Xu Hướng 3/2023 # Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học : Trường Thcs Quảng Phương # Top 10 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học : Trường Thcs Quảng Phương # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học : Trường Thcs Quảng Phương được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

ĐA DẠNG SINH HỌC, NGUYÊN NHÂN, BIỆN PHÁP HẠN CHẾ SUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC

ĐA DẠNG SINH HỌC, NGUYÊN NHÂN, BIỆN PHÁP HẠN CHẾSUY GIẢM ĐA DẠNG SINH HỌC

Đa dạng sinh học là gì?

Đa dạng sinh học là bao gồm nhiều dạng và cá thể của các loài cùng với những biến dị di truyền của thế giới sinh vật, cũng như nhiều dạng của các cấp độ tổ chức sinh giới nhất là dưới dạng hệ sinh thái ở mọi môi trường trái đất, khái niệm này cũng bao gồm cả những mức độ biến đổi trong thế giới tự nhiên mà đơn vị cấu thành là những sinh vật.

Giá trị của đa dạng sinh học(ĐDSH).

Giá trị của ĐDSH trong dịch vụ sinh thái là vô cùng to lớn, có thể phân thành hai loại, giá trị sử dụng trực tiếp (tiêu thụ, sản xuất, sức khỏe, ổn định kinh tế – xã hội) và các giá trị gián tiếp:

     Giá trị sử dụng cho tiêu thụ bao gồm các sản phẩm tiêu dùng lương thực, thực phẩm, thuốc men, năng lượng, xây dựng là nhu cầu cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, ĐDSH cung cấp phần lớn chất đốt cho nhân loại,

     Giá trị sử dụng cho sản xuất: ĐDSH là nguồn cung cấp giống, nguồn gen, cây trồng cho năng suất và tính bền vững trong nông nghiệp. Các sinh vật ký sinh và thiên địch trong các HST trên thế giới đã giúp phòng trừ sâu bệnh hiệu quả. Các loài ong, bướm… và các động vật đã giúp thụ phấn cho hơn 70% cây trồng chủ yếu trên thế giới và 90% thực vật có hoa. Các loài hoang dã đã thuần hóa được coi là các nguyên liệu di truyền cung cấp khả năng kháng bệnh, nâng cao năng suất, cải thiện sự thích nghi đối với các điều kiện môi trường.

     ĐDSH cung cấp cơ sở cho sức khỏe con người: ĐDSH góp phần bảo vệ sức khỏe con người. Các cây thuốc và động vật làm thuốc truyền thống là nguồn cung cấp để bảo vệ sức khỏe cho hơn 80% dân số thế giới.

Nguyên nhân gây mất đa dạng sinh học Việt Nam

Nơi sinh cư dần trở nên thiếu hụt và suy giảm chủ yếu là do những hoạt động của con người chính là nguyên nhân mất đi sự đa dạng động thực vật và gây nên những yếu tố tự nhiên, trong đó các hoạt động của con người có thể kể đến như chuyển đối đất sử dụng, đốt rừng làm rẫy hay khai thác thủy hải sản quá mức với xu hướng gia tăng từ đó cũng bùng phát dịch bệnh hay động đất và cả cháy rừng tự nhiên.

Mặc dù Việt Nam ta sở hữu nguồn đa dạng sinh học ở mức cao nhưng chính bởi những hoạt động khai thác quá mức được xem là nguyên nhân sự cạn kiện các loài sinh vật

Ô nhiễm môi trường vẫn đang hàng ngày hàng giờ diễn ra và có chiều hướng gia tăng theo thời gian, nhiều nơi bị ô nhiễm và ảnh hưởng trực tiếp bởi khí thải công nghiệp, chính điều này vô hình dung làm ảnh hưởng đến môi trường sống của những sinh vật, đặc biệt là với những chất thải đô thị.

Giải pháp để bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam

Nguyên Nhân Gây Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học

Đa dạng sinh học đang bị suy giảm với tốc độ nhanh hơn hẳn so với bất kỳ thời kỳ nào kể từ khi loài khủng long bị tuyệt diệt cách đây khoảng 65 triệu năm. Người ta cho rằng trong các rừng nhiệt đới luôn chứa đựng sự tuyệt chủng. Có khoảng 10 triệu loài sống trên trái đất, theo ước lượng chính xác nhất, và rừng nhiệt đới có từ 50 đến 90% tổng số. Khoảng 17 triệu hecta rừng nhiệt đới, một diện tích gấp 4 lần kích cỡ của Thuỵ Sỹ, đã bị phá huỷ hàng năm, và các nhà khoa học ước tính là với tốc độ này khoảng 5 – 10% các loài ở rừng nhiệt đới có thể phải đối mặt với sự tuyệt chủng trong vòng 30 năm nữa .

Các rừng nhiệt đới không phải những nơi duy nhất có đa dạng sinh học bị đe doạ. Trên thế giới, hầu hết rừng mưa ôn đới, với nhiệt tích gần bằng diện tích của Malaysia, đã bị mất đi . Cho dù tổng quy mô rừng trong các vùng bắc cực và ôn đới phía bắc không bị biến đổi nhiều trong những năm gần đây, nhưng trong nhiều vùng, các khu rừng lâu năm, phong phú về loài đang dần dần bị thay thế bởi các rừng thứ cấp và rừng trồng.

Đa dạng sinh học của các hệ thống nước ngọt và biển cũng đối mặt với sự suy giảm và thoái hoá nghiêm trọng. Có lẽ chịu nhiều ảnh hưởng nhất là các hệ sinh thái nước ngọt, những hệ sinh thái này phải đối mặt với sự ô nhiễm lâu dài và với sự nhập nội nhiều loài ngoại lai . Các hệ sinh thái biển cũng đang phải chịu đựng sự suy giảm của nhiều quần thể loài đơn nhất và những biến đổi sinh thái học quan trọng.

Sự tuyệt chủng

Sự suy giảm đa dạng sinh học có nhiều dạng nhưng trong đó có một dạng quan trọng nhất và không thể đảo ngược lại được, đó là sự tuyệt chủng của loài .

Tuy nhiên, định lượng tốc độ tuyệt chủng của loài, trong hiện tại và quá khứ, là rất khó và dự đoán chính xác tốc độ này trong tương lai là không thể được. Xuất phát từ những sự tuyệt chủng quan sát được, tốc độ tuyệt chủng toàn cầu được xác định từ phép ngoại suy của các tốc độ mất nơi cư trú tính toán được cũng như dự đoán, và những ước tính về độ phong phú loài ở những nơi cư trú khác nhau .

Các nguyên nhân của suy giảm đa dạng sinh học

Các nguồn tài nguyên sinh vật bị thoái hoá và suy giảm do các hoạt động như chặt phá và đốt rừng trên phạm vi lớn, thu hoạch quá mức các loài động vật và thực vật, sử dụng bừa bãi thuốc trừ sâu, dẫn và tiêu nước ở các vùng đất ngập nước, các hoạt động đánh cá huỷ diệt, ô nhiễm không khí và chuyển các vùng đất hoang thành các vùng đất đô thị và nông nghiệp.

Khi vấn đề suy giảm đa dạng sinh học được xác định các nguyên nhân trực tiếp, để đối phó lại thường có các hành động phòng vệ và ngăn cản, chẳng hạn như việc ban hành luật, chấm dứt việc khai thác các nguồn tài nguyên, công bố các khu bảo tồn bổ sung. Những phản ứng này là cần thiết trong những trường hợp quá tràn lan việc khai thác quá mức. Nhưng hiếm khi những hành động này đủ để thay đổi những nguyên nhân kinh tế, xã hội đang đe doạ đa dạng sinh học.

Sự hình thành sự khai thác quá mức bao gồm các nhu cầu về hàng hoá như gỗ, động vật hoang dã, sợi, nông sản. Dân số loài người tăng, thậm chí không đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển, đã đưa đến sự gia tăng các nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên và các quá trình của hệ sinh thái . Các chính sách định cư khuyến khích việc di chuyển những lao động hiện đang thất nghiệp lên vùng biên giới . Các khoản nợ đã buộc chính phủ khuyến khích việc sản xuất các hành hoá có thể trao đổi ở nước ngoài . Tại nhiều quốc gia, chính sách năng lượng đã đưa đến nhiều việc làm không hiệu quả, thêm vào đó là ảnh hưởng của ô nhiễm không khí và những nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu . Sự phân chia sở hữu đất không hợp lý đã không khuyến khích người nông dân đầu tư vào việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sinh vật có giá trị.

Sự tuyệt chủng trong quá khứ

Tốc độ tuyệt chủng hàng loạt

Tốc độ tuyệt chủng thay đổi nhiều theo lịch sử sự sống của trái đất. Các nhà cổ sinh vật học phân biệt ra năm thời kỳ “tuyệt chủng hàng loạt”, các giai đoạn tương đối ngắn (1 triệu đến 10 triệu năm), trong thời kỳ đó một phần lớn các loài của hàng loạt các đơn vị phân loại bị tuyệt chủng. Sự tuyệt chủng hàng loạt quan trọng nhất ước lượng khoảng 77 đến 96% số loài xảy ra vào giai đoạn cuối của kỷ Pecmi (250 triệu năm trước đây).

Ngoài những tuyệt chủng hàng loạt này ra, tốc độ tuyệt chủng là không cố định. Ví dụ, từ 250 triệu năm trước, tốc độ tuyệt chủng tương đối cao đã xảy ra 9 lần, giữa các khoảng thời gian từ 26 đến 28 triệu năm. Hai trong số 9 thời kỳ này đã diễn ra sự tuyệt chủng hàng loạt, một vào cuối kỷ Triat, 220 triệu năm trước, và một vào cuối kỷ Creta, 65 triệu năm trước.

Đa dạng sinh học toàn cầu gần đạt giá trị cao nhất từ trước tới nay . Ví dụ, đa dạng thực vật, đạt được mức cao nhất kể từ hàng chục nghìn năm trước đây . Cũng tương tự như vậy, đa dạng động vật ở biển đạt đỉnh so với vài triệu năm trước.

Loài người góp phần vào sự tuyệt chủng các loài

Sự góp phần quan trọng đầu tiên của con người vào tốc độ tuyệt củng toàn cầu xảy ra và khoảng 15.000 đến 25.000 năm trước đây, việc săn bắn một số lượng lớn thú đã gây ra hoặc góp phần vào sự tuyệt chủng quan trọng ở Bắc, Nam Mỹ và Australia . Ba lục địa này đã mất 74 đến 86% giống thú lớn, thú lớn hơn 44 kg, vào thời điểm này .

Nguyên nhân của những tuyệt chủng này vẫn là một vấn đề cần bàn luận, thậm chí nếu con người không phải chịu trách nghiệm hoàn toàn, nhưng rõ hàng nghìn năm qua, con người đã gây những biến đổi quan trọng sinh cảnh với rất nhiều những ảnh hưởng được đối với động, thực vật bản địa . Từ ít nhất 50.000 năm, những vụ cháy có chủ ý đã xảy ra ở các thảo nguyên châu Phi . Cách đây ít nhất 5.000 năm, ở châu Âu, và khoảng 4000 năm ở Bắc Mỹ, việc phá rừng và biến đổi các vùng đất tự nhiên thành các bãi chăn gia súc đã xuất hiện tác động đến cấu trúc các quần xã rừng, tạo cơ hội cho các loài cỏ dại và các loài ăn cỏ như bò rừng Bizon mở rộng phạm vi phân bố và gây ra sự tuyệt chủng của các loài địa phương. ở Trung Mỹ, rừng đã thực sự biến mất trên một diện tích lớn từ trước khi người Tây Ban Nha tới .

Quá trình định cư thời tiền sử trên các lục địa của loài người và những sự hội sinh của họ đã ảnh hưởng căn bản đến tính đa dạng của các loài lục địa . Các hoá thạch chứng minh rằng 98 loài chim đặc hữu đã hiện diện ở các đảo Hawaii 400 năm trước công nguyên khi các đảo này lần đầu tiên được người Polynesi định cư. Khoảng 50 loài trong số đó đã bị tuyệt chủng trước khi những người châu Âu bắt đầu có quan hệ vào năm 1778.

Phần lớn các chuyên gia đều tin rằng nguyên nhân sự tuyệt chủng này là sự kết hợp giữa việc phá huỷ những vùng rừng rộng nơi đất thấp để canh tác nông nghiệp, gây sự xáo trộn cho việc nhập nội các loài (các loài chuột Polynesi, lợn nhà, chó nhà), săn bắn và ăn thịt. Cũng tương tự như vậy, việc định cư của con người ở New Zealand 1000 năm trước công nguyên, việc nhập nội các loài chó nhà và chuột Polynesi, kết hợp với việc đốt rừng trên diện tích lớn và săn bắn tập trung vào các loài chim lớn, đã dẫn đến sự tuyệt chủng của 13 loài chim Moa (loài chim lớn không biết bay) và 16 loài chim bản địa khác trước khi người châu Âu đặt chân tới .

Loài người được cho rằng là nguyên nhân gây ra những sự tuyệt chủng khác do việc định cư ở Madagascar 500 năm trước công nguyên và đảo Chatham 1000 năm trước công nguyên. Sự định cư sớm của con người ở các đảo ngoài đại dương cũng đưa đến sự tuyệt chủng của 1/4 số loài chim đã tồn tại từ vài triệu năm trước đây .

Cuộc chiến giữa các loài bản địa và nhập nội

Vào thế kỷ 15 và 16, việc phổ cập toàn cầu văn hoá châu Âu cùng với các giống vật nuôi, cây trồng, cỏ dại, các dịch bệnh đã làm gia tăng việc huỷ diệt các loài động, thực vật trên các đảo và gây thêm sự đe doạ đối với các loài trên lục địa . Những thế kỷ sau đó, sự tăng trưởng của du lịch và thương mại xuyên đại dương đã dẫn đến việc lan truyền một số lượng lớn các loài đến các vùng mới trên trái đất và việc định cư của con người tại các đảo vốn không có người ở.

Từ năm 1840 đến 1880, hơn 60 loài thực vật đã được đưa vào Australia . Từ 1800 đến 1980, số lượng các loài côn trùng nhập nội và Mỹ tăng từ 36 lên tới 1200 loài .

Nhiều sự định cư của người châu Âu đã có tác động quan trọng đối với các loài động, thực vật bản địa .Ở Hawaii, các nhà thám hiểm châu Âu đặt chân đến đã mang theo các loài mèo, hai loài chuột mới, cú lợn, cầy ấn Độ nhỏ, và một số dịch bệnh của chim. Hai thế kỷ tiếp theo, sự phá huỷ nơi cư trú, dịch bệnh và việc săn bắn đã gây ra sự biến mất của 17 loài chim bản địa, làm suy giảm 31% tính đa dạng của khu hệ chim bản địa được xác định vào năm 400 trước công nguyên; nhiều loài giờ đang đứng ven bờ của sự tuyệt chủng.

Những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến các đảo Mascarene không có người ở (Mauritius, Reunion và Rodrigues) vào đầu những năm 1500 đã đưa đến những đảo này lợn và khỉ. Vào giữa những năm 1600, người Hà Lan định cư trên các đảo, và trong 300 năm tiếp theo, 20 loài chim, gồm cả chim Dodo, và 8 loài bò sát đã biến mất. Tính nhạy cảm của các loài bản địa trên đảo được minh hoạ bởi sự huỷ diệt của chim hồng tước Stephen Island không biết bay, loài này đã bị con mèo duy nhất của người trông hải đăng ở một hòn đảo nhỏ ngoài khơi New Zealand săn đuổi đến tuyệt chủng.

Tuyệt chủng loài: nguyên nhân và kết quả

Những sự tuyệt chủng được ghi nhận

Số lượng sự tuyệt chủng loài đã được ghi nhận những thế kỷ vừa qua là nhỏ hơn rất nhiều so với sự dự đoán cho những thập kỷ sắp tới . Sự khác biệt này, một phần là do sự gia tăng tốc độ mất nơi cư trú trong những thập kỷ gần đây, một phần cũng do những khó khăn của việc ghi nhận sự tuyệt chủng. Phần lớn các loài vẫn chưa được miêu tả, và nhiều loài có thể đã biến mất trước khi chúng được các nhà khoa học biết đến. Hơn thế nữa, các loài nói chung thường không được công bố bị tuyệt chủng cho đến sau khi chúng được nhìn thấy lần cuối cùng – do đó những tính toán đối với sự tuyệt chủng là chỉ có mức độ. Cuối cùng, một số loài mà quần thể của chúng bị giảm sút do việc mất nơi cư trú dưới ngưỡng cần thiết để suy trì sự sống sót lâu dài có thể vẫn tồn tại trong vài thập kỷ mà không có hy vọng phục hồi khi quần thể của chúng bị suy thoái, chúng được gọi là “living dead”.

Sự tuyệt chủng, đặc biệt các quần thể riêng biệt, là quá nhiều . Năm 1990, rái cá đã biến mất ở Hà Lan, và đến 1991 nước Anh đã công bố loài dơi tai chuột bị tuyệt chủng. Tại đông Thái Bình Dương, nhiệt độ nước biển nâng cao trong những năm 1980 đã dẫn đến sự tuyệt chủng của một loài san hô thuỷ tức. Trong thập kỷ qua, ít nhất 34 loài thực vật và động vật có xương sống hoặc các quần thể độc lập của chúng đã bị tuyệt chủng ở Mỹ trong khi đang chờ sự bảo vệ của chính phủ. Trên toàn thế giới, trên 700 sự tuyệt chủng động vật có xương sống, không xương sống và thực vật có mạch đã được ghi nhận từ năm 1600. Còn bao nhiêu loài đã bị tuyệt chủng nữa bị bỏ qua ?

Việc mất nơi cư trú không chỉ làm gia tăng sự tuyệt chủng loài, mà còn cho thấy sự suy giảm đa dạng sinh học nơi đó. Ở nhiều nước, chỉ còn tương đối ít các thảm thực vật tự nhiên chưa bị bàn tay con người đặt tới . Tại Bangladesh, chỉ có 6% thảm thực vật nguyên thuỷ còn tồn tại . Các cánh rừng xung quang Địa Trung Hải đã từng có diện tích gấp 10 lần diện tích hiện nay, và ở Hà Lan, Anh chỉ còn ít hơn 4% vùng đầm lầy đất thấp là chưa bị phá huỷ.

Suy giảm đa dạng di truyền

Suy giảm loài và hệ sinh thái đều đe doạ nghiêm trọng đến đa dạng di truyền. Trên toàn thế giới, có khoảng 492 quần thể các loài cây khác biệt về di truyền (bao gồm cả những loài trọn vẹn) đang bị đe doạ. Ở đông bắc Mỹ, 159 quần thể cá đại dương di cư khác biệt về di truyền đang ở các mức đe doạ tuyệt chủng cao hoặc vừa phải, nếu không muốn nói chúng đã rơi vào lãng quên.

Suy giảm đa dạng sinh truyền có thể đẩy nông nghiệp vào tình trạng nguy hiểm. Rất khó có thể nói bao nhiêu cơ sở di truyền đã bị suy giảm, nhưng từ những năm 1950, việc phổ cập các giống ngô, lúa mì, lúa gạo và các giống cây trồng khác trong “cách mạng xanh” hiện đại đã thực sự gây sức ép đối với các giống cây trồng bản địa . Các giống hiện đại được chấp nhận trên 40% các đồng lúa châu á trong 15 năm mà chúng được đưa ra, và ở Philippin, Indonesia và một số nước khác, hơn 80% người nông dân hiện nay đã trồng các giống mới . Tại Indonesia, 1500 giống lúa gạo địa phương đã bị tuyệt chủng từ 15 năm trước. Một điều tra hiện nay ở các vùng của Kenya về giống cà phê hoang dã đã cho thấy rằng các cây cà phê ở hai vùng đã biến mất, ba vùng đang bị đe doạ nghiêm trọng, và sáu vùng khác có thể bị đe doạ. Chỉ có hai vùng là được an toàn.

ảnh hưởng của suy giảm đa dạng di truyền như vậy thường được ghi nhận ngay lập tức. Năm 1991, sự giống nhau về di truyền của các cây cam Braxin đã gây ra sự bùng nổ tồi tệ nhất của bệnh thối mục thân cây đã được ghi nhận ở nước này . Năm 1970, các nông dân Mỹ đã mất khoảng 1 tỷ đô la cho một dịch bệnh lan truyền ở các giống ngô nhạy cảm và đồng nhất về di truyền. Cũng tương tự như vậy, sự khan hiếm khoai tây Irish năm 1846, sự mất mùa của lúa mì Sô viết trên một vùng rộng lớn năm 1972, và sự bùng nổ bệnh thối mục cây cam ở Florida năm 1984, tất cả đều xuất phát từ việc suy giảm đa dạng di truyền. Tại một số nước như Bangladesh khoảng 62% các giống lúa gạo có nguồn gốc từ một giống cây mẹ duy nhất, Indonesia (74%), và Sri Lanka (75%), những sự bùng nổ bệnh dịch như vật có thể xảy ra bất kỳ thời điểm nào .

Ngân hàng gen là giải pháp có thể làm chậm quá trình suy giảm di truyền, nhưng việc khôi phục theo định kỳ hạt giống có chi phí cao và nguy cơ hỏng hóc thiết bị có thể khiến ngân hàng trở nên kém an toàn hơn. Năm 1980, các chuyên gia đã ước tính rằng ở các nước phát triển khoảng 1/2 đến 2/3 các hạt giống được thu thập trong các thập kỷ trước đã bị mất đi . Năm 1991, đại diện của 13 ngân hàng gen quốc gia ở châu Mỹ La tinh đã thống kê được khoảng 5 đến 100% hạt giống ngô đã thu thập từ 1940 đến 1980 đã không còn giá trị.

Mua bán piano Nhật

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

Khắc Phục Suy Thoái Đa Dạng Sinh Học

Nhận định về những nguyên nhân đã và đang gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam, các nhà khoa học chuyên ngành cho rằng, nguyên nhân chính yếu là do việc sử dụng, khai thác bất hợp pháp, không khoa học đa dạng sinh học vốn có.

Đó là khai thác bừa bãi mang tính hủy diệt nguồn lợi, chuyển đổi sự dụng đất lâm nghiệp tràn lan chia cắt nơi ở, vùng phân bố của sinh vật, gây ô nhiễm các nguồn nước, đất và không khí…Vì vậy, cần có định hướng cụ thể về chiến lược bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học có hiệu quả rõ ràng, để khắc phục các nguyên nhân suy thoái và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, trên cơ sở mối quan hệ qua lại chặt chẽ của đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Tổng diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam năm 1943 có 14,3 triệu ha, với tỷ lệ che phủ là 43,8%, trên mức an toàn sinh thái là 33%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn 10,88 triệu ha. Nguyên nhân chính làm mất rừng là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu. Tổng diện tích rừng ngập mặn cũng trong năm 1943 có tới 400.000ha, hiện chỉ còn 155.000ha, trong đó rừng nguyên sinh chiếm tỷ lệ rất thấp. Còn diện tích các rạn san hô (chưa kể hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) năm 2001 có 110.000ha, đến năm 2010 còn 14.000ha, chất lượng các rạn san hô cũng rất kém, nhiều loài đã chết.

Một chỉ số hiển thị suy thoái về đa dạng sinh học các loài là số các loài được ghi trong Sách đỏ. Qua 2 lần điều tra năm 1992 và năm 2007, số lượng các loài được ghi trong Sách đỏ đã tăng lên 1,5 lần. Trong đó thực vật có 37 loài rất nguy cấp, 178 loài nguy cấp. Động vật có 4 loài tuyệt chùng, 5 loài tuyệt chủng trong thiên nhiên, 48 loài rất nguy cấp và 113 loài nguy cấp. Bên cạnh đó, số lượng các giống, chủng động vật, thực vật được nuôi trồng phục vụ cho sản xuất nông, lâm, thủy sản, y tế…đã mất đi khá nhanh, trong số này có rất nhiều gốc bản địa quý. Giai đoạn điều tra từ năm 1997-2006, về giống lúa từ 156 còn 75 giống; đậu tương 22 còn 9; lạc 14 còn 4; cà chua 14 còn 7; cao su 14 còn 2; cà phê 14 còn 5. Rất nhiều giống vật nuôi bản địa như lợn, gà, vịt, bò…nay đã mất giống.

Ngoài các nguyên nhân do con người gây ra, ngày càng rõ nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam là do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Các nhà sinh thái học trên thế giới đã xác nhận tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học gồm: Tăng áp lực tiêu diệt các loài quý hiếm, phân bố hẹp, số lượng cá thể ít. Làm biến đổi, phân mảnh (do nước biển dâng cao) các hệ sinh thái biển, nhấn chìm một số đảo và dải bờ ven biển… Làm thay đổi vùng phân bố của các loài “nhạy cảm” với các yếu tố của biến đổi khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, lũ, hạn…

Các loài thích ứng với biến đổi khí hậu (giới hạn sinh thái phù hợp) sẽ có ưu thế trong cạnh tranh nơi ở và dinh dưỡng. Sự xâm hại gia tăng của các loài sinh vật ngoại lai. Tăng khả năng cháy rừng. Những tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học sẽ ngày càng nguy cấp, đe dọa đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và trên toàn cầu nói chung.

Phải chặn đứng các nguyên nhân

Các nhà khoa học của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) khẳng định, theo yêu cầu của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường), cả 3 nội dung là đa dạng sinh học-biến đổi khí hậu-phát triển bền vững phải được xử lý, điều chỉnh, phối hợp đạt hiệu quả cao nhất. Theo đó, muốn mối quan hệ giữa 3 nội dung được tốt nhất, cần phải làm cho tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và phát triển bền vững đến mức thấp nhất. Đa dạng sinh học có thể giảm thiểu biến đổi khí hậu và tác động tích cực đến phát triển bền vững. Còn phát triển bền vững hạn chế được tác hại của biến đổi khí hậu và đóng góp tích cực cho đa dạng sinh học.

Muốn chặn đứng các nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại đến đa dạng sinh học, cần thực hiện đầy đủ và có hiệu quả nội dung yêu cầu của Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt số 1250 ngày 31/7/2013.

Chiến lược đã đề ra 5 nội dung nhiệm vụ Chủ yếu: Bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên; Bảo tồn các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm; Sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến đa dạng sinh học; Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục suy thoái đa dạng sinh học ở nước ta.

Ngăn Chặn Suy Giảm Và Suy Thoái Đa Dạng Sinh Học Ở Việt Nam

Việt Nam rất nỗ lực từ chủ trương, chính sách đến hành động nhưng thực tế hệ sinh thái, đa dạng sinh học của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái với tốc độ rất nhanh.

Theo Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam là một trong 12 trung tâm đa dạng sinh học của thế giới, có tiềm năng đa dạng sinh học rất phong phú và sự đa dạng cao về các nguồn gen quý, hiếm.

Mặc dù, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực từ chủ trương, chính sách đến hành động nhưng thực tế hệ sinh thái, đa dạng sinh học của Việt Nam liên tục bị suy giảm và suy thoái với tốc độ rất nhanh.

Suy giảm và suy thoái tốc độ nhanh

Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 20.000 loài thực vật, trên 10.500 loài động vật trên cạn, trên 2.000 loài động vật không xương sống và cá ở nước ngọt, trên 11.000 loài sinh vật biển và khoảng 7.500 chủng vi sinh vật.

Tiến sỹ Nguyễn Thành Vĩnh, Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng sinh học, cho biết dưới áp lực của sự gia tăng dân số đã và đang tạo ra một nhu cầu lớn về tiêu thụ tài nguyên.

Quá trình đô thị hóa nhanh, phát triển thiếu quy hoạch, thay đổi phương thức sử dụng đất, xây dựng nhiều kết cấu hạ tầng cơ sở… làm giảm đáng kể diện tích sinh cảnh tự nhiên, tăng sự chia cắt các hệ sinh thái, suy giảm môi trường sống của nhiều loài động vật, thực vật hoang dã.

Các loại tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên sinh vật đang bị khai thác quá mức, nhất là thủy, hải sản, lâm sản gỗ và phi gỗ.

Sự du nhập của các loài ngoại đang tác động trực tiếp đến đa dạng sinh học của Việt Nam. Mới đây nhất, ngày 28/12/2018, tôm hùm nước ngọt được Bộ Tài nguyên và Môi trường xếp vào danh sách các loài có nguy cơ xâm hại, cần tăng cường kiểm soát, ngăn chặn sự phát tán của loài này ra môi trường tự nhiên.

Nhiều loài sinh vật, đặc biệt là các loài quý, hiếm, đang trở nên tuyệt chủng ngoài tự nhiên hoặc đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Nhiều loài dược liệu quý trước đây rất sẵn ở Vườn quốc gia Hoàng Liên như bảy lá một hoa, nấm linh chi, tam thất… mấy năm gần đây khi đi khảo nghiệm thực tế đã không còn nhìn thấy.

Tình trạng khai thác, săn bắn, buôn bán và tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã ngày càng diễn biến phức tạp gây ra mối đe dọa lớn tới đa dạng sinh học cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã Việt Nam, từ 1/2013-12/2017, cả nước có 1.504 vi phạm; 41.328kg cá thể và sản phẩm, 1.461 đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật; 432 bị cáo bị xét xử trong các vi phạm hình sự về động vật hoang dã.

Ngoài ra, những tác động bất lợi từ biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã xuất hiện và có xu hướng ngày càng nghiêm trọng, để lại những hậu quả nặng nề, thậm chí không còn khả năng phục hồi đối với đa dạng sinh học, các hệ sinh thái tự nhiên trên cạn cũng như dưới nước.

Các nguồn gene hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều. Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sinh kế của con người, đe dọa sự phát triển bền vững.

Bảo tồn có hiệu quả

Thực tế, hiện nay nhận thức của nhiều cấp ủy đảng, chính quyền cũng như người dân về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã chưa đầy đủ và đúng mức.

Việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã chưa thực sự được coi trọng, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục.

Trong nhân dân, còn khá phổ biến tư tưởng muốn sử dụng các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức, thời trang, mỹ nghệ, quà biếu, tặng. Kinh phí cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học còn dàn trải, thiếu trọng tâm, thiếu cơ chế khuyến khích đầu tư, phát triển đa dạng sinh học từ trung ương đến địa phương…

Để bảo tồn có hiệu quả hệ sinh thái và đa dạng sinh học, Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng sinh học cho rằng, cần tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác bảo vệ môi trường nói chung và công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng.

Công tác điều hành phải luôn tính đến yếu tố bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển kinh tế – xã hội; cân nhắc và chú trọng ngay từ đầu việc đánh giá những ảnh hưởng của các chính sách phát triển, các dự án kinh tế tới đa dạng sinh học…

Việc kiểm điểm đánh giá kết quả thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học phải được xem là một trong những tiêu chí để xếp loại và đánh giá cán bộ hàng năm, là cơ sở để xem xét đánh giá bổ nhiệm cán bộ.

Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật đa dạng sinh học theo hướng thống nhất quản lý về đa dạng sinh học; đề xuất ban hành chỉ thị hoặc nghị quyết riêng về bảo tồn đa dạng sinh học nhằm tạo sự thông suốt về nhận thức, tư tưởng và hành động của toàn Đảng, các cấp, các ngành và sự đồng thuận trong nhân dân; hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đa dạng sinh học; tăng cường việc thực thi chính sách, pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đa dạng sinh học; tạo cơ chế huy động sự tham gia và hợp tác đa bên trong bảo tồn đa dạng sinh học.

Công tác truyền thông và xây dựng năng lực về bảo tồn đa dạng sinh học cần được đẩy mạnh; đồng thời triển khai một số mô hình lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học trong phát triển kinh tế-xã hội, du lịch sinh thái địa phương; bảo tồn gắn với sinh kế, dựa vào cộng đồng; xây dựng mô hình chi trả dịch vụ môi trường và mô hình chia sẻ lợi ích từ việc phát sinh sử dụng nguồn gen.

Các bộ, ngành cần kịp thời cung cấp các thông tin về các vụ việc có xung đột môi trường nói chung, bảo tồn đa dạng sinh học nói riêng để kịp thời chỉ đạo và định hướng tuyên truyền.

Việt Nam tiếp tục xây dựng Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học giai đoạn 2021 – 2030; quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia giai đoạn 2021-2030; đề án điều tra cơ bản về quản lý tài nguyên, môi trường và lập cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học; triển khai các chương trình, đề án về bảo tồn các loài nguy cấp, quý, hiếm; chương trình bảo tồn nguồn gene.

Ông Nguyễn Thành Vĩnh, Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn Thiên nhiên và Đa dạng sinh học nhấn mạnh: Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành tuyên giáo với các cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong định hướng, tuyên truyền với nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Có thể đưa nội dung tuyên truyền về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo tồn các loài hoang dã, nguy cấp quý hiếm vào các nội dung sinh hoạt chi bộ, đặc biệt phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ trung ương đến cơ sở. Đồng thời, xây dựng cơ chế cung cấp thông tin giữa ngành tuyên giáo với các cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về bảo tồn đa dạng sinh học.

Từ những định hướng về bảo tồn đa dạng sinh học, các cấp ủy đảng sẽ tập trung chỉ đạo, xây dựng chương trình hành động, kế hoạch bảo tồn phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, đơn vị, góp phần thiết thực thực hiện có hiệu quả Công ước Quốc tế về đa dạng sinh học và các cam kết về bảo tồn đa dạng sinh học mà Việt Nam tham gia.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học : Trường Thcs Quảng Phương trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!