Xu Hướng 12/2022 # Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học. / 2023 # Top 12 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học. / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học. / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Học phần: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP Ở TIỂU HỌC.A. MỤC TIÊU HỌC PHẦN 1. Kiến thức – Nắm vững những khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá, nguyên tắc,loại hình, nội dung và kĩ thuật đánh giá kết quả học tập – Tiếp cận những văn bản của Bộ GD và ĐT quy định về việc đánh giá đối với bậc tiểu học. 2. Kĩ năng – Hình thành những kĩ năng cơ bản trong việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở tiểu học tập ở tiểu học như ra đề, soạn bài tập, xây dựng câu trắc nghiệm, chấm bài, nhận xét, cho điểm. – Biết cách thành lập hồ sơ,tính điểm tổng hợp, ghi nhận xét về học lực và hạnh kiểm của học sinh. – Rèn kĩ năng theo dõi, quan sát hành vi của học sinh trong học tập và sinh hoạt tập thể. – Biết cách xếp loại học lực, hạnh kiểm, ghi học bạ. 3. Thái độ – Trân trọng kết quả học tập của học sinh, theo dõi các hoạt động đánh giá ở tiểu học một cách hệ thống, khoa học. – Khách quan, công bằng, đúng mực trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. – Tích cực đấu tranh phê phán những biểu hiện, hành vi tiêu cực trong lĩnh vực kiểm tra, thi cử ở trường tiểu học nói riêng và xã hội nói chung.Nghiêm túc, trung thực trong quá trình học tập và thi cử ở trường.B. NỘI DUNG HỌC PHẦNBài 1: Một số khái niệm cơ bản và chức năng của đánh giá kết quả học tập ở tiểu họcA. Mục tiêu 1. Kiến thức – Trình bày các khái niệm về đánh giá kết quả học tập. – Nhận diện và giải thích vai trò và chức năng của đánh giá kết quả học tập đối với quá trình dạy học. 2. Kĩ năng – Áp dụng những hiểu biết về khái niệm về đánh giá để phân loại các mẫu kiểm tra, đánh giá trong thực tiễn dạy học. – Xem xét, đánh giá tác dụng và vai trò của đánh giá đối với thực tiễn dạy học ở tiểu học 3. Thái độ – Có ý thức về tầm quan trọng của đánh giá trong việc nâng cao chất lượng dạy và học, nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa đánh giá và dạy học. – Thể hiện tinh thần phê phán khoa học trong khi xem xét thực tiễn kiểm tra và đánh giá ở tiểu học.B. Nội dungI. Một số khái niệm cơ bản 1. Kiểm tra Là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá.

Trong ba lĩnh vực mục tiêu này, mục tiêu nhận thức thường chiếm vị trí cốt lõi trong các nội dung kiểm tra kết quả học tập. Theo Bloom, trong linhc vực nhận thức có sáu mức độ khác nhau, mỗi mức độ được thể hiện bởi một số khả năng và kĩ năng riêng biệt như sau: Biết; thông hiểu; ứng dụng; phân tích; tổng hợp; đánh giá. 1.3. Kết quả học tập cần đánh giá Sơ đồ diễn giải kết quả học tập cần đánh giá ở tiểu học:

Các kết quả học tập chuyên biệt(Các loại khả năng/ kĩ năng của học sinh mà chúng ta sẵn sàng chấp nhận như chứng cứ cho việc thực hiện được các mục tiêu đã đề ra)

Chưa thực hiện đầy đủ (CĐ)Nếu học sinh chưa thực hiện đầy đủ các nội dung quy định bên thì giáo viên cần ghi nhận xét cụ thể, rõ ràng những điểm các em chưa thực hiện được Cuối học kì I

Cuối năm học.

– Sau mỗi tiết hay phần bài học, Gv đưa nhận xét chung (hoàn thành, giỏi…) kèm với những chứng cứ về điều HS đã làm được và chưa làm được. – Khi đưa ra nhận xét tổng quát vào cuối HKI hoặc cuối năm học, ngoài xếp loại hoàn thành hoặc chưa hoàn thành, GV dựa vào các ghi nhận cụ thể có dược trong năm một cách khái quát về những hành vi HS thường làm thành những nhận định tổng quát về phẩm chất và năng lực của HS.* Những lưu ý: – Không hình dung rõ ràng những yêu cầu cần quan sát khi tiến hành giờ học thuộc môn học đánh giá bằng nhận xét. – Chỉ ghi nhận bằng các dấu  mà không kèm theo những chứng cứ về một vài biểu hiện tiêu biểu. – Ghi nhận xét kiểu: A = Hoàn thành; B = Chưa hoàn thành. – Chỉ dùng một bài kiểm tra viết hàng tháng (các môn đánh giá bằng nhận xét) rồi dựa vào đó để nhận xét. – Không ghi những nhận xét vụn vặt, thể hiện những hành vi nhất thời của học sinh vào học bạ. Ví dụ: môn Thể dục: tập đều đặn, thuộc động tác; môn TN – XH: có học bài, thuộc bài hoặc làm bài tốt – Không ghi những nhận xét chung chung như; tiến bộ; khéo tay; rèn thêm Toán; ngoan… 2. Đánh giá bằng điểm số 2.1. Đánh giá bằng điểm số là gì? Là sử dụng những mức điểm khác nhau trên một thang điểm để chỉ ra mức độ về kiến thức và kĩ năng mà HS đã thể hiện được qua một hoạt động hoặc sản phẩm học tập. Trong thang điểm, đi kèm với các mức điểm là phần miêu tả tương ứng cho từng mức điểm (hướng dẫn chấm điểm hoặc đáp án). Những tiêu chuẩn miêu tả cho từng mức điểm là căn cứ giúp GV giải thích ý nghĩa của các điểm số.Ví dụ: thang điểm 5 cho bài tập làm văn lớp 5

Bài 7: Kĩ thuật đánh giá kết quả học tập ở tiểu học.A. Mục tiêu 1. Kiến thức – Trình bày đặc điểm và quy trình của các kĩ thuật đánh giá kết quả học tập ở tiểu học. – Nhận ra ưu điểm và hạn chế của các kĩ thuật đánh giá trong thực tế sử dụng. 2. Kĩ năng – Áp dụng những hiểu biết trên để tìm hiểu và đánh giá các mẫu bài trắc nghiệm, bài tự luận, bài thực hành trong thực tiễn dạy học. – Bước đầu biên soạn các dạng bài kiểm tra: bài tự luận, bài trắc nghiệm và bài thực hành. – Thực hành quan sát ghi nhận thông tin để đánh giá hạnh kiểm của học sinh. – Thực hành kĩ năng tổng hợp thông tin, ghi nhận xét trong học bạ và sổ liên lạc. 3. Thái độ – Có ý thức về tầm quan trọng của việc sử dụngcông cụ, kĩ thuật đánh giá phù hợp mục tiêu dạy học đối với việc nâng cao chất lượng dạy và học. – Góp phần phát tiển thái độ khoa học, nghiêm túc trong xây dựng và thực hiện.I. Kĩ thuật quan sát1. Phân loại các kiểu quan sát1.1. Quan sát quá trình: là theo dõi hoặc lắng nghe học sinh đang thực hiện các hoạt động học tập.1.2. Quan sát sản phẩm: là xem xét sản phẩm học tập của học sinh sau một hoạt động. Sau khi quan sát, giáo viên nhận xét, đánh giá. Năm lĩnh vực mục tiêu có thể được đánh giá bằng phương pháp quan sát.Lĩnh vực mục tiêu Các hành vi điển hìnhKĩ năng Nói, viết, nghe, đọc, làm thí nghiệm, vẽ chơi các loại nhạc cụ, hát, múa, thể dục, kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng tự học, kĩ năng xã hội.Thói quen học tập Sắp xếp thời gian học tập, sử dụng phương tiện có sẵn để học tập tốt, có óc sáng tạo,kiên trì, đáng tin cậy.Thái độ xã hội Quan tâm đến sự an toàn của người khác, tôn trọng của công, tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sử hữu của người khác, có mong muốn làm việc để cho cộng đồng tập thể ngày càng tốt hơn, nhạy cảm với các vấn đề xã hộiThái độ học tập Sẵn sàng tiếp thu cái mới, nhạy cảm đối với các mối quan hệ, có óc hoài nghi khoa học (hỏi hay tự đặt câu hỏi và tìm cách trả lời).Thái độ thẩm mĩ Yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật, yêu thích môn học,có óc thẩm mĩ, nhạy cảm với những biểu hiện của cái đẹp.

2. Cách thức quan sátNắm và thường xuyên tham chiếu nội dung hạnh kiểm và bảng hướng dẫn chi tiết về các biểu hiện cụ thể của mỗi lĩnh vực nội dung hạnh kiểm. Trên cơ sở đó giáo viên theo dõi và ghi nhận xét học sinh vào sổ theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu họcLĩnh vực Biểu hiện cụ thể (chứng cứ)Nhiệm vụ 1: Tôn trọng người khác và có mối quan hệ cá nhân tốt.Nhận xét 1.1:– Biết kính trọng thầy giáo, cô giáo và người lớn – Lễ phép, chào hỏi thầy, cô giáo và người lớn tuổi.– Xưng hô đúng mực với thầy, cô giáo và người lớn tuổi.– Đợi đến lượt mình không cắt ngang khi người lớn đang nói chuyện.Nhậ xét 1.2-. Đoàn kết, ứng xử tốt với bạn bè – Giúp đỡ bạn bè.– Đoàn kết với bạn bè.– Ứng xử đúng mực với các bạn.Nhiệm vụ 2: Thể hiện thái độ ứng xử tích cực trong trường.Nhận xét 2.1:– Đi học đều và đúng giờ – Nghỉ học có xin phép.– Ít khi đến lớp muộn.Nhận xét 2.2:– Góp phân giữ gìn trật tự lớp học. – Tuân thủ chỉ dẫn của giáo vien trong học tập và sinh hoạt.– Giữ trật tự, chú ý nghe giảng trong lớp.Nhiệm vụ 3: Chăm sóc, giữ gìn vệ sinh thân thể và hình thức của bản thân.Nhận xét 3.1:– Chú ý đến hình thức của bản thân. – Tập thể dục đều đặn.– Tự giác, tích cực trong các giừ tập thể dục.– Giữ gìn thân thể sạch sẽ.Nhận xét 3.2:– Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân. – Thực hiện vệ sinh cá nhân.– Quần áo, đầu tóc gọn gàng, sạch sẽ.– Giữ gìn vệ sinh khi ăn uống.Nhiệm vụ 4: Đóng góp vào các họt động của trường học.Nhận xét 4.1:– Tham gia các hoạt động tập thể của trường,lớp. – Tham gia đầy đủ các hoạt động tập thể của trường, lớp.– Tự giác, tích cực trong các hoạt động.– nhiệt tình, đóng góp cho các hoạt động chung.Nhận xét 4.2:– Giữ gìn, bảo vệ tài sản của cá nhân, trường, lớp và nơi công cộng.Bước đầu biết thực hiện các quy tắc về an toàn giao thông và trật tự xã hội. – Giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập.– Giữ gìn và bảo vệ tài sản của trường.– Chấp hành các quy tắc trang trí lớp học.– Thực hiện các quy tắc về an toàn giao thông.

Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Tiểu Học Hiệu Quả / 2023

Các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt

Phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở tiểu học hiệu quả

Việc giáo dục đạo đức cho học sinh cá biệt là một trong những nhiệm vụ thiết yếu ở trong nhà trường nhằm hạn chế được những đối tượng HS yếu về mặt đạo đức là góp phần vào chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường. Chính vì vậy, VnDoc xin chia sẻ một số các phương pháp giáo dục học sinh cá biệt ở Tiểu học hiệu quả sau đây cho các bạn cùng tham khảo.

Giáo viên chủ nhiệm là người quản lí, giáo dục toàn diện học sinh một lớp. Để làm tốt công việc đó người giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt được đặc điểm tình hình lớp thật cụ thể, sâu sắc qua việc tìm hiểu về học sinh lớp mình qua nhiều kênh thông tin. Trong quá trình giáo dục, người giáo viên chủ nhiệm cần phối kết hợp, lên hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh, với giáo viên bộ môn, đi sâu đi sát lớp chủ nhiệm. Với những học sinh có ý thức học tập, tu dưỡng thì công việc của người giáo viên chủ nhiệm sẽ nhẹ nhàng, còn đối với những học sinh chưa ngoan, những học sinh cá biệt đòi hỏi người giáo viên phải mất nhiều thời gian công sức hơn cho công tác chủ nhiệm. Là một giáo viên từng làm công tác chủ nhiệm tôi xin được trao đổi một vài kinh nghiệm của mình trong công tác giáo dục học sinh cá biệt.

Cách giáo dục học sinh cá biệt Tiểu học

Thứ nhất: Không nên có cái nhìn kì thị với các em

Đây là điều đầu tiên mà các thầy cô cần nắm rõ khi giáo dục các học sinh cá biệt. Là người giáo viên, chúng ta không nên có cái nhìn kì thị, thái độ khó chịu, ghét bỏ, coi thường hay mắng nhiếc học sinh cá biệt trước lớp. Không nên cố gắng dò xét chỉ để tìm thấy lỗi, hay thấy những mặt xấu của các em. Không nên gọi các em là học sinh cá biệt nhiều lần, đặc biệt là trước lớp, trước mặt người khác, đồng thời cũng đừng tách các em ra khỏi lớp hay cô lập các em trước lớp. Vì những điều này chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề mà thôi. Các thầy cô cũng nên biết rằng, ở độ tuổi tiểu học, các em vẫn chưa hình thành được nhân cách của mình, các em chỉ là những học sinh chưa ngoan và cần được giáo dục. Vậy nên, đừng kì thị các em vì các em luôn cần ta giúp đỡ.

Thứ hai: Quan tâm và gần gũi hơn với các em

Cái gì cũng có lý do của nó, không phải tự dưng khi sinh ra con người ta cũng đều trở nên xấu xa cả. Và đối với trường hợp của các em học sinh cá biệt cũng vậy, chắc chắn là vì nhiều yếu tố tác động nên mới khiến các em như thế. Các thầy cô cần tìm hiểu nguyên nhân, để từ đó đưa ra cách tiếp cận phù hợp cũng như có sự quan tâm và gần gũi hơn vì thấu hiểu về những chuyện mà các em gặp phải. Để thực hiện tốt điều này, chúng ta có thể chia học sinh cá biệt thành các nhóm sau:

Cá biệt – học lực yếu, vì các em bị mất kiến thức căn bản ở lớp dưới

Cá biệt – học yếu do các em được bố mẹ nuông chiều, ham chơi, lười học, không học bài, bị bạn xấu rủ rê sa đà

Cá biệt – học yếu do hoàn cảnh gia đình khó khăn

Cá biệt – học yếu do cha mẹ li hôn, thiếu thốn tình cảm gia đình

Tóm lại, các thầy cô cần có sự quan tâm gần gũi, tìm hiểu rõ về các học sinh cá biệt. Vì đa số các em đều rất cần một điểm tựa tinh thần tin cậy để có thể bộc bạch, sẻ chia, cũng như tâm sự những khó khăn, những nỗi niềm riêng tư thầm kín. Thầy cô sẽ trở thành người bạn lớn của các em, luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu. Người GVCN nên biết lắng nghe những tâm sự của các em và cũng nên giữ kín những tâm sự đó để các em tin tưởng mà bộc bạch. Hãy nhìn các em bằng ánh mắt của người cha, sự nhân từ của người mẹ, sự gần gũi, cảm thông của những người anh người chị, sự thân thiết của những người bạn.

Thứ ba: Thầy cô hãy nhẹ nhàng phân tích những ưu khuyết điểm, những đúng, sai trong nhận thức và hành động của các em, hãy giúp các em nhận ra lỗi lầm của mình và tạo cho các em cơ hội, thiện chí sửa chữa. Không nên la mắng các em, đừng biến lớp học thành địa ngục đừng để giờ sinh hoạt thành một giờ “tổng sỉ vả” học sinh cá biệt và đừng để học sinh nghĩ cứ gặp thầy cô là bị la mắng, trách phạt, truy tội. Khi cần có thể gặp riêng các em để nhắc nhở, trao đổi.

Thứ tư: Học sinh cá biệt dù khó giáo dục đến đâu thì bên trong các em vẫn luôn tiềm ẩn những nhân tố, những phẩm chất tích cực nếu có phương pháp đúng chúng ta vẫn khơi dậy để làm thức tỉnh các em, khôi phục niềm tin cho các em để các em thấy rằng mình không kém cỏi, không phải là “đồ bỏ đi”, để các em có thể vứt bỏ được sự tự ti, mặc cảm, chủ động hội nhập với các bạn và tập thể lớp. Hãy tìm ra điểm mạnh của các em để có thể phát huy vì đa số các em sự sĩ diện là rất lớn. Có những khi cần phải giao việc cho các em làm để khơi dậy trong các em tinh thần trách nhiệm

Thứ năm: Thầy cô hãy nhìn nhận vấn đề theo chiều hướng tích cực đừng nghiêm trọng hóa vấn đề, hãy tạo cho các em một lối thoát, một cơ hội để sửa chữa. Hãy tin tưởng sự chuyển biến của các em. Trân trọng những tiến bộ của các em dù là nhỏ nhất vì đó là cả một sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các em. Mạnh dạn biểu dương các em trước tập thể lớp, đừng tiết kiệm lời khen đối với các em vì một lời động viên, khen ngợi còn có giá trị hơn rất nhiều những bản kiểm điểm.

Thứ sáu: Hãy tôn trọng quyền lựa chọn, quyết định của các em trong phạm vi cho phép. Cùng nhau xây dựng nội quy của lớp, các em sẽ tự giác thực hiện vì nội quy đó do chính các em đưa ra. Không nên áp đặt thô bạo với các em, không xúc phạm làm tổn thương danh dự các em trước tập thể, thận trọng khi phát ngôn vì học sinh cá biệt rất nhạy cảm.

Thứ bảy: Thầy cô hãy cố gắng điềm tĩnh, biết tự kiềm chế vì học sinh các biệt là một sự “thử thách” rất lớn đối với đức tính điềm tĩnh, tự kìm chế của mỗi giáo viên. Không nên nóng vội, không nên quá khắt khe, xử lí mạnh tay bằng những hình thức kỉ luật nặng nề, không nên thành kiến với các em, đừng nhắc đi nhắc lại nhiều lần lỗi vi phạm của các em sẽ dễ dẫn đến sự chai lì.

Thứ tám: Phải mềm dẻo linh hoạt khi giáo dục học sinh cá biệt nhưng lời nói phải đi đôi với việc làm. Xin dừng hứa suông, đã nói thì phải kiên quyết thực hiện, biết không thực hiện được thì không nói. Vận dụng linh hoạt theo phương châm “lạt mềm buộc chặt”. Dù gần gũi các em nhưng cũng cần giữ một khoảng cách nhất định của thầy, trò.

Thứ 9: Phối hợp chặt chẽ với gia đình

Điều quan trọng trong công tác chủ nhiệm là giáo viên cần phối hợp một cách chặt chẽ với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục các em. Lưu ý rằng: khi tiếp xúc với phụ huynh học sinh cá biệt cần tránh cho họ sự tổn thương cần thiết. Thường thì những học sinh cá biệt sẽ hoàn cảnh sống đặc biệt, do gia đình mâu thuẫn, cha mẹ hay cãi vã, hoặc là do các em thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm cũng như chăm sóc từ cha mẹ và cũng có thể là do cha mẹ quá nuông chiều… với muôn ngàn lí do khác.

Mặt khác, cha mẹ luôn coi con cái của mình là thứ quý giá nhất, cho dù chúng hư hỏng, khó dạy bảo đến đâu… Cho nên khi nghe tin có giáo viên đến nhà thăm, hay điện thoại báo tin là bản thân họ lại không muốn tiếp, không muốn nghe. Và nếu có tiếp hay nghe điện thoại của thầy cô thì cũng với thái độ bực dọc, thậm chí là bất cần, vì mấy ai thích nghe người khác kể tội con mình. Vì vậy, khi tiếp xúc với phụ huynh, giáo viên nên đặt vị trí của mình vào trong suy nghĩ, tình cảm của cha mẹ các em để phân tích, lí giải thiệt hơn. Hãy cố gắng tìm hiểu những khó khăn của các bậc phụ huynh trong việc quản lí, cũng như dạy dỗ con em mình để cùng nhau tìm biện pháp giáo dục tốt nhất.

Làm Thế Nào Để Đạt Kết Quả Cao Nhất Trong Học Tập? / 2023

Học tập, ôn thi luôn là vấn đề lớn nhất đối với từ các em học sinh, đến sinh viên, tất cả mọi người còn ngồi trên ghế nhà trường.Thế nhưng,tập, cách ôn thi mà không có phương pháp khoa học chẳng những ảnh hưởng đếncủa học sinh, sinh viên mà thành tích đạt được cũng không được như ý muốn.

1. Phương pháp học hiệu quả

a. Có mục tiêu và kế hoạch cụ thể

– Theo quy luật 90/10, cứ 10 phút bạn bỏ ra để lập kế hoạch thì bạn sẽ tiết kiệm được 90% thời gian hoàn thành và hiệu quả công việc.

– Từ bây giờ bạn hãy lấy một tờ giấy và xác định lại mục tiêu của mình:

+ Bạn muốn đạt kết quả học tập cao hay chỉ cần đủ điểm qua môn?

+ Điểm dự kiến là bao nhiêu?

+ Bạn thực sự muốn chiến thắng bản thân?

+ Bạn muốn lấy bằng loại gì?

– Sau đó bạn hãy lên lịch cho từng công việc cụ thể để tiến tới mục tiêu đó. Có ai đó đã nói rằng chúng ta không bao giờ có đủ thời gian để làm tất cả mọi việc, nhưng luôn có đủ để làm những việc quan trọng nhất. Mỗi ngày bạn đừng tham lam làm hết tất cả mọi việc, học tập hết tất cả mọi thứ, ôn thi hết tất cả các môn mà hãy lập ra một bảng ưu tiên các môn và kế hoạch ôn từng ngày. Khoa học đã chứng minh rằng, nếu bạn học một môn liên tục quá 45 phút thì khả năng nhớ sẽ giảm rất nhanh trong thời gian sau đó. Tóm lại bạn hãy lên một cái lịch cụ thể cho hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, vài tháng. Định ra việc học tập nào là quan trọng hơn thì làm trước.

Cần xây dựng kế hoạch học tập cụ thể, khoa học

b. Học tập cách tư duy hiệu quả

Tại sao có người học tập kém? Tại sao có người học tập giỏi? Thực ra học kém hay giỏi không phải là bản chất, mà phần nhiều là do họ chưa biết cách điều khiển bộ não của mình mà thôi. Não bạn có 2 bán cầu, não trái chủ yếu cho tư duy logic,còn não phải là cho tưởng tượng hình ảnh. Từ trước đến giờ người ta dạy các bạn là đa số tác động vào não trái, tức là giảng toàn chữ nên trong giờ học, não phải của bạn không có, cứ tưởng tượng mông lung dẫn đến không tập trung gì cả.

Vì vậy, muốn học hiệu quả chúng ta phải tìm cách vận dụng cả 2 não của mình. Một phương pháp đơn giản nhất giúp học các môn học tập bắt buộc phải học thuộc dễ hơn cả chính là tưởng tượng. Từ bây giờ bạn hãy tìm cách tưởng tượng thật nhiều vào.

c. Học tập cách ghi nhớ hiệu quả

Làm sao để nhớ cả bảng số liệu? Nhớ tất cả các công thức? Nhớ được hết khối lượng kiến thức khổng lồ các thầy cô đã chuyển tải? Bạn hãy thực hiện theo cách sau:

– Ghi thành dàn bài:

Trước tiên bạn đọc toàn bài môn bạn đang học 1 lần – 2 lần – hoặc cũng có thể là 3 lần. Ðến lúc bạn nắm chắccầu bài mới thôi. Sau đó, bạn tóm tắt bài đó thành 1 dàn bài đại cương gồm nhiều mục như 1, 2, 3; trong các mục này lại có các ý nhỏ hơn được đánh dấu bằng a, b, c… Mỗi mục này bạn đều phải đặt tiêu đề cho nó.

– Nhẩm trong óc:

+ Lần đầu tiên, bạn hệ thống bài bằng cách “nhẩm trong óc” nhẩm từng phần một của dàn bài, chỗ nào quên bạn dừng lại, lật dàn bài ra xem lại. Bạn cứ tiếp tục nhẩm sang phần khác và đừng quên các phần quan trọng đáng ghi nhớ, đừng bỏ sót một chi tiết nào. Lần lượt như vậy cho đến hết toàn bài. + Lần thứ hai, bạn bắt đầu nhẩm lại tất cả có hệ thống toàn bài hơn. Lần này bạn ghi nhận phần đã bị quên. Bạn mở giáo trình xem lại, ghi ra giấy hoặc đánh dấu những phần đó. Bạn tìm ý những chỗ quên sót để rồi học lại cho nhuần nhuyễn.

+ Lần thứ ba, bạn hệ thống lại bài và bạn đặt thành câu hỏi rồi tự giải quyết trong óc câu hỏi ấy. Bạn xem lại việc trả lời có thông suốt phân minh chưa. Nếu chỗ nào vướng mắc lật dàn bài ra xem. – Ghi ra giấy:

Khi ghi, bạn chỉ tóm tắt phần quan trọng, sao cho khi mở trang giấy ra nhắc nhở lại bạn hệ thống bài học bằng trí nhớ mà không cần mở sách. Tránh ghi rườm rà, dư thừa, vừa mất thời gan vô ích mà lại phí sức. Nói chung làm thế nào để bạn có thể tổng hợp các phương pháp (nhẩm nhớ – ghi chép – và lập dàn bài) sao cho tạo được điều kiện để bạn đọc bài mau thuộc đó là đíều quan trọng nhất.

d. Cáchhọc tập hiệu quả

Về mặt nhận thức, nên cố gắng tập trung vào những kiến thức cơ bản. Khối kiến thức này thường tập trung ở một số mảng, ví dụ: khái niệm, giả thuyết, quy luật, lý luận… Khi học tập, cần hiểu rõ bản chất của vấn đề, vì thế người học phải xác định các đặc điểm, cách thức vận dụng những khái niệm, quy luật, lý thuyết… trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể.

Từ đó, yêu cầu tiếp theo là phải luyện tập để hình thànhgiải quyết vấn đề (đề thi cũng là một dạng vấn đề cụ thể cần giải quyết). Có hai dạng: vận dụng theo mẫu và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt. Khi ôn, nên chú ý vận dụng theo cả hai tuyến:

– Theo chiều dọc: trong phạm vi cùng loại vấn đề, cùng chuyên môn, lĩnh vực…

e.Về thời gian học tập

Thời gian học tập hiệu quả thường khoảng 45 phút sau đó hãy nghỉ ngơi thư giãn một chút. Và nếu bạn cảm thấy quên kiến thức thì cũng đừng có cố gắng quá để nhớ lại nó làm gì cả. Nguyên tắc của học hiệu quả là phải để cho đầu óc thư giãn, rồi tự kiến thức nó sẽ về. Nếu bạn muốn ôn lại bài thì hãy ôn lại sau đó 10 phút, rồi 1 ngày, rồi 1 tuần, và một tháng.

Xác định thời điểm học tập cũng rất quan trọng. Khả năng lao động trí óc của con người tăng dần từ sáng sớm tới gần trưa, sau đó giảm dần – sau bữa ăn trưa nên có ngủ trưa chút ít từ 20-30 phút cũng được. Hiệu suất học tập buổi trưa còn cao hơn buổi sáng, đặc biệt đối với những môn học khó. Buổi chiều hiệu suất học tập có hơi giảm vào giờ ăn tối. Sau đó, dường như có một chu kỳ mới và khả năng trí óc lại tăng dần cho tới khoảng 21 giờ, sau đó lại giảm. Không nên thức sau 22 giờ – vì đầu óc sau một ngày làm việc dường như đã bão hòa, không còn tiếp thu thêm được nữa. Lúc rời bàn học, các em có thể lật qua, lướt mau những dòng đầu của các bài đã ôn từ đầu để xác định mình đã học được tới đâu. Làm như vậy cũng tựa như mình gởi tất cả vào tiềm thức bộ nhớ trước khi đưa não vào giấc ngủ.

f. Về không gian học tập

Hãy ngồi gần cửa sổ, càng tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên và luồng không khí lưu thông đều trong phòng, bạn càng. Nếu có thể, bạn hãy tìm loại nhạc Baroque hoặc có nhiều người lấy nhạc Rock để làm nền khi học (không khuyến khích). Người ta nói rằng loại nhạc này có thể rút ngắn thời gian học tiếng anh hiệu quả từ 3 năm xuống còn 3 tháng.

2. Đảm bảo sức khỏe

a. Không nên học, ôn thi ngay sau bữa ăn.

b. Trong một buổi học, ôn thi tránh học liên tục 3-4 giờ liền.

Cũng giống như ở lớp, sau 45 phút – 1 giờ cần có giải lao. Những phút giải lao này có mục đích làm thư giãn thần kinh, trí óc. Nên đi đi, lại lại, giải trí bằng trò chơi nhẹ nhàng, vui vẻ, tránh vận động nhiều và mạnh.

Nên nghỉ giải lao sau khi học liên tục 45 phút đến 1 giờ

c. Trong thời gian học tập ôn thi chú ý ngủ cho ra ngủ, khoảng 8 tiếng một ngày, nhiều nhất là về đêm, để cho ấn tượng ngày hôm trước dịu nhạt, những ấn tượng ngày mới chưa hình thành, sáng sớm tỉnh dậy có một bộ óc “mới tinh”, có khả năng hoạt động tốt nhất. Vả lại, có ngủ được say thì trong giấc ngủ vào giai đoạn có giấc mơ, cũng là lúc mà các kích thích tố tăng trưởng được tiết ra giúp các em mau lớn thêm nữa.

d. Vấn đề ăn uống cũng rất quan trọng trong thời gian học tập ôn thi vì chỉ còn giai đoạn này (tuổi dậy thì) để đạt tới chiều cao và phần nào cân nặng của người trưởng thành. Cần phải ăn nhiều hơn người lớn, cả về lượng lẫn về chất. Không bỏ qua bữa nào, nhất là bữa điểm tâm, vì bữa chiều hôm trước cách xa tới khoảng 10 tiếng, nếu nhịn ăn thì khi học không ngáp cũng ngủ gật, đôi khi mệt quá sẽ bị xỉu! Nói chung, con gái cần đạt 2500 calo (người nữ lớn chỉ cần 2000), con trai 2900 calo (người nam trưởng thành cần khoảng 2600).

Bồi Dưỡng Học Sinh Năng Khiếu Ở Tiểu Học Về Số Học / 2023

Sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước luôn đòi hỏi phải có một đội ngũ đi trước giàu tài năng, sức sáng tạo. Trong các chủ trương nghị quyết về giáo dục, đào tạo, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến nhiệm vụ bồi dưỡng các tài năng trẻ, nhằm tạo dựng đội ngũ nhân tài cho đất nước

Nghị quyết TW 2 – khoá VIII của Đảng coi trọng vấn đề đầu tư cho chiến lược nhân tài, bồi dưỡng khả năng tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi, giúp thế hệ trẻ rèn luyện trở thành những con người vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu.

Chính vì thế dạy học ở tiểu học không chỉ hoàn thành chương trình hay mục tiêu của bài dạy đề ra mà cần phải có những biện pháp bồi dưỡng, nâng cao các môn học trong quá trình dạy học thì mới có những nhân tài, sáng tạo như nghị quyết TW2 đã đặt ra.

Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam. Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:

– Các kiến thức, kỹ năng môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học.

– Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong học tập và trong đời sống.

– Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề; góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khả năng ứng xử và giải quyết những tình huống nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống; nhờ đó mà hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động mới.

Vậy làm thế nào để giúp học sinh nâng cao kiến thức về môn toán? Những dạng toán nào có thể giúp các em phát triển trí tuệ, tính sáng tạo,… để trở thành những nhân tài tương lai cho đất nước. Những câu hỏi đó đã thôi thúc tôi suy nghĩ và quyết định chọn đề tài : “Bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở tiểu học về số học” để làm skkn

Trong chương trình của môn toán ở tiểu học có rất nhiều mạch kiến thức quan trọng như số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản cho học sinh. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

Về mục tiêu môn toán ở tiểu học nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản ban đầu về số học, các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản. Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải các bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống. Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng (nói và viết), cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống. Kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp dạy học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

Chính vì vậy để góp phần thực hiện tốt mục tiêu mà môn toán ở tiểu học đề ra đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về môn toán ở tiểu học: nghiên cứu về các mạch kiến thức, phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, … tất tả đều làm cho học sinh không những hoàn thành mục tiêu môn toán đề ra mà còn tiếp ứng thêm những kiến thức mở rộng để nắm chắc môn toán một cách đầy đủ nhất.

Đề tài “Bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở tiểu học về số học”cũng là một nội dung nhằm tìm hiểu một số biện pháp bồi dưỡng, nâng cao kiến thức toán học, phần số học ở tiểu học để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở tiểu học.

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu là một chuyên đề nghiên cứu về lĩnh vực dạy học nâng cao.

Do đó đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung và các dạng toán số học điển hình trong sách bồi dưỡng học sinh giỏi môn toán, sách giáo viên môn Toán ở tiểu học.

Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ thực hiện trong phạm vi của trường tiểu học.

Là phương pháp tiến hành khảo sát chương trình dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở tiểu học để phân tích nội dung của đề tài.

Căn cứ vào số liệu đã được khảo sát, kết hợp với luận chứng của đề tài. Tôi tiến hành trình bày một số vấn đề về dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu môn toán phần số học ở tiểu học.

Là phương pháp tổng hợp và kết luận về nội dung nghiên cứu qua các số liệu đã khảo sát và phân tích. Đề xuất ý kiến về những biện pháp dạy học toán trong trường tiểu học.

Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp khác phục vụ cho quá trình nghiên cứu.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu, rất quan trọng của nhân cách con người VN. Trong các môn học ở tiểu học, cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí hết sức quan trọng bởi vì:

– Các kiến thức, kỹ năng môn Toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống; chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học tốt các môn học khác ở tiểu học và chuẩn bị cho việc học tốt môn Toán ở bậc trung học.

– Môn Toán giúp học sinh nhận biết những mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả trong học tập và trong đời sống.

– Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp giải quyết vấn đề; góp phần phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt; khả năng ứng xử và giải quyết những tình huống nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống; nhờ đó mà hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động mới.

Môn Toán ở tiểu học nhằm giúp học sinh:

Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượng thông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản.

Hình thành các kỹ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.

Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.

Ngoài ra, môn Toán còn góp phần hình thành và rèn luyện các phẩm chất, các đức tính cần thiết của người lao động mới trong xã hội hiện tại.

Hình thành hệ thống các kiến thức cơ bản, đơn giàn, có nhiều ứng dụng trong đời sống của số học gồm: cách đọc, viết, so sánh các số tự nhiên, phân số, số thập phân; một số đặc điểm của tập hợp số tự nhiên, phân số thập phân; các phép tính trong tập hợp số tự nhiên, số thập phân.

Có những hiểu biết ban đầu, thiết thực nhất về đại lượng cơ bản như độ dài, khối lượng, thời gian, thể tích, diện tích, dung tích, tiền Việt Nam và một số đơn vị đo thông dụng. Biết sử dụng các dụng cụ để thực hành đo lường. Biết ước lượng các số đo đơn giản.

Rèn luyện để nắm chắc các kỹ năng thực hành tính nhẩm, tính viết về bốn phép tính với số tự nhiên, số thập phân, phân số, số đo các đại lượng.

Biết nhận dạng và bước đầu biết phân biệt được một số các hình hình học thường gặp. Biết tính chu vi, diện tích, thể tích của một số hình. Biết sử dụng các dụng cụ đơn giản để đo và vẽ hình.

Có những hiểu biết ban đầu, sơ giản về dùng chữ thay số, biểu thức toán học và giá trị của biểu thức toán học, phương trình và bất phương trình đơn giản. Biết tính giá trị biểu thức số, giải một số phương trình và bất phương trình đơn giản nhất bằng phương pháp phù hợp với tiểu học.

Biết cách giải và trình bày bài giải với các bài toán có lời văn. Nắm chắc và thực hiện đúng các quy trình giải bài toán. Bước đầu biết giải một số bài toán bằng các cách khác nhau.

Thông qua các hoạt động học tập toán để phát triển đúng mức một số khả năng trí tuệ và thao tác tư duy quan trọng nhất như: so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá,…

Hình thành tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, ý chí vượt qua khó khăn, cẩn thận,…

– Khái niệm ban đầu về số tự nhiên; số tự nhiên liền trước, liền sau, ở giữa hai số tự nhiên; các chữ số từ 0 đến 9.

– Cách đọc và ghi số tự nhiên; hệ ghi số thập phân.

– Các phép tính cộng, trừ, nhân ,chia các số tự nhiên: Ý nghĩa, các bảng tính, một số tính chất cơ bản của các phép tính, tính nhẩm và tính viết, thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức có nhiều phép tính, mối quan hệ giữa các phép tính.

– Giới thiệu ban đầu về phân số: khái niệm ban đầu, cách đọc, cách viết, so sánh, thực hành cộng, trừ, nhân, chia các trường hợp đơn giản.

– Khái niệm ban đầu về số thập phân: cách đọc, cách viết, so sánh và xếp thứ tự các số thập phân.

– Làm quen với việc dùng chữ thay số.

– Biểu thức số và biểu thức chữ, giá trị của biểu thức , bước đầu làm quen với biểu thức số, mối quan hệ phụ thuộc giữa hai đại lượng.

– Giải các phương trình đơn giản phù hợp với tiểu học.

1.2.1/ Dạng toán nâng cao về số tự nhiên:

Đây là một dạng toán thông dụng, được sử dụng rất nhiều trong quá trình rèn luyện kỹ năng thực hiện các phép tính so sánh các số tự nhiên; cộng, trừ, nhân, chia về số tự nhiên ở tiểu học. Cứ mỗi phép tính đều có các dạng toán nâng cao với mục tiêu củng cố và nâng cao kiến thức cho học sinh.

Ví dụ 1: Hãy sắp xếp các số tự nhiên sau theo thứ tự từ bé đến lớn :

3655, 3566, 48899, 49002, 56139, 56138, 705899, 710211.

Ví dụ 2: Nối các phép tính với kết quả đúng:

1.2.2/ Dạng toán về phân số :

Đối với phân số là dạng toán tương đối khó đối với học sinh tiểu học, bởi khi thực hiện các phép tính về phân số, các em phải sử dụng nhiều bước (so sánh tử số, mẫu số, quy đồng mẫu số, rút gọn phân số,…) Do đó những bài toán nâng cao giúp cho các em phát triển nhiều mặt trong giải toán.

Ví dụ 3: hãy so sánh các phân số sau :

Ví dụ 4: Tính tổng số :

Ví dụ 5: Tính nhanh giá trị của biểu thức :

1.2.3/ Dạng toán về số thập phân:

Số thập phân là nội dung trong phần số học ở tiểu học được đưa vào chương trình sách giáo khoa lớp 4. đây là một dạng toán khá phức tạp. Chính vì vậy những bài toán nâng cao ở dạng này không những củng cố các phép tính công, trừ, nhân, chia cho học sinh mà còn giúp cho các em biết thực hiện đối với phần nguyên và phân thập phân của một số thập phân.

Ví dụ 6: Hãy sắp xếp các số thập phân sau theo thứ tự từ bé đến lớn:

455,998; 599,977; 456,012; 609,999; 99,011; 98,998

Ví dụ 7 : Cho dãy số: 1; 2,2; 3,4; ……; 13; 14,2.

Nếu viết tiếp thì số 34,6 có thuộc dãy số trên không?

1.2.4/ Dạng toán giải phương trình đơn giản:

Giải phương trình là một dạng toán tìm ẩn số trong một phép tính. Đây là dạng toán bổ trợ kiến thức cho học sinh khi học lên bậc học trung học cơ sở. Các bài tập nâng cao của dạng toán này vừa củng cố các kiến thức thực hiện 4 phép tính về số tự nhiên, số thập phân hoặc phân số vừa nâng cao kỹ năng giải toán phương trình một ẩn.

Ví dụ 8: Hãy tính giá trị của x trong dãy tính sau :

(x +1) + (x + 4) +… + (x + 28) = 155

Tìm số tự nhiên x biết:

1.2.5/ Dạng toán tính biểu thức chữ thay số :

Đây cũng là một trong những dạng toán khá phức tạp bởi khi thực hiện dạng toán này không chỉ học sinh biết thực hiện các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thập phân mà còn phải nắm vững một số quy tắc tính.

Ví dụ 10: Tìm giá trị của a trong các biểu thức sau:

+ a x (142 + 455 – 214) = 1915

1.2.6/ Dạng toán giải toán có lời văn:

So với các dạng toán trên thì giải toán có lời văn là một dạng toán khó nhất đối với học sinh tiểu học. Dạng toán này rất đa dạng và phong phú về nội dung cũng như phương pháp giải. Học sinh không chỉ biết thực hiện các phép tính với số tự nhiên, phân số, số thập phân mà trước hết phải tìm được các dữ kiện bài toán yêu cầu, phương pháp giải rồi mới thực hiện cách giải các phép tính (trong đó phải biết sử dụng các lời văn đúng và logic)

Ví dụ 11: Đoàn khách du lịch có 50 người, muốn thuê xe loại 4 chỗ ngồi. Hỏi cần thuê ít nhất bao nhiêu xe để chở hết số khách đó ?

Ví dụ 12: Năm nhuận có 366 ngày. Hỏi năm đó gồm bao nhiêu tuần lễ và mấy ngày?

Ví dụ 13: Bạn Phúc có 7 viên bi gồm bi xanh, bi đỏ và bi vàng. Biết số bi xanh nhiều hơn tổng số bi vàng và bi đỏ. Số bi vàng nhiều hơn bi đỏ. Hỏi bạn Phúc có mấy viên bi xanh, mấy viên bi vàng và mấy viên bi đỏ.

CHƯƠNG II: CÁC BÀI TOÁN SỐ HỌC ĐIỂN HÌNH

S =1 + 2 + 3 + 4 + 5 + … + 98 + 99 + 100.

Ta có : S là tổng của 100 số tự nhiên liên tiếp từ 1 đến 100. Dựa vào tính chất giao hoán và kết hợp ta có :

S = (1 + 100) + (2 + 99) + (3 + 98) + … + (50 + 51)

S = 101 + 101 + … + 101

Vậy S = 101 x 50 = 5050

Giải : ta thấy : của mẫu số và tử số của hai phân số đã cho là bằng nhau :

27 – 13 = 41 – 27 = 14

Do đó để so sánh hai phân số đã cho mà không quy đồng mẫu số ta lập hiệu của 1 với mỗi phân số:

0,25 x 12 : 0,15 – (2,04 + 10,2 : 2,5) : 0,51

Ta có : 0,25 x 12 : 0,15 – (2,04 + 10,2 : 2,5) : 0,51

= 3 x 0,15 – (2,04 + 4,08) : 0,51

= 20 – 6,12 : 0,51

= 20 – 12

Tuổi của con 5 năm trước : 36 tuổi

Theo sơ đồ ta có tuổi con 5 năm trước là :

Tuổi của cha 5 năm trước là :

Tuổi của cha hiện nay :

Tuổi của con hiện nay :

Đáp số : Tuổi của con : 14 tuổi

Tuổi của cha : 50 tuổi

Bài 6: Cho 4 số có tổng số là 45. Nếu đem số thứ nhất cộng với 2, số thứ 2 trừ đi 2, số thứ 3 nhân với 2, số thứ tư chia cho 2 thì được 4 kết quả bằng nhau. Hãy tìm 4 số đã cho ?

Gọi số thứ 3 là a, ta có :

Số thứ nhất sẽ là : a x 2 + 2

Số thứ hai sẽ là : a x 2 – 2

Số thứ tư sẽ là : a x 4

Theo đề bài ta có : Tổng của 4 số bằng 45, do đó :

(a x 2 – 2) + (a x 2 + 2) + a + (a x 4) = 45

Vậy các số đã cho là : 8, 12, 5, 20

Bài 7 : Từ hai tỉnh A và B cách nhau 396 km, có hai người khởi hành cùng một lúc và đi ngược chiều nhau. Khi người thứ nhất đi được 216 km thì hai người đó gặp nhau, lúc đó họ đã đi hết một số ngày đúng bằng hiệu số km mà hai người đi được trong một ngày. Hãy tính xem mỗi người đi được bao nhiêu km trong một ngày? (vận tốc của mỗi người không thay đổi trên được đi)

Quãng đường người thứ hai đã đi:

396 – 216 = 180 (km)

Trong khoảng thời gian đã đi, quãng đường người thứ nhất đi được dài hơn quãng đường người thứ hai đã đi:

216 – 180 = 36 (km)

Số ngày đi bằng hiệu số quãng đường hai người đã đi trong một ngày. Tích của hai số bằng nhau này bằng 36. Do đó số ngày đi sẽ là 6 ngày.

Mỗi ngày, người thứ nhất đi được một quãng đường là :

Mỗi ngày, người thứ hai đi được một quãng đường là :

Đáp số : 36km/ngày

Bài 8: Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long năm 1010. năm đó thuộc thế kỷ nào?

– Một thế là 100 năm. Ta thực hiện phép chia : 1010 : 100 = 10 (dư 10).

– Như vậy đã qua thế kỷ thứ 10 là 10 năm. Vậy năm 1010 thuộc thế kỷ 11.

Bài 9: Hai căn nhà giống nhau dự định xây trong 80 ngày. Mỗi căn giao cho một nhóm công nhân 30 người. Sau 70 ngày, nhóm thứ nhất làm xong nhà. Nhóm thứ hai mới xây xong căn nhà. Hỏi phải bổ sung bao nhiêu công nhân vào nhóm hai để hai căn nhà được xây xong đúng dự định?

Theo đề bài, khả năng làm việc của nhóm công nhân thuộc nhóm thứ nhất cao hơn nhóm thứ hai.

Trong một ngày, mỗi công nhân thuộc nhóm thứ nhất đã làm được:

1 : (70 x 30) = (công việc)

Trong mười ngày, một công nhân thuộc nhóm thứ nhất đã làm được:

x 10 = (công việc)

Trong một ngày, mỗi công nhân thuộc nhóm thứ hai đã làm được:

: 70 = (công việc)

Trong mười ngày, nhóm thứ hai làm được:

x 10 = (công việc)

Số công việc còn lại phải thực hiện trong 10 ngày là :

Số công nhân thuộc nhóm thứ nhất cần bổ sung giúp cho nhóm thứ hai là :

: = x 210 = = 10 (người)

Đáp số 10 người

Bài 10: Một gia đình có một số người con. Một người con nói rằng : “Tôi có một anh trai và một em gái”. Một người con khác nói rằng : “Tôi không có chị và cũng không có em gái”. Hỏi gia đình đó có mấy người con? mấy trai? mấy gái?.

Một người con nói rằng : “Tôi có một anh trai và một em gái”. Ta suy ra gia đình này có 3 người con: người con đầu là trai, người con út là gái và người nói là người con giữa.

Một người khác nói “Tôi không có chị và cũng không có em gái”. Ta suy ra người nói câu này là người con gái út. Vì cô ấy không có chị,nghĩa là người con ở giữa là con trai.

Vậy gia đình đó có 3 người con, hai người con trai, một người con gái.

Muốn tìm được các số còn thiếu trong mỗi dãy số, cần tim được quy luật của mỗi dãy số đó.

Quy luật của dãy số là: Kể từ số hạng thứ 2 trở đi, mỗi số hạng gấp 3 lần số liền trước nó.

Vậy các số còn thiếu của dãy số đó là:

27 x 3 = 81 ; 81 x 3 = 243 ; 243 x 3 = 729 (đúng).

Vậy dãy số còn thiếu hai số là : 81 và 243.

Ta nhận xét: 3 x 3 – 1 = 8 ; 8 x 3 – 1 = 23.

……………………………………

Quy luật của dãy số là: Kể từ số hạng thứ 2 trở đi, mỗi số hạng bằng 3 lần số liền trước nó trừ đi 1. Vì vậy, các số còn thiếu ở dãy số là:

23 x 3 – 1 = 68 ; 68 x 3 – 1 = 203 ; 203 x 3 – 1 = 608 (đúng).

Dãy số còn thiếu hai số là: 68 và 203.

Bài 12: Lúc 7h sáng, một người đi từ A đến B và một người đi từ B đến A ; cả hai cùng đi đến đích của mình lúc 2h chiều. Vì đường đi khó dần từ A đến B ; nên người đi từ A, giờ đầu đi được 15km, cứ mỗi giờ sau đó lại giảm đi 1km. Người đi từ B giờ cuối cùng đi được 15km, cứ mỗi giờ trước đó lại giảm 1km. Tính quãng đường AB.

2 người đi đến đích của mình trong số giờ là:

Vận tốc của người đi từ A đến B lập thành dãy số:

15, 14, 13, 12, 11, 10, 9.

Vận tốc của người đi từ B đến A lập thành dãy số:

9, 10, 11, 12, 13, 14, 15.

Nhìn vào 2 dãy số ta nhận thấy đều có các số hạng giống nhau vậy quãng đường AB là:

9 + 10 + 11 + 12 + 13 + 14 + 15 = 84

Hãy xác định dãy số trên có bao nhiêu số hạng?

Ta thấy: 4 – 2 = 2 ; 8 – 6 = 2

6 – 4 = 2 ; ………

Vậy, quy luật của dãy số là: Mỗi số hạng đứng sau bằng một số hạng đứng trước cộng với 2. Đây là dãy số chẵn hoặc dãy số cách đều 2 đơn vị.

Dựa vào công thức trên:

(Số hạng cuối – số hạng đầu) : khoảng cách + 1

Ta có: Số các số hạng của dãy là:

(1992 – 2) : 2 + 1 = 996 (số hạng).

Ta nhận xét : Số nhỏ nhất có ba chữ số chia hết cho 4 là 100 và số lớn nhất có ba chữ số chia hết cho 4 là 996. Như ­ vậy các số có ba chữ số chia hết cho 4 lập thành một dãy số có số hạng nhỏ nhất là 100, số hạng lớn nhất là 996 và mỗi số hạng của dãy ( kể từ số hạng thứ hai ) bằng số hạng đứng liền trư­ớc cộng với 4.

Vậy số các số có ba chữ số chia hết cho 4 là :

( 996 – 100 ) : 4 = 225 ( số )

Tổng số nước mắm ở hai thùng là:

36 : 0,75 = 48 ( chai)

Số xi măng lát một mét ngõ là:

Số xi măng phải mua để lát ngõ là:

40 x 240 = 9600 (kg)

Đáp số: 9,6 tấn.

Thời gian ô tô đi hết quãng đường là:

94,5 : 42 = 2,25 (giờ)

= 2 giờ 15 phút

Đáp số: 2 giờ 15 phút.

Xây xong trong 1 ngày thì cần số thợ là:

Xây xong trong 4 ngày thì cần số thợ là:

Đáp số: 11 thợ.

Chu vi vườn cây hình chữ nhật là:

( 15,62 + 8,4 ) x 2 = 48,04 (m)

Diện tích vườn cây hình chữ nhật là:

15,62 x 8,4 = 131,208 (m2)

Đáp số: 1) 48,08 m

Hai người làm chung thì hết 5 giờ mới xong. Vậy mỗi giờ 2 người làm được công việc.

Trong 3 giờ, hai người làm được là:

x 3 = (công việc)

Phân số chỉ công việc người thứ hai làm một mình là:

1 – = (công việc)

Mỗi giờ người thứ hai làm được là:

Thời gian người thứ hai làm một mình là:

Mỗi giờ người thứ nhất làm được là:

– = (công việc)

Thời gian người thứ nhất làm một mình là:

1 : = 7 giờ = 7 giờ 30 phút

Đáp số: 1) 7 giờ 30 phút;

Số vở của Dũng và Minh là:

8 : 2 x 3 = 12 (quyển)

Số vở của Dũng, Minh, và Hùng là:

12 : 2 x 3 = 18 (quyển)

Số vở của 4 bạn lúc đầu là:

18 : 2 x 3 = 27 (quyển)

Đáp số: 27 quyển.

Nói đến môn Toán là một trong những môn học chủ lực ở các cấp học phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng. Môn toán tuy khô khan cứng nhắc và rất khó khi bắt buộc học sinh phải động não nhiều nhất, nhưng môn toán lại mang đến cho học sinh những kiến thức quan trọng và thiết thực, vừa hình thành những kiến thức cơ bản về số học, các đại lượng thông dụng, những yếu tố hình học cho học sinh, vừa rèn luyện các kỹ năng tính toán, đo lường, giải toán có nhiều ứng dụng trong đời sống hằng ngày. Đồng thời môn Toán cũng góp phần năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lý và diễn đạt đúng. Cách phát hiện và giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú học tập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp học tập và làm việc có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt sáng tạo.

Chính vì bậy việc dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu về môn toán là một công việc cần thiết. Bởi nó vừa giúp cho các em củng cố được những kiến thức đã học đồng thời tăng thêm những kiến thức mới làm nền tảng cho các em tiếp tục ứng dụng nó trong đời sống hằng và học tập lên các bậc học cao hơn.

Nội dung đề tài : “Bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở tiểu học về số học” là một nội dung đã tìm hiểu và phản ánh một số nét cơ bản của việc dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu. Đồng thời đề tài cũng đã đưa ra một số bài toán điển hình trong chương trình bồi dưỡng toán học cho học sinh tiểu học. Vì thế khi tiến hành hướng dẫn cách giải, GV cần xác định cụ thể mục tiêu bài học, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện thực tế của học sinh trong lớp. Biết vận dụng và phối hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt thì hiệu quả của tiết học sẽ đạt được mục tiêu. Để học sinh hiểu được phương pháp giải, hiểu bài và biết thực hành giải các bài toán nâng cao thì không thể khẳng định ở một phương pháp nào đó được mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác cấu thành như nghiên cứu kỹ nội dung, kiểm tra khả năng của từng học sinh để xây dựng một biện pháp tổ chức phù hợp với khả năng của học sinh.

Qua thời gian nghiên cứu về nội dung đề tài “Bồi dưỡng học sinh năng khiếu ở tiểu học về số học” cũng như khảo sát các dạng toán đó trong một số sách chuyên đề, nâng cao và tìm hiểu cách giải đã giúp cho tôi có thêm nhiều kinh nghiệm giải toán sau này phục vụ cho công tác dạy và học của bản thân. Tuy nhiên do thời gian cũng như năng lực nghiên cứu còn hạn chế nên nội dung nghiên cứu chỉ mới bước đầu chưa thật đầy đủ và sâu sắc. Rất mong sự đánh giá chân thành và có ý kiến sát thực của cô giáo hướng dẫn và bạn bè đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện hơn

Nội dung nghiên cứu của đề tài xin dừng lại ở đây, những nghiên cứu trong đề tài mới ở một góc độ hạn hẹp. Nhưng cũng đã giúp cho tôi rất nhiều kinh nghiệm để sau này phục vụ cho công tác giảng dạy của bản thân sau này.

Giáo dục là một công việc không phải chỉ do nhà trường hay một tổ chức làm thành. Đây là công việc của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội, cùng nhau tham gia giáo dục dây dựng một nền tảng giáo dục vững chắc đảm bảo được nhân tố con người của thời đại mới, đáp ứng được sự phát triển của nhân loại.

Qua nghiên cứu nội dung của đề tài, kết hợp với khảo sát chương trình về các dạng toán bồi dưỡng học sinh năng khiếu phần số học trong môn Toán ở tiểu học. Chúng tôi có một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao việc dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu toán như sau :

– Cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học, những bài toán hay vừa củng cố kiến thức đã học vừa cung cấp những kiến thức mới cao hơn, đặc biệt là cần phát huy cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong giải toán và xem xét đến đối tượng học sinh để từ đó thiết kế bài dạy mới đạt yêu cầu.

+ Nghiên cứu các phương pháp giải nhằm đảm bảo tính hệ thống logic và dễ giải nhất, ngắn gọn nhất cho học sinh.

+ Cần hướng dẫn kỹ lưỡng cho học sinh về nhà sưu tập và giải thêm một số dạng toán điển hình dành cho học sinh giỏi, khá.

– Cần nắm vững 11 phương pháp giải toán tiểu học để hướng các em cách giải toán nhanh gọn và dễ hiểu nhất như phương pháp sơ đồ đoạn thẳng. Phương pháp rút về đơn vị, phương pháp thế, phương pháp khử, phương pháp suy luận logic,…

– Giáo viên cần tìm tòi nhiều tài liệu hướng dẫn dạy học sinh năng khiếu toán để làm tư luệ và cơ sở khi tiến hành dạy học bồi dưỡng học sinh năng khiếu (một số tài liệu của tác giả Võ Đại Mau, Nguyễn Đức Tuấn, Nguyễn Đức Hoà, Tô Thị Yến,…).

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 ) Sách giáo khoa toán 1, 2, 3, 4, 5 – Nhà xuất bản giáo dục năm 2007.

2) Nhiều tác giả – Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học Chu kỳ III ( 2003 – 2007 ) – Tập 1 và tập 2 – NXBGD 2005.

3) Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thuỵ, Vũ Quốc Chung – Giáo trình phương pháp dạy học môn toán ở tiểu học

4) Đào Tam, Phạm Thanh Thông, Hoàng Bá Thịnh- Thực hành phương pháp dạy học toán ở tiểu học (Giáo trình dùng trong các trường đại học đào tạo GVTH) – Nhà xuất bản Đà Nẵng

5) Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi toán 4&5 – Võ Đại Mau, Võ Thị Uyên Phương – NXB Trẻ 1997.

6) 45 bộ đề trắc nghiệm Toán 4 – Nguyễn Đức Tấn, Nguyễn Đức hoà, To Thị Yến. NXB Đại học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh – năm 2009.

7) Giúp em học giỏi Toán 3 – TS Trần Ngọc Lan, khoa GDTH, đại học sư phạm Hà Nội

8) Một số thông tin trên Internet

Cập nhật thông tin chi tiết về Đánh Giá Kết Quả Học Tập Ở Tiểu Học. / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!