốc đương nhiệm không có khả năng điều hành hay có nguyên nhân RR về đạo đức mà chưa có người thay 28

30. Đây là biện pháp cuối cùng sau khi đã áp dụng các biện pháp để cải thiện tình hình SXKD, tình hình tài chính của DN không có hiệu quả. Thì dựa theo các quy định trong hợp đồng đã ký kết, NH sẽ áp dụng biện pháp thanh lý tài sản thế chấp để có thể thu lại một phần vốn đã mất, bên cạnh đó NH vẫn sẽ phải theo rõi khoản nợ khó đòi này. Thanh lý tài sản thế chấp là biện pháp mà NH bắt buộc KH phải tuân theo đúng như trong điều khoản hợp đồng đã ký kết về vấn đề thanh lý tài sản thế chấp của khoản vay. Đây là vấn đề mà cả hai bên đều không mong muốn vì nó quá khắc nghiệt với người vay. Mặt khác các thủ tục pháp lý lại quá rắc rối, tốn nhiều chi phí, mà theo thời gian thì giá trị của tài sản thế chấp có nhiều biến động sẽ không đảm bảo bù đắp cho khoản vay. Thêm vào đó là uy tín của NH có thể bị giảm sút do sự nghi ngại của KH về hoạt động của NH là không an toàn và hiệu quả, nếu như NH có quá nhiều các hợp đồng phải áp dụng biện pháp thanh lý tài sản thế chấp. Có nhiều hình thức thanh lý tài sản thế chấp, sau đây là một số hình thức được áp dụng phổ biến trong quan hệ tín dụng giữa NH và KH: +.NH cố gắng thuyết phục KH tự bán TSTC thay vì NH bán phát mại trên thị trường, như vậy có thể bán được với giá cao hơn. Thêm vào đó KH cũng tránh được những RR do mất uy tín với bạn hàng, và NH cũng tránh được những chi phí trong việc giải quyết tài sản thế chấp này. Có lẽ, Đây là biện pháp có lợi nhất đối với cả hai phía. +.KH gán nợ cho NH và để cho NH tự bán tài sản thế chấp để thu nợ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc bán tài sản thế chấp không phải là công việc của NH, vừa tốn thời gian và cả chi phí cho việc tìm khách mua. Cho nên, NH thường sử dụng để làm văn phòng, trụ sở giao dịch, cho thuê, góp vốn liên doanh liên kết. +.NH có thể đề nghị các cơ quan có thẩm quyền tham gia bán đấu giá tài sản thế chấp. Nếu tài sản thế chấp bán ra không đủ để bù đắp nợ thì NH có thể nhận phán quyết của toà án về phần chênh lệch, ví dụ như NH được phép thu thêm nếu người vay còn các tài sản khác. 30

31. * Bán nợ: Đây là biện pháp được áp dụng khá nhiều ở các quốc gia có thị trường tài chình phát triển. Các khoản nợ sẽ được chào bán trên thị trường này thông qua các công ty môi giới sẽ môi giới cho các công ty chuyên mua bán nợ đứng ra mua khoản nợ này. Tất nhiên đây là các khoản nợ có khả năng thu hồi thấp, và NH không còn khả năng để tiếp tục theo dõi và thu nợ. Các công ty mua bán nợ có kinh nghiệm sẽ có các biện pháp thu nợ thích hợp. Việc bán nợ sẽ giúp cho NH thu hồi được vốn trong thời gian ngắn tuy số nợ thu sẽ giảm đi. Phần bị giảm đi chính là giá cả cho việc chuyển nhượng RR sang đối tượng khác. Ngoài ra NH có thể bán các khoản nợ trong trường hợp NH gặp khó khăn về tiền mặt , nhưng đây là trường hợp không được áp dụng rộng rãi, do nó báo hiệu nguy cơ về tình trạng mất khả năng thanh toán của NH. * Yêu cầu DN tuyên bố phá sản: DN lâm vào tình trạng phải phá sản khi không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn một cách trầm trọng và sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết. Về phiá NH, sau khi đã áp dụng các biện pháp mà vẫn không thu hồi được nợ thì NH có quyền yêu cầu DN tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Như vậy, NH sau khi bán tài sản thế chấp mà vẫn không thu hồi lại đủ tiền đã cho vay sẽ trở thành chủ nợ không có đảm bảo và có quyền yêu cầu DN tuyên bố phá sản doanh nghiệp để thu nốt số nợ còn lại 1.2.2. Các biện pháp xử lý NQH của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, hoạt động tín dụng của NHTM cũng ngày càng được mở rộng, đáp ứng phần lớn yêu cầu về vốn của mọi ngành nghề như: đầu tư thương mại, dịch vụ, văn hoá- xã hội, và cả những dự án cần khối lượng vốn lớn, thời hạn dài cũng được đáp ứng. Song song với việc mở rộng tín dụng thì các NH cũng gặp không ít khó khăn, mắc phải những sai lầm, thiếu sót trong việc đầu tư vốn của mình: cho vay ồ ạt, thẩm định sơ sài…Như vậy làm cho tỉ lệ NQH ngày càng tăng nên và sẽ trở thành 31

33. pháp luật bảo vệ, mặt khác mọi thành phần kinh tế đều phải chịu sự giằng buộc của pháp luật. 1.2.2.3. Không sử dụng biện pháp treo nợ đối với các khoản nợ khó đòi. Bởi sử dụng biện pháp này sẽ không làm lành mạnh hoá bảng cân đối tài sản của NH. Do thực chất là khoản nợ đã bị mất đi không thể giữ mãi trên bảng cân đối mà không được xử lý. Nếu vậy sẽ làm mất cân đối trên bảng cân đối tài sản và nguy cơ phá sản NH luôn luôn thường trực. 1.2.2.4. Cần khai thác triệt để giá trị khối lượng tài sản đã nhận thế chấp, cầm cố. Về lý thuyết là như vậy, nhưng vấn đề này trong quá trình thực hiện đảm bảo tín dụng của NH còn nổi nên một số tồn tại như: – Có tài sản thế chấp, nhưng lại không có giấy tờ sở hữu hợp pháp. – Có tài sản nhưng lại không có người mua hay không bán được. – Bị tranh chấp do con nợ dùng một tài sản thế chấp cho nhiều chủ nợ khác nhau. – Tài sản bán được nhưng lại không thu đủ gốc, do khi định giá cho vay quá cao hay gía thị trường giảm ngay khi phát mại tài sản so với thời điểm định giá quá lớn. – Chi phí phát mại quá lớn nên cũng ảnh hưởng số tiền thu nợ. Trên cơ sở những tồn tại nêu trên, để có biện pháp xử lý tốt trước hết: *.Cần phân loại tài sản thế chấp, cầm cố. Xác định trên cơ sở pháp lý nhằm làm rõ tính hợp pháp của tài sản đảm bảo, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý phù hợp. *.Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành: địa chính, tài chính, NH trong việc xác định giá trị tài sản đặc biệt là giá trị tài sản thế chấp và đăng ký thế chấp nhằm tránh các trường hợp một tài sản đem đi thế chấp ở nhiều NH. *. Tổ chức đánh giá và thực hiện các công việc có thể bán hay khai thác tài sản tạo nguồn cho NH thu nợ dần. *. Những tài sản thế chấp định giá quá cao do chủ quan của cán bộ tín dụng gắn với lợi ích cá nhân thì cán bộ tín dụng phải bồi thường. Trường hợp, 33

35. Mô hình này đã được chính phủ Mỹ áp dụng khá thành công trước đây. Chính phủ Nhật Bản áp dụng biên pháp này nhằm làm cho các công ty hoạt động lành mạnh trở lại sau khi có nhiều công ty tài chính khác bị sụp đổ. *. Nợ và cách xử lý nợ trong các DNNN ở Trung Quốc: Trong một số năm lại đây thì nợ trong các DNNN Trung quốc ngày càng tăng, trong khi lợi nhuận trên vốn ngày càng giảm có năm xuống đến -0,2%. Song song với tình trạng nợ nần là hiệu quả kinh tế kém. Đây là một vấn đề nhức nhối trong khu vực kinh tế nhà nước Trung Quốc hiện nay. Nguyên nhân gây ra tình trạng nợ cao trong các doanh nghiệp NN Trung Quốc là: +Sau năm 1994, nhà nước trung Quốc tiến hành cải cách thuế, về tổng số trên giác độ quốc gia thì giảm, nhưng thuế mà các doanh nghiệp phải nộp lại tăng lên làm cho lợi nhuận giảm và giảm khă năng tích luỹ của doanh nghiệp . +Do cơ chế xử lý tài sản tồn đọng và hàng hoá trong các doanh nghiệp tỏ ra cứng nhắc, khó có thể điều chỉnh và tối ưu hoá nguồn vốn. Điều này đã làm cho hàng hoá bị ứ đọng không tiêu thụ được trong khi nguồn vốn mới lại không ngừng tăng lên ( chủ yếu là vốn nợ). +Mối quan hệ giữa Nhà Nước và doanh nghiệp quốc doanh chưa được xử lý thoả đáng. Các doanh nghiệp mượn danh nghĩa ” tín dụng Nhà Nước ” để vay ngân hàng. Các DN ỉ thế vào Nhà nước nên luôn có tư tưởng chỉ hưởng lãi mà không chịu lỗ. Còn các ngân hàng cũng lấy danh nghĩa “tín dụng Nhà Nước ” để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Cuối cùng là ” Tài sản Nhà Nước ” phải gánh chịu những rủi ro đối với những khoản vay của doanh nghiệp. Trong khi đó, công tác quản lý tác của ngân hàng lại rất lỏng lẻo và theo lề nếp cũ nên dẫn đến tình trạng cho vay nhiều thu hồi ít, các khoản đầu tư có nhiều rủi ro, gây lãng phí vốn.. Đứng trước tình trạng như vậy, Nhà Nước Trung Quốc đã đưa ra một số giải pháp như: +Đẩy mạnh việc xây dựng chế độ DN hiện đại nhằm mở rộng thêm kênh thu hút vốn, xây dựng chế độ pháp nhân độc lập, hình thành việc chuyển đổi cơ 35

36. chế và tăng cường cơ chế quản lý nội bộ doanh nghiệp. Thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh, chống chế độ đầu tư mù qưáng, chấm dứt hiện tượng chiếm dụng vốn lưu động giảm bớt tỉ lệ nợ trong các doanh nghiệp bằng cách xây dựng chế độ ” quyền tài sản phân minh, quyền và trách nhiệm rõ ràng, phân tách Nhà Nước với doanh nghiệp, quản lý khoa học ” +Đẩy mạnh chế độ cổ phần hoá vừa giải quyết được vấn đề vốn eo hẹp, tăng cường ý thức trách nhiệm và ý thức làm chủ cho cán bộ nhân viên trong DN, lại vừa có thể chuyển nợ thành cổ phần. +Đẩy mạnh việc tổ chức sắp xếp lại các DN. Với các DN vừa và nhỏ, Trung Quốc thực hiện việc sáp nhập, cho thuê, bán. Tạo điều kiện cho việc hợp nhất các doanh nghiệp thì Trung Quốc áp dụng các chính sách ưu tiên như giảm lãi suất đối với khoản vay ngân hàng, không tính lãi đối với khoản vay của một số doanh nghiệp, từ đó nhằm làm giảm nợ cho các DN. +Cho phép các đơn vị trung gian tham gia vào việc xử lý và giải quyết các vấn đề nợ trong các DNNN. Các tổ chức trung gian này có thể thông qua kênh huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội để hỗ trợ vốn, giúp các doanh nghiệp giải quyết vấn đề nợ. Từng bước thành lập thị trường giao dịch quyền tài sản góp phần cung cấp thông tin cho các tổ chức trung gian tham gia giải quyết nợ trong các DNNN . 1.3.2. Bài học vận dụng vào Việt Nam. Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, tại Việt Nam từ năm 1991 đã có được những bước cuyển biến đáng kể được tạo ra qua một số yếu tố thuận lợi như: đất nước hoà bình và ổn định, đầu tư quốc tế ngày càng tăng, việc khai thác có hiệu quả các công trình trọng điểm đã hoàn thành như thuỷ điện Hoà Bình và Trị An, dầu khí Việt Xô, trồng mới gần 200.000 ha cao su, giá nhà và giá đất tăng , số du khách tăng lên, trồng lúa xuất khẩu đều có lãi, ngân hàng cho vay dễ dàng. Nhưng từ năm 1995, các yếu tố thuận lợi trên không còn nữa, một loạt các ngành như nuôi tôm xuất khẩu hay kinh doanh kinh khách sạn đều bị thua lỗ… Sau vụ án Tamexco, ngân hàng khi kiểm tra số nợ lớn nhận thấy nhiều xí nghiệp đã vay quá khả năng hoàn trả của mình như: Epco, Minh phụng, May xuất khẩu 36

37. quận 3 (tp.HCM)…và đặc biệt là tình trạng tỉ lệ vốn riêng . vốn vay cảu nhiều xí nghiệp rất mỏng, nhiều khi chỉ đạt 1.20 – 1.10. Trong khi điều kiện lãi suất cho vay ở Việt Nam cao hơn so với nước ngoài (có thời điểm lên tới 14% tháng), nhiều doanh nghiệp phải dùng một tỉ lệ cao trong tổng doanh thu để trả lãi nợ, có xí nghiệp phải trả lãi ngân hàng nhiều hơn cả so với trả lương công nhân. Cơ cấu vốn riêng. vốn vay của nhiều xí nghiệp Việt Nam trở thành một trong những yếu tố chính gây khó khăn cho nền kinh tế trong giai đoạn này. Một số nguyên nhân cụ thể dẫn đến tình trạng này là do giá nhà và giá đất tăng, việc sản xuất một số mặt hàng hứa hẹn đem lại lợi nhuận cao, do đó nhiều xí nghiệp vay tiền ngân hàng để đầu tư mở rộng sản xuất. Sự sản xuất ồ ạt đó đã dẫn đến tình trạng cung lớn hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá giảm xuống. Nhiều xí nghiệp có tỉ lệ vốn tự có. vốn vay thấp lại phải chịu gánh nặng tiền lãi vay cao không còn đảm bảo được khả năng thanh toán của mình gây lên tình trạng vỡ nợ, nhất là ở một số doanh nghiệp lớn. Trước tình trạng vỡ nợ diễn ra ở nhiều xí nghiệp như vậy đã làm cho các ngân hàng trở nên dè dặt trong việc cho vay và chú ý hơn đến vấn đề tài sản thế chấp của các xí nghiệp vay tiền. Nhưng lại một vấn đề nảy sinh là tình trạng sử dụng tài sản đi thế chấp tại nhiều ngân hàng khác nhau của các xí nghiệp, lại càng làm cho các ngân hàng trở nên dè dặt hơn trong vấn đề cho vay đối với các xí nghiệp. Các xí nghiệp lại càng gặp phải một tình trạng thiếu vốn lưu động để sản xuất, làm cho sản xuất bị đình trệ, các xí nghiệp phải cắt giảm bớt nhân viên để giảm chi phí. Một số nguyên nhân khác làm cho các xí nghiệp ở trong tình trạng phá sản là sự yếu kém về tài chính, có tỉ lệ vốn riêng . vốn vay thấp hay tình trạng quản lý không tốt xảy ra ở trong nhiều xí nghiệp tại hầu hết các ngành. Đặc biệt là nạn tham ô làm tài sản của xí nghiệp bị mất, khiến cho xí nghiệp không còn khả năng thanh toán các món nợ ngân hàng. Bên cạnh tình trạng sản xuất ồ ạt là tình trạng hàng hóa sản xuất ra kém phẩm chất, giá thành cao, không bán ra được thị trường…đã dẫn đến tình trạng phá sản của các xí nghiệp. Hơn nữa sự đình đốn của sản xuất, sự phá sản của các doanh nghiệp còn do lãi suất cho vay của ngân hàng quá cao trong khi tỉ giá lại thấp, thuê đánh vào 37

40. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NỢ QUÁ HẠN VÀ XỬ LÝ NỢ QÚA HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á CHI NHÁNH HÀ NỘI 2.1. Khái quát về tình hình hoạt động của NH TMCP BẮC Á -Chi nhánh Hà Nội. Là một NHTMCP ra đời khá muộn so với các NHTMCP khác, NHTMCP BẮC Á được thành lập ngày 07.04.1994, có trụ sở chính thành phố Vinh – Đà 40

41. Nẵng. Tuy nhiên, sự ra đời đó vẫn đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thị trường, và góp một phần tạo nên sự lớn mạnh của hệ thống NHTMCP hiện nay. Thành phố Hà Nội là thành phố phát triển thứ hai của cả nước. Là một thành phố năng động, nơi có rất nhiều sự ưu ái về đầu tư của các DN nước ngoài. Mặt khác, do chính sách phát triển kinh tế thủ đô, nhiều doanh nghiệp tư nhân và các công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập để khuyến khích phát triển kinh tế từ bên trong từ đó tạo đà cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nhận thấy, đây là một thành phố có tiềm lực kinh tế lớn, lại là trung tâm đầu não về chính trị, không một ngân hàng nào có thể bỏ qua. Chính vì thế mà khoảng một năm sau ngày thành lập thì chi nhánh của NHTMCP BẮC Á tại Hà Nội được thành lập ngày15. 08.1995 tại 117 Thái Hà – Đống Đa – Hà Nội. Ngay sau khi thành lập, chi nhánh đã nhanh chóng đi vào hoạt động, hoà nhập với sự phát triển kinh tế của thủ đô, phục vụ nhiều đối tượng KH với các thành phần kinh tế. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường như ngày nay, chỉ tính riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội đã có tới khoảng 20 NHTMCP, chưa kể đến các trung tâm đầu não của các NHTM quốc doanh như NH ngoại thương, NH Công thương, NH Đầu tư và Phát triển, NH Nông Nghiệp, NH Chính Sách, thì công việc cạnh tranh lại càng trở nên khốc liệt hơn. Sau 10 năm thành lập NHTMCP BẮC Á – chi nhánh Hà Nội đã đứng vững và phát triển. Điều này chứng tỏ sự đúng đắn trong đường lối, chính sách và kế hoạch phát triển của chi nhánh. để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và quá trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, chi nhánh đã thường xuyên quan tâm đến việc đào tạo cán bộ nhân viên về mọi mặt, đặc biệt là nghiệp vụ chuyên môn bằng cách cho kiểm tra, xếp loại cán bộ hàng năm để có được một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm. Bên cạnh đó NH đã chú trọng công việc hiện đại hoá công nghệ NH, quan tâm đến hoạt động makerting trong NH như việc mở dịch vụ ngân hàng tại nhà (homebanking), thực hiện hoạt động tiết kiệm dự thưởng, hơn nữa để có thể phục vụ KH một cách nhanh chóng 41

42. và thuận tiện chi nhánh đã thực hiện giao dịch một cửa thay vì giao dịch nhiều cửa như trước. Bằng các chính sách KH hấp dẫn như vậy, chi nhánh đã thu hút được một khối lượng lớn KH đến với mình. Để có thể mở rộng hơn nữa, tạo cơ hội chiếm lĩnh thị trường, phát triển kinh doanh, đi đôi với công tác cán bộ, được sự cho phép của trụ sở chính, chi nhánh NHTMCP BẮC Á chi nhánh Hà Nội đã tăng quy mô hoạt động của mình bằng cách mở thêm chi nhánh cấp hai và các phòng giao dịch tại địa bàn các quận khác nhau, nơi có những điều kiện thuận lợi về địa hình, kinh tế, và an ninh…Hiện nay, chi nhánh Hà Nội đã mở thêm 3 phòng giao dịch tại 27 Hàng Đậu, 101E Phương Mai, 93 Tây Sơn. Sau khi được phép của NHNN thành phố Hà Nội về việc thành lập chi nhánh cấp hai, để thuận tiện cho việc huy động vốn và đầu tư tại chỗ thì chi nhánh cấp hai vẫn được giữ nguyên tại 117Thái Hà- Đống Đa- Hà Nội, còn toàn bộ chi nhánh cấp một được chuyển về 52A-Phan Chu Trinh- Hoàn Kiếm- Hà Nội ngày 31.12.2002 với 68 nhân viên và 7 phòng ban. Cơ cấu tổ chức của NHTMCP BẮC Á chi nhánh Hà Nội: 42 Phòng tín dụng Phòng kế toán Phòng hành chính Phòng nguồn vốn Phòng ngân quỹ Phòng kiểm soát nội bộ Phòng thanh toán quốc tế BAN LÃNH ĐẠO

Cách Xử Lý Trả Nợ Ngân Hàng Khi Bị Nợ Quá Hạn / 2023

07/05/2020

Hiện nay việc vay tiêu dùng nhỏ lẻ trở nên phổ biến và tiện lợi hơn. Tuy nhiên cũng vì thế mà nảy sinh nhiều vấn đề, trong đó có việc khách vay không trả nợ được đúng hạn đã ký cam kết. Câu hỏi đặt ra cho người đi vay là: Làm cách nào để có thể nhanh chóng trả hết nợ khi có nợ quá hạn?

Nợ quá hạn là gì?

Nợ quá hạn là tiền mà người vay mượn không trả đúng thời hạn quy ước phải trả tiền đã vay mượn cho các tổ chức tín dụng bao gồm cả tiền gốc lẫn tiền lãi. Khi đã đến hạn thanh toán hợp đồng vay theo như thỏa thuận về thời gian cho vay mà khách hàng không có khả năng thanh toán được tiền lãi và cả gốc thì được xếp vào nhóm nợ quá hạn.

Nợ quá hạn còn được ngân hàng phân chia ra các nhóm nợ để có được phương án xử lý nợ phù hợp. Hiện quy định của ngân hàng Việt Nam phân chia nợ thành 5 nhóm, bao gồm:

● Nợ đủ tiêu chuẩn (0-9 ngày) 

● Nợ cần chú ý (10-29 ngày)  

● Nợ dưới tiêu chuẩn (30-89 ngày)

● Nợ nghi ngờ (90-179 ngày)

● Nợ có khả năng mất vốn (trên 180 ngày)

Cách xử lý khi bị nợ quá hạn

Ổn định tâm lý

Khi gặp các rủi ro trong tài chính và kinh doanh, bất cứ ai cũng rơi vào tâm trạng tiêu cực. Tâm lý người đi vay bất ổn sẽ đưa ra những quyết định không sáng suốt, đẩy tình hình đi xa hơn và xấu đi. Chính vì thế, cho dù là vay cá nhân hay đại diện vay cho tổ chức doanh nghiệp thì mỗi chúng ta cần tỉnh táo, giữ vững tâm lý thì mới có giải pháp xử lý hiệu quả. Hãy xác định rõ nguyên nhân, số nợ quá hạn là bao nhiêu, đánh giá lại khả năng tài chính cũng như những mối quan hệ có thể hỗ trợ tạm thời trong lúc khó khăn để nhờ giúp đỡ.

Khi vấn đề tâm lý đã ổn định, hãy đề nghị gia hạn vay

Cho dù không thể trả nợ vì bất cứ nguyên nhân nào, bạn cũng phải trình bày rõ với bên cho vay. Bên cho vay sẽ cùng với khách vay bàn bạc, đánh giá khả năng trả nợ của cá nhân/tổ chức đi vay. Hai bên có thể thương lượng để tìm ra phương án tốt nhất xử lý nợ quá hạn. Nếu may mắn, ngân hàng sẽ đồng ý gia hạn vay cho bạn, còn nếu không bạn sẽ cần rất nhiều sự hỗ trợ khác để nhanh chóng trả nợ thôi.

Lựa chọn các khoản nợ quá hạn cần ưu tiên

Nếu như có nhiều khoản nợ cần tính toán trả, hãy sắp xếp thứ tự ưu tiên theo mức lãi suất vay. Lãi suất cao thì trả sớm và trả kết thúc dứt điểm để không kéo số tiền lãi lên quá khả năng trả. Nếu là khoản vay cá nhân, chúng ta có thể lên kế hoạch tiết kiệm chi tiêu để trả nợ, trích một phần thu nhập hàng tháng để trả nợ đúng hạn theo quy định. Nếu là khoản vay của doanh nghiệp cũng cần có sự thống nhất giữa lãnh đạo công ty về cách thức khắc phục khó khăn, tìm nguồn tài chính thay thế để có khả năng trả nợ sớm.

Cân nhắc sự giúp đỡ từ bên ngoài

Khi gặp khó khăn, ngoài việc phải tự lực cánh sinh, mình tự giúp mình là chính thì cũng cần có sự giúp đỡ. Nếu là khoản vay cá nhân thì nên tìm tới sự trợ giúp của bạn bè, người thân. Nếu là khoản vay cho doanh nghiệp thì nên tìm tới sự hỗ trợ của các chuyên gia tài chính, ngân hàng để có bước đi đúng đắn.

Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quân Đội (Mbbank) / 2023

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (tên giao dịch tiếng Anh là Military Commercial Joint Stock Bank), hay gọi tắt là Ngân hàng Quân đội, hay viết tắt là ngân hàng TMCP Quân đội hoặc MB, là một ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB) được thành lập năm 1994 với mục tiêu ban đầu là đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính cho các Doanh nghiệp Quân đội. Trải qua hơn 16 năm hoạt động, MB ngày càng phát triển lớn mạnh, định hướng trở thành một tập đoàn với ngân hàng mẹ MB (một trong số NHTMCP hàng đầu Việt Nam) và năm công ty con hoạt động kinh doanh có hiệu quả, từng bước khẳng định là các thương hiệu có uy tín trong ngành dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán) và bất động sản tại Việt Nam.

Với số vốn điều lệ khi thành lập chỉ có 20 tỷ đồng, sau nhiều lần tăng vốn hiện nay vốn điều lệ của MB là 7.300 tỷ đồng, MB có mạng lưới bao phủ rộng khắp cả nước với Hội sở chính tại Thành phố Hà Nội, 01 Sở giao dịch, 1 chi nhánh tại Lào, 138 Chi nhánh và các điểm giao dịch tại 24 tỉnh và thành phố trên cả nước với hơn 3.000 cán bộ nhân viên.

MB có năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh vững mạnh, tuân thủ các chỉ tiêu an toàn vốn do NHNN VN quy định, đồng thời không ngừng đáp ứng nhu cầu mở rộng của Ngân hàng trong tương lai. Tổng tài sản của MB không ngừng gia tăng, xét về tổng tài sản và vốn điều lệ, MB là một trong những NHTMCP trong nước có quy mô lớn đạt 109.623 tỷ đồng tính đến thời điểm 31/12/2010.

Với dịch vụ và sản phẩm đa dạng, MB phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng mở rộng hoạt động của mình ra các phân khúc thị trường mới bên cạnh thị trường truyền thống ban đầu. Trong vòng 6 năm qua, MB liên tục được NHNN VN xếp hạng A – tiêu chuẩn cao nhất do NHNN VN ban hành và luôn nhận được nhiều giải thưởng quan trọng trong nước do các cơ quan, tổ chức có uy tín trao tặng,….

Sự kiên niêm yết cổ phiếu MB trên HOSE ngày 1/11/2011 là một sự kiện lớn lao, đánh dấu một bước phát triển mới thể hiện ý chí, quyết tâm của các cổ đông đồng thời cũng thể hiện tầm nhìn chiến lược dài dạn của Hội đồng Quản trị, ban lãnh đạo của MB, mở ra triển vọng và cơ hội cho các nhà đầu tư. Là một công ty niêm yết, MB tăng cường tính minh bạch, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh, tiệm cận gần hơn những nguyên tắc và thông lệ tốt nhất trên thế giới về quản trị doanh nghiệp.

Kinh doanh ngân hàng theo các quy định của Thống đốc NHNN Việt Nam;

Cung ứng sản phẩm phái sinh theo quy định của Pháp luật;

Kinh doanh trái phiếu và các giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật;

Mua bán, gia công, chế tác vàng;

Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngân hàng chỉ kinh doanh khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Chuyên Đề Giải Pháp Phát Triển Thương Hiệu Của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Quốc Tế Việt Nam / 2023

Chương 1: Tổng quan về hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu 6

1.1. Thương hiệu 6

1.1.1. Khái niệm 6

1.1.2. Tầm quan trọng 8

1.2. Các yếu tố nhận diện thương hiệu ngân hàng 10

1.2.1. Tên thương hiệu 10

1.2.2. Logo và biểu tượng đặc trưng của thương hiệu 12

1.2.3. Tính cách thương hiệu 12

1.2.4. Câu khẩu hiệu 12

1.2.5. Thẻ ATM 13

1.2.6 Đồng phục nhân viên, hệ thống tài liệu vật phẩm của ngân hàng 13

1.3. Bảo vệ thương hiệu 14

1.3.1. Bảo hộ thương hiệu 14

1.3.2. Tạo rào cản chống xâm phạm thương hiệu 14

1.4. Các yếu tố gia tăng giá trị thương hiệu ngân hàng 15

1.5. Các hoat động duy trì và phát triển thương hiệu 18

1.5.1. Hoạt động marketing mix 18

1.5.1.1. Sản phẩm 16

1.5.1.2. Chính sách giá 19

1.5.1.3. Kênh phân phối 19

1.5.1.4. Xúc tiến hỗn hợp 20

1.5.1.5. Quản lý yếu tố con người 24

1.5.1.6. Quy trình cung ứng dịch vụ 26

1.5.1.7. Môi trường, yếu tố vật chất hỗ trợ cung ứng dịch vụ 26

1.5.2. Các chiến lược thương hiệu 27

1.5.3. Đầu tư cho thương hiệu 27

1.6. Những yêu cầu cần đáp ứng khi phát triển thương hiệu 28

Chương 2: Thực trạng hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc Tế Việt Nam (VIB) 29

2.1. Tổng quan về Ngân hàng Quốc Tế VIB 29

2.1.1. Giới thiệu về Ngân hàng VIB 29

2.1.2. Cơ cấu tổ chức 31

2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh 34

2.2. Mục tiêu phát triển thương hiệu của VIB 36

2.3. Hệ thống nhận diện thương hiệu của VIB 37

2.3.1. Tầm quan trọng đối với ngân hàng 37

2.3.2. Các yếu tố của hệ thống nhận diện thương hiệu của VIB 37

2.4. Hoạt động phát triển thương hiệu của Ngân hàng VIB thông qua các yếu tố marketing mix 40

2.4.1. Chính sách sản phẩm 40

2.4.2. Chính sách giá (lãi suất) 43

2.4.3. Chính sách phân phối 44

2.4.4. Chính sách xúc tiến 47

2.4.5. Quản lý yếu tố con người 50

2.4.6. Cơ sở vật chất 52

2.4.7. Quy trình cung ứng dịch vụ 52

2.5. Một số tiêu chí đánh giá sức mạnh thương hiệu của Ngân hàng VIB 53

2.5.1. Niềm tin nơi khách hàng 53

2.5.2. Đặc tính của thương hiệu 54

2.5.3. Năng lực lãnh đạo 54

2.5.4. Chất lượng nguồn nhân lực 55

2.5.5. Lòng trung thành của khách hàng 56

2.5.6. Sự thống nhất tại các chi nhánh 56

2.5.7. Kênh phân phối 57

2.5.8. Dịch vụ trước và sau giao dịch 58

2.5.9. Tài sản, vốn điều lệ, dư nợ tín dụng 59

Chương 3: Giải pháp phát triển thương hiệu Ngân hàng Quốc Tế VIB 63

3.1. Tầm quan trọng của vấn đề phát triển thương hiệu 63

3.2. Căn cứ đề xuất giải pháp phát triển thương hiệu 64

3.2.1. Mục tiêu chiến lược phát triển thương hiệu của VIB 64

3.2.2. Phân tích SWOT cho phát triển thương hiệu 65

3.2.2.1. Điểm mạnh, điểm yếu 65

3.2.2.2. Cơ hội và thách thức 66

3.2.2.3. Ma trận SWOT kết hợp 68

3.3. Một số giải pháp phát triển thương hiệu 71

3.4. Nội dung triển khai 74

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Giải Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!