Xu Hướng 2/2024 # Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

CỦA BỘ CHÍNH TRỊvề tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khoá XIvề chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu,tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

I- ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhận thức trong hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân về chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được nâng lên. Tổ chức bộ máy, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện. Năng lực phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu được nâng lên một bước. Tài nguyên thiên nhiên được quản lý chặt chẽ hơn, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn. Công tác bảo vệ môi trường được chú trọng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, bước đầu hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Nhiều mục tiêu Nghị quyết đề ra đến năm 2024 dự báo không đạt được. Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn dự báo, gây hậu quả ngày càng lớn. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai còn thấp, nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu thiệt hại lớn khi có thiên tai xảy ra. Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn nhiều yếu kém, sử dụng chưa hiệu quả, nhất là tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, một số loại tài nguyên bị lạm dụng, khai thác quá mức dẫn đến suy thoái, cạn kiệt. Ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, nhất là tại các khu đô thị, thành phố lớn, ảnh hưởng lớn tới đời sống, sinh hoạt của người dân, trở thành vấn đề bức xúc của xã hội.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng do nguyên nhân chủ quan là chính. Nhận thức và ý thức trách nhiệm của một số cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ. Bộ máy quản lý nhà nước còn bất cập, hệ thống pháp luật, công cụ quản lý thiếu đồng bộ, còn phân tán, chồng chéo, thực thi kém hiệu quả; thiếu nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án, nhiệm vụ đề ra. Công tác quản lý, phương thức tiếp cận về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường chậm được đổi mới. Nhiều quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội chưa được lồng ghép, thực hiện gắn với yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường làm gia tăng tác động tiêu cực của thiên tai. Vẫn còn tình trạng thu hút đầu tư thiếu chọn lọc, không cân nhắc, xem xét các yếu tố, tiêu chí về môi trường. Việc triển khai nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ gắn với yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường còn chậm. Công tác thanh tra, kiểm tra thực thi pháp luật về tài nguyên, bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan tiếp tục tổ chức thực hiện quyết liệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu trong Nghị quyết; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách sau:

1. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

– Tiếp tục chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong toàn xã hội về nhận thức và hành động trước tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường gia tăng, đang trở thành nguy cơ đe doạ nghiêm trọng sức khoẻ, đời sống nhân dân, sự phát triển bền vững của đất nước.

– Khẩn trương thể chế hoá và triển khai thực hiện Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khoá XI về tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2024 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Rà soát, bổ sung và đẩy mạnh thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2024 và tầm nhìn đến năm 2045; Chiến lược về ứng phó với biến đổi khí hậu; Chiến lược quốc gia về phòng, chống thiên tai; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030; hoàn thiện cơ chế để thực hiện minh bạch hoá trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản và tài nguyên nước.

– Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành và địa phương, hạn chế tối đa các ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các dự án phát triển kinh tế sử dụng lãng phí, khai thác không hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phát thải nhiều chất ô nhiễm, khí nhà kính, huỷ hoại cảnh quan, sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gia tăng rủi ro thiên tai, nhất là vùng đầu nguồn nước, khu dân cư, vùng ven biển.

– Tăng cường, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực của cộng đồng quốc tế trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu.

3. Nâng cao năng lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm

– Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm về tài nguyên, môi trường; kết hợp xử lý hành chính, hình sự với áp dụng công cụ kinh tế, thị trường để bảo đảm thực thi hiệu quả các chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường.

– Rà soát, điều chỉnh các quy định xử lý vi phạm theo hướng nâng cao hơn mức xử phạt, bảo đảm đủ sức răn đe. Quy định rõ về cơ chế bồi thường, ký quỹ, đặt cọc, bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, bảo hiểm rủi ro thiên tai, quy định mức trách nhiệm tối thiểu đối với từng đối tượng.

4. Một số nhiệm vụ cấp bách

– Tiếp tục cập nhật, cụ thể hoá “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng” của cả nước và đến từng vùng, miền, địa phương. Lựa chọn các hạng mục, giải pháp ưu tiên để lồng ghép triển khai thực hiện. Khẩn trương hoàn thành các công trình chống ngập đang thi công ở Thành phố Hồ Chí Minh; bổ sung các giải pháp dần hình thành hệ thống chống ngập đồng bộ, hiệu quả. Triển khai các giải pháp chống ngập cho vùng lõi thành phố Cần Thơ. Đầu tư hoàn thiện và nâng cấp hệ thống đê biển, các công trình chống sạt lở ven sông, ven biển, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Rà soát, hỗ trợ di dời dân ra khỏi các vùng có nguy cơ cao sạt lở bờ sông, bờ biển, sạt lở núi, lũ quét và các nguy cơ thiên tai khác. Tiếp tục đầu tư, bảo đảm an toàn các hồ chứa nước; phát triển thuỷ lợi, nâng cao khả năng tưới, tiêu nước cho các vùng thường xuyên bị hạn hán, úng ngập nặng, nhất là ở Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

– Hoàn thành việc điều tra và xây dựng bản đồ tài nguyên nước mặt và nước ngầm. Có cơ chế, chính sách phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, ngăn chặn xu hướng suy giảm tài nguyên nước. Tích cực đàm phán, hợp tác với các quốc gia thượng nguồn để bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Kông và sông Hồng. Có chính sách khuyến khích áp dụng trên diện rộng các giải pháp sử dụng tiết kiệm nước ngọt. Chấn chỉnh việc khai thác cát sỏi trên phạm vi cả nước.

– Tiếp tục tăng cường quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, nghiên cứu cơ chế cho phép kết hợp khai thác các giá trị kinh tế của rừng để góp phần giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội các địa phương có rừng.

– Quy định tiêu chí môi trường, quy chuẩn kỹ thuật về lựa chọn, quyết định đầu tư phát triển. Điều chỉnh cơ chế chấp thuận, quy trình, hình thức đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế. Phân vùng theo mức độ ô nhiễm môi trường để có biện pháp quản lý chất lượng môi trường sống, sinh thái và cảnh quan.

– Tăng cường các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát đối với các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Có chính sách hạn chế sản xuất, nhập khẩu và sử dụng đồ nhựa có tính năng sử dụng một lần trên toàn quốc. Không nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện đã qua sử dụng tiềm ẩn các chất nguy hại, gây ô nhiễm.

– Tập trung xử lý ô nhiễm môi trường, phấn đấu từ sau năm 2024 chất lượng môi trường được cải thiện năm sau cao hơn năm trước, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn. Khắc phục ngay tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước thải tại thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Chú trọng bảo vệ môi trường nông thôn, trọng điểm là các làng nghề, khu vực chăn nuôi tập trung.

– Thực hiện phân loại các chất thải tại nguồn, nhất là rác thải sinh hoạt. Tăng cường năng lực thu gom, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tối đa việc chôn lấp rác thải. Tập trung xử lý chất thải độc hại, chất thải y tế. Có chính sách phù hợp để khuyến khích mạnh mẽ hơn các doanh nghiệp đầu tư xử lý chất thải rắn, nước thải. Xử lý triệt để tình trạng ô nhiễm tại các bãi thải xung quanh các thành phố lớn, không để người dân sinh sống tại khu vực lân cận bức xúc, khiếu kiện do ô nhiễm bãi thải gây ra. Tăng cường năng lực quan trắc, giám sát, cảnh báo ô nhiễm môi trường. Thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Tăng cường hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở Trung ương, địa phương và đẩy mạnh quản trị môi trường trong các doanh nghiệp.

III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp uỷ, cơ quan, tổ chức đảng các cấp tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung của Nghị quyết và Kết luận này, tạo sự thống nhất cả trong nhận thức và hành động.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo rà soát, xây dựng các văn bản dưới luật; lồng ghép các nhiệm vụ về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn đến năm 2030 và tổ chức thực hiện; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia và giám sát việc thực hiện Nghị quyết và chính sách, pháp luật phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu Và Hành Động Của Chúng Ta

Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội chia sẻ, Thành phố Hà Nội đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng do ảnh hưởng của chất thải rắn (CTR), CTR công nghiệp, chất thải nông nghiệp, rác thải công nghiệp, nước thải công nghiệp, nước thải làng nghề…

Đến nay, 30/30 quận, huyện, thị xã đều xây dựng kế hoạch triển khai công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt, vai trò của các tổ chức tôn giáo ngày càng được nâng cao, ý thức cho mọi người dân về bảo vệ môi trường sống, xanh, sạch, đẹp, sử dụng tiết kiệm nguồn nước sạch được duy trì.

Để tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, bà Nguyễn Thị Kim Dung cho rằng trong thời gian tới, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội cần phối hợp mạnh mẽ hơn với các ban, ngành thành phố trong công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu của các tổ chức, cá nhân, các cơ sở thờ tự tôn giáo trên địa bàn thành phố; Tiếp tục duy trì và nhân rộng các mô hình tự quản bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu trong các cơ sở thờ tự và trên toàn địa bàn thành phố.

Chia sẻ về sự vào cuộc tích cực của Hội đồng Chức sắc Chăm BàLamôn tỉnh Ninh Thuận khi vận động các tín đồ tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, ông Lưu Sanh Thanh, đại diện Hội đồng Chức sắc Chăm BàLamôn tỉnh Ninh Thuận cho biết, với sự vào cuộc của Hội đồng Trị sự (HĐTS), ngay sau khi ký kết chương trình phối hợp, HĐTS đã chủ động phối hợp với Ban công tác Mặt trận, Ban Quản lý các thôn, khu phố thực hiện các hoạt động tuyên truyền, vận động bà con trong đồng bào Chăm thực hiện các biện pháp về sinh hoạt trong cuộc sống và sản xuất hằng ngày thân thiện với môi trường như: xây dựng các công trình như nhà vệ sinh, nhà tắm, sử dụng nước sạch; nhận trồng và chăm sóc cây xanh nơi ở và nơi công cộng, tại các cơ sở tôn giáo… Không sử dụng những vật tư, phương tiện tạo ra những sản phẩm độc hại. Kết quả có 1.480 hộ gia đình ký cam kết đạt tỷ lệ 93,08% cam kết thực hiện.

“Qua 4 năm triển khai thực hiện Chương trình đã góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong đồng bào Chăm trên địa bàn, bà con đã ý thức được trong việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng đồ dùng tiết kiệm năng lượng, hạn chế việc sử dụng bao nylong, chất thải nhựa, bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp đúng theo hướng dẫn và quy định”, ông Lưu Sanh Thanh nhấn mạnh.

Caritas Việt Nam đã tổ chức 7 cuộc tập huấn cấp quốc gia cho các Caritas giáo phận ở hơn 13 tỉnh, thành cho 89 tu sĩ và giáo dân tham dự. Các cuộc tập huấn đã tạo điều kiện để tu sĩ, tráng sinh và giáo dân nâng cao nhận thức, chia sẻ kinh nghiệm trong thực hiện hoạt động tăng cường sự nối kết giữa các giáo phận để cùng thực hiện bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu.

Để tiếp tục huy động sự vào cuộc của các Tăng, Ni, Phật tử tích cực tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, Thượng tọa Thích Thiện Quý, Phó trưởng ban kiêm Chánh thư ký BTS GHPG Việt Nam TP HCM cho rằng chính quyền, cơ quan chức năng cần vào cuộc để có biện pháp đối với việc sử dụng vàng mã bừa bãi trên phố; cần sớm có quy trình, quy định và thực hiện thực chất việc thu gom, vận chuyển rác có phân loại khi các hộ dân đã thực hiện phân loại rác tại nguồn; đồng thời cần tăng cường vận động, khuyến khích việc hỏa táng, tạo môi trường sống trong lành cho người dân.

Quân Đội Với Nhiệm Vụ Bảo Vệ Môi Trường Và Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu

( chúng tôi ) – Nhận thức rõ vai trò quyết định của môi trường đối với sự phát triển bền vững của đất nước và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự nỗ lực, cố gắng của các cơ quan, đơn vị, công tác quản lý, bảo vệ môi trường (BVMT) và ứng phó biến đổi khí hậu (BĐKH) trong quân đội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đời sống, sinh hoạt của bộ đội, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tạo cơ sở, tiền đề cho công tác BVMT, xây dựng và phát triển quân đội trong tình hình mới.

Thượng tướng Trương Quang Khánh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng các đại biểu trồng cây xanh hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới tại Học viện Lục quân, ngày 5/6/2014.

Với mục tiêu tăng cường, nâng cao năng lực và phát huy sức mạnh của toàn quân, quân đội đã tham gia tích cực, hiệu quả vào các hoạt động của quốc gia về BVMT, chủ động ứng phó, giảm thiểu các tác động xấu của BĐKH, nước biển dâng đến các hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo đảm an ninh, an toàn tính mạng và tài sản của bộ đội và nhân dân; nhất là, các đơn vị đóng quân ở các vùng ven biển, hải đảo, các khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH… Nổi bật là:

Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và ý thức về BVMT được các cơ quan, tổ chức đặc biệt coi trọng và tổ chức thường xuyên với nhiều hình thức phong phú. Hàng năm, theo hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, các hoạt động hưởng ứng “Ngày môi trường thế giới 5/6”, “Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn” và “Hội thi tìm hiêu về môi trường”… được luân phiên tổ chức tại các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Thông tin về BVMT, ứng phó với BĐKH cũng được đăng tải, phổ biến trên báo chí, đài phát thanh truyền hình, mạng thông tin và thư viện trong quân đội…; một số buổi toạ đàm về “Quân đội với nhiệm vụ BVMT” được Tổng cục Chính trị phối hợp tổ chức đã làm phong phú thêm các hình thức tuyên truyền, giáo dục, góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT, ứng phó với BĐKH trong quân đội.

Công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ (KH-CN) trong lĩnh vực BVMT đã không ngừng được đẩy mạnh. Cùng với bộ máy quản lý của Nhà nước, hệ thống tổ chức quản lý về môi trường trong quân đội đã được hình thành và đi vào hoạt động nền nếp, hiệu quả; trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách không ngừng được nâng cao. Các chương trình dự án nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường và BĐKH đã được nhiều cơ quan, đơn vị triển khai tích cực, đồng bộ. Từ năm 2005 đến nay, bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau, gần 200 công trình, giải pháp công nghệ cấp Nhà nước, Bộ Quốc phòng về BVMT đã được nghiên cứu, chuyển giao và đưa vào ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn, như: xử lý chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại cho các cơ sở sản xuất, sửa chữa quốc phòng, kho tàng, cơ sở đảm bảo kỹ thuật; xử lý nước sinh hoạt cho bộ đội; xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải y tế tại các bệnh viện; xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh… góp phần quan trọng vào việc BVMT; cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống sinh hoạt, làm việc cho bộ đội và nhân dân.

Công tác kiểm tra, thanh tra được duy trì thường xuyên, tập trung vào việc chấp hành quy định về đánh giá tác động môi trường và BĐKH, cam kết BVMT đối với các dự án đầu tư mới và đề án BVMT các cơ sở đang hoạt động; đôn đốc xử lý các bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, khu vực ô nhiễm chất độc hoá học tại các sân bay; kiểm tra quan trắc kiểm soát môi trường từ các hoạt động quân sự, quốc phòng để phân loại, bổ sung các cơ sở gây ô nhiễm môi trường vào danh sách cần phải xử lý.

Công tác đánh giá tác động môi trường, ảnh hưởng của BĐKH cũng được các cơ quan, đơn vị chú ý hơn, vừa tạo thuận lợi khuyến khích đầu tư phát triển, vừa có tác dụng ngăn ngừa ô nhiễm. Bộ Quốc phòng đã tổ chức nhiều đợt tập huấn nâng cao trình độ, kỹ năng thẩm định, đánh giá tác động môi trường, ảnh hưởng của BĐKH cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường các cấp; triển khai, thành lập 3 trạm quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quốc gia (Viện Hóa học, Môi trường quân sự/Bộ Tư lệnh Hóa học; Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường biển/Quân chủng Hải quân; Viện Nhiệt đới Môi trường/Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự), nhằm kịp thời phát hiện các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, đảm bảo quản lý, giám sát và tổng hợp tình hình tác động môi trường của quân đội theo quy định của Luật BVMT.

Công tác hợp tác quốc tế về môi trường không ngừng được củng cố và phát triển. Đến nay, Việt Nam đã tham gia 17 công ước quốc tế về môi trường; Bộ Quốc phòng đã tích cực, chủ động đẩy mạnh hợp tác với các nước trên thế giới, nhất là các nước ASEAN về BVMT, ứng phó BĐKH.

Bên cạnh đó, việc chấp hành các quy định về đánh giá tác động của môi trường, lập đề án và cam kết BVMT đã được Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện nghiêm túc. Các dự án đầu tư xây dựng đường tuần tra biên giới, xây dựng trường bắn, trung tâm huấn luyện, doanh trại quân đội, mở rộng sân bay, nhà máy, xí nghiệp, quốc phòng, kho tàng… có nguy cơ ảnh hưởng tới môi trường đã cơ bản chấp hành tốt các quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nhiều cơ sở, nhà máy, bệnh viện, kho tàng đã và đang triển khai lập đề án BVMT; các dự án hoặc đề án đều có các giải pháp và công trình xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm, BVMT…

Nhờ quán triệt và thực hiện tốt Luật BVMT, các chỉ thị, quan điểm BVMT trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Đảng, Nhà nước mà Bộ Quốc phòng đã đẩy nhanh tiến độ xử lý, khắc phục, cải tạo môi trường, rà phá bom mìn; tham gia tích cực, có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị xã hội, quốc phòng – an ninh; tăng cường khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo hạn chế phát thải khí nhà kính như: năng lượng gió, năng lượng mặt trời; xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; các cơ sở gây ô nhiễm môi trường đang được tích cực xử lý và dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2024 – 2024.

Tuy nhiên, công tác BVMT và ứng phó với BĐKH là một vấn đề lớn, là nhiệm vụ mới đối với quân đội và có nhiều khó khăn trong tổ chức thực hiện. Do vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác này cũng còn nhiều hạn chế, bất cập như: tiến độ xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường còn chậm; hoạt động môi trường quân sự còn thiếu quy hoạch tổng thể, nhiều vấn đề môi trường bức xúc ở các đơn vị vẫn chưa có khả năng giải quyết cơ bản theo hướng phát triển bền vững; việc lồng ghép ưu tiên giữa thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị với việc thực hiện Luật BVMT và các quy định BVMT khác của Nhà nước còn những hạn chế nhất định; cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy trình công nghệ sản xuất quốc phòng và BVMT còn lạc hậu, nguồn lực BVMT còn yếu, hệ thống quản lý chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác BVMT vẫn chưa thực sự được coi trọng đúng mức, trình độ nhận thức về BVMT của bộ đội nhìn chung còn hạn chế, chưa ngang tầm…

Quán triệt Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và Nghị quyết 16/2007/NQ-CP của Chính phủ về một số chủ trương, chính sách lớn đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, trong thời gian tới, để công tác quản lý, BVMT, ứng phó với BĐKH trong quân đội đạt chất lượng, hiệu quả cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn chuyên ngành về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khi hậu đối với các cơ quan, đơn vị trong quân đội. Để thực hiện tốt nội dung này cần triển khai, thực hiện đồng bộ các giải pháp. Trong đó, thường xuyên cập nhật, rà soát, bổ sung điều chỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền; kịp thời thể chế hoá, cụ thể hoá mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động môi trường trong quân đội, phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia; tạo ra hành lang pháp lý cần thiết bảo đảm cho các đơn vị đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác BVMT, ứng phó với BĐKH. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu ban hành chương trình, nội dung giáo dục về môi trường trong các học viện, nhà trường và các đơn vị quân đội; tích cực, chủ động làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường theo hướng phân định rõ quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và ý thức BVMT đối với các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân; chủ động xây dựng, củng cố, phát triển thế trận quốc phòng toàn dân ở các địa phương, địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, gắn với mục tiêu phát triển bền vững của Công ước chống sa mạc hoá của Liên hợp quốc và cụ thể hoá Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam.

Lực lượng vũ trang Quân khu 3 tham gia khắc phục bom, mìn, vật nổ đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân trên địa bàn.

Hai là, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, tri thức và trách nhiệm cho cán bộ, chiến sỹ, công nhân viên chức quốc phòng về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; gắn nội dung bảo vệ môi trường với chỉ tiêu thi đua của các cơ quan, đơn vị. Theo đó, cần chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tổ chức tuyên truyền sát với tình hình thực tiễn, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, như: tuyên truyền miệng; các hội thi, hội thao; các hoạt động văn hóa văn nghệ…; lồng ghép giáo dục về BVMT trong chương trình đào tạo của các nhà trường, cơ sở đào tạo của Bộ Quốc phòng; đồng thời, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích tăng trưởng kinh tế, thực hiện nhiệm vụ chính trị xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, củng cố, phát triển quốc phòng – an ninh gắn với BVMT trong quân đội. Bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hiểu biết về môi trường và BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Phát động các phong trào xây dựng môi trường văn hóa, doanh trại quân đội chính quy, đơn vị xanh – sạch – đẹp, trồng cây, bảo vệ rừng…; xây dựng, bồi dưỡng điển hình các đơn vị, doanh nghiệp quốc phòng đạt chuẩn mực quốc tế về môi trường. Các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông của quân đội chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, nhà trường và các cơ quan quản lý về môi trường tiếp tục đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, cung cấp đầy đủ, kịp thời những kiến thức cần thiết về môi trường, những quan điểm chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ BVMT; kịp thời biểu dương, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt về công tác BVMT; kiên quyết đấu tranh phê phán những việc làm sai trái, những hành vi phá hoại môi trường sinh thái.

Lực lượng vũ trang Quân khu 5 tham gia bảo vệ môi trường biển.

Ba là, tăng cường xây dựng các nguồn lực bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khí hậu trong quân đội ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ mới. Theo đó, cần chú trọng phát triển năng lực quản lý và các điều kiện bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động quản lý môi trường, ứng phó với BĐKH từ Bộ Quốc phòng đến các đơn vị cơ sở; hình thành và hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường đồng bộ, thống nhất với các cơ quan ngoài quân đội, của các bộ, ngành và Chính phủ, đủ năng lực triển khai các hoạt động môi trường độc lập trong quân đội; khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ nhằm giảm thiểu nguồn phế thải gây ô nhiễm môi trường, theo hướng phát triển bền vững; ưu tiên cơ chế và tài chính cho nghiên cứu KH-CN về BVMT (công nghệ xanh, công nghệ sạch, thân thiện môi trường) ở các trung tâm, cơ sở nghiên cứu, nhà trường, các nhà máy và doanh nghiệp quốc phòng; tích cực ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học môi trường vào hoạt động của các đơn vị cơ sở trong quân đội. Bên cạnh đó, mở rộng hợp tác, tăng cường phối hợp hoạt động BVMT với các Bộ, ngành, địa phương và quốc tế, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động BVMT trong quân đội, góp phần BVMT quốc gia; thực hiện tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác cứu hộ, cứu nạn, khắc phục triệt để hậu quả bom mìn, chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh, các sự cố về môi trường…

Bốn là, tích cực, chủ động nghiên cứu, tham mưu đề xuất các phương án, kế hoạch phòng chống, giảm thiểu tác động của môi trường và BĐKH đến nhiệm vụ quốc phòng – an ninh. Trên cơ sở nhiệm vụ nghiên cứu và dự báo, lực lượng vũ trang cần tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp chủ động làm tốt công tác chuẩn bị phòng chống giảm thiểu tác động của BĐKH. Trong tham mưu, đề xuất cần dự báo chính xác những tác động ảnh hưởng của môi trường và khả năng thiệt hại do BĐKH gây ra trong từng thời điểm; có phương án, kế hoạch phòng chống, lực lượng và phương tiện sử dụng, phương thức, cách thức tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, hiệp đồng bảo đảm, sự phối hợp giữa các cơ quan bộ, ngành, địa phương và các lực lượng; công tác bảo đảm an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tính mạng của nhân dân, tài sản của Nhà nước, chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia. Bên cạnh đó, tăng cường công tác nghiên cứu dự báo, đánh giá chính xác những tác động, ảnh hưởng của môi trường và BĐKH đến nhiệm vụ quốc phòng – an ninh.

Năm là, mở rộng quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế; tăng cường quản lý Nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Để thực hiện tốt chủ trương này cần chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế; coi trọng việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế. Tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm, đối thoại chính sách với các nước về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên, BVMT, thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Đẩy mạnh hợp tác với các nước, các tổ chức và các diễn đàn quốc tế để bảo vệ các nguồn nước, tiếp cận công nghệ mới và huy động nguồn lực cho giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với BĐKH và BVMT. Thúc đẩy hợp tác Á – Âu, châu Á – Thái Bình Dương, khu vực Đông Á, ASEAN, tiểu vùng sông Mê Công về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và BVMT. Bên cạnh đó, chú trọng kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực theo hướng tổng hợp, thống nhất, tập trung đầu mối, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo trong quản lý Nhà nước về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và BVMT. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa; cơ chế để nhân dân giám sát có hiệu quả việc quản lý khai thác tài nguyên, BVMT và ứng phó với BĐKH.

Tác động, ảnh hưởng của môi trường và BĐKH đã và đang diễn ra hiện hữu đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và hoạt động quân sự, quốc phòng nói riêng, đòi hỏi các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần nâng cao nhận thức, thống nhất trong hành động, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, nâng cao năng lực và hiệu quả công tác BVMT, ứng phó với BĐKH, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Ngành Công Thương Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu

13/08/2024

Biến đổi khí hậu và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu

Về mặt khoa học, biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai, bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng thập kỷ hay hàng triệu năm. Thời gian gần đây, biến đổi khí hậu trái đất được xem xét là quá trình “nóng lên toàn cầu” và quá trình tự nhiên này được xác định nguyên nhân là sự có mặt của các khí gây hiệu ứng nhà kính ngày càng nhiều làm gia tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính khí quyển Trái đất. Các chất, khí gây hiệu ứng nhà kính bao gồm Hơi nước, CO2, N2O, CH4, O3, SF6, HFCs và PFCs trong thành phần của khí quyển có khả năng hấp thụ bức xạ nhiệt từ Trái đất làm cho nhiệt độ khí quyển Trái đất tăng lên.

Nguyên nhân tự nhiên của quá trình nóng lên toàn cầu được xem là quá trình vận động tự nhiên của Trái đất trong hệ Mặt trời và đang trong thời kỳ băng tan kéo dài hàng triệu năm (quá trình khí quyển bề mặt Trái đất nóng dần lên). Nguyên nhân nhân tạo được xác định do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính gồm đốt cháy nhiên liệu hoá thạch trong hoạt động công nghiệp, năng lượng, giao thông,… các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác… Đặc biệt, dưới các tác động, nguyên nhân biến đổi khí hậu từ con người đã làm cho quá trình nóng lên toàn cầu tự nhiên trở nên nhanh hơn bao giờ hết và đã trở thành một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong Thế kỷ 21, trong đó Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề nhất do biến đổi khí hậu gây ra.

Biến đổi khí hậu được biểu hiện qua việc dịch chuyển của các đới khí hậu, gia tăng các hình thái thời tiết cực đoan, thay đổi các dòng hải lưu và gây các tác động như gia tăng nhiệt độ khí quyển trái đất, thay đổi thành phần, chất lượng không khí, gây tan băng, dâng cao mực nước biển, ngập lụt, gây tác động đến các chu trình sinh địa hoá, cấu trúc và chức năng của nhiều hệ sinh thái, ảnh hưởng đến an ninh lương thực và nghèo đói, an ninh năng lượng, nguồn nước và thương mại toàn cầu… Với hàng loạt các biểu hiệu và tác động tiêu cực đang diễn ra đòi hỏi tất cả các quốc gia cùng chung tay thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế các tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra, hướng tới sự phát triển bền vững toàn cầu trong tương lai.

Ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu được xác định thực hiện đồng thời hai giải pháp là Thích ứng và Giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Thích ứng là quá trình điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc hoạt động của con người cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường thay đổi nhằm giảm khả năng tổn thương do biến đổi khí hậu hoặc tận dụng cơ hội do nó mang lại. Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm sử dụng đốt các dạng nhiên liệu hoá thạch trong cac nền kinh tế (dầu mỏ, than, khí đốt,…), gia tăng các bể hấp thụ, lưu giữ khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào bầu khí quyển (trồng rừng, công nghệ thu và giữ các-bon (CCS)…). Các giải pháp về thích ứng đã và đang được áp dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản, giao thông, hạ tầng, quản lý sử dụng tài nguyên nước và phòng chống thiên tai,… còn các giải pháp đóng góp giảm phát thải khí nhà kính lại được tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, giao thông, lâm nghiệp và nông nghiệp.

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu trong hoạt động công nghiệp và năng lượng

Như chúng ta đều biết, việc giảm phát thải khí nhà kính thông qua giảm sử dụng nhiên liệu hoá thạch của nền kinh tế chính là việc giảm nhu cầu sử dụng năng lượng hoặc chuyển đổi nguồn cung cấp năng lượng từ hoá thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt) sang các năng lượng tái tạo khác.

Giảm như cầu sử dụng năng lượng chính là hoạt động sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đây được xem là giải pháp quan trọng nhất với chi phí thấp nhất và đem lại hiệu quả cao nhất đối với bất kỳ quốc gia nào. Tất cả các giải pháp sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, trong đó chủ yếu là năng lượng điện đều có thể triển khai tại tất cả các quá trình công nghiệp, công trình xây dựng, hoạt động giao thông và sinh hoạt tại các hộ gia đình,… từ dó góp phần giảm nhu cầu điện, năng lượng chủ yếu có nguồn gốc từ hoá thạch hiện nay (điện sản xuất từ than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên). Trong lĩnh vực công nghiệp, các giải pháp về cải tiến thiết bị nâng cao hiệu suất, thay đổi quy trình vận hành đều hướng tới việc sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm, giảm chi phí phí sản xuất và tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, đây chính là mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp mà chúng ta đang tích cực triển khai.

Chuyển đổi nguồn cung cấp năng lượng từ hoá thạch sang các dạng năng lượng tái tạo là việc phát triển, sử dụng các dạng năng lượng được coi là không phát thải khí nhà kính như thuỷ điện, năng lượng mặt trời, điện gió, sinh khối, khí sinh học, địa nhiệt, thuỷ triều, điện từ rác thải và năng lượng hạt nhân… Việc gia tăng tỷ lệ đóng góp sản lượng năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng của mỗi quốc gia sẽ làm giảm tỷ lệ năng lượng hoá thạch tương ứng trong điều kiện tổng nhu cầu không đổi.

Ngành Công Thương thực hiện các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu của Việt Nam

Trước hiện trạng và nguy cơ tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến sự phát triển bền vững của tất cả quốc gia, từ năm 1990 đến nay, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm hợp tác, hỗ trợ các quốc gia có thể thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và cùng nhau giảm nhẹ phát thải khí nhà kính hướng tới mục tiêu kỳ vọng giữ cho nhiệt độ khí quyển Trái đất tăng không quá 2oC vào cuối thế kỷ này. Trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), Nghị định thư Kyoto là văn bản pháp lý quan trọng nhất với sự cam kết cắt giảm phát thải khí nhà kính của các quốc gia phát triển trong 2 giai đoạn, giai đoạn I từ năm 2005 – 2012 và giai đoạn II từ năm 2013 – 2024. Với mức cam kết cắt giảm phát khí nhà kính định lượng so với năm 1990 của giai đoạn I là trên 5% và giai đoạn II là trên 18% các Bên đã tích thực hiện thông qua ba cơ chế hỗ trợ là: Cơ chế đồng thực hiện (JI); Cơ chế phát triển sạch (CDM); và Cơ chế mua bán phát thải quốc tế (ET).

Trong bối cảnh Nghị định thư Kyoto sẽ hết hạn vào năm 2024 và thực hiện nguyên tắc “trách nhiệm chung” của Công ước, tại Hội nghị lần thứ 21 các Bên tham gia Công ước năm 2024 tại Paris (COP21), tất cả 196 Bên đã đạt được sự đồng thuận cho một văn bản pháp lý toàn cầu về cam kết ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu của tất cả các quốc gia cho giai đoạn từ 2024 – 2030: “Thoả thuận Paris về biến đổi khí hậu”. Sau khi ký Thoả thuận Paris ngày 22 tháng 4 năm 2024, Chính phủ Việt Nam đã chính thức phê duyệt tại Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 31 tháng 10 năm 2024 và có hiệu lực kể từ ngày 03 tháng 12 năm 2024. Tham gia Thoả thuận Paris, Việt Nam cam kết thực hiện đồng thời hai giải pháp về thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu theo Báo cáo Đóng góp quốc gia tự thực hiện (NDC) của Việt Nam gửi Ban Thư ký UNFCCC năm 2024, trong đó về mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, Việt Nam đã cam kết tự thực hiện giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát thải thông thường (BAU) vào trong giai đoạn 2024 – 2030 và có thể đạt 25% khi nhận được thêm nguồn lực hỗ trợ đầy đủ từ cộng đồng tế.

Theo Báo cáo cập nhật định kỳ hai năm lần thứ nhất (BUR1) năm 2014 của Việt Nam đã kiểm kê tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2010 là 246,8 triệu tấn CO¬¬2 tương đương. Trong đó lĩnh vực năng lượng phát thải 141,1 triệu tấn CO¬2 tương đương 53%, dự báo đến năm 2024 sẽ tiếp tục tăng lên 381,1 triệu tấn, tương đương khoảng 81% và đến năm 2030 là 648,5 triệu tấn, tương đương khoảng 85% tổng lượng phát thải quốc gia. Phát thải trong lĩnh vực năng lượng ở đây bao gồm việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch và tiêu thụ năng lượng trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế.

Theo tính toán, với mức đóng góp chính phát thải khí nhà kính của lĩnh vực công nghiệp và năng lượng và theo dự kiến đóng góp vào mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính 8% của quốc gia thực hiện NDC, lĩnh vực năng lượng sẽ thực hiện 11 giải pháp chi phí thấp (8 giải pháp về sử dụng lượng hiệu quả và 3 giải pháp về sử dụng năng lượng tái tạo) để đạt được mức đóng góp giảm 4,4%/8% và sẵn sàng thực hiện 6 giải pháp chi phí cao (1 giải pháp về sử dụng năng lượng hiệu quả và 5 giải pháp về sử dụng năng lượng tái tạo) để đóng góp giảm thêm đạt 9,8%/25%. Như vậy có thể thấy trong 17 giải pháp giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam, có đến 8 giải pháp về sử dụng năng lượng hiệu quả là ưu tiên hàng đầu để tự thực hiện, các giải pháp về phát triển năng lượng tái tạo với chi phí cao vẫn cần sự hỗ trợ lớn từ cộng đồng quốc tế.

Để triển khai các mục tiêu về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong các hoạt động công nghiệp và năng lượng tại Việt Nam, Bộ Công Thương đã thành lập Ban Chỉ đạo về Ứng phó với biến đổi khí hậu và Tăng trưởng xanh do Bộ trưởng Trần Tuấn Anh làm Trưởng ban, Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng làm Phó trưởng ban, Thành viên có sự tham gia chủ chốt của 2 đơn vị là Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững – Là cơ quan trường trực của Ban Chỉ đạo và Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo. Đây là hai đơn vị chủ trì cho việc triển khai các chính sách, thực hiện các giải pháp về sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam.

Trên cơ sở Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, hệ thống các văn bản hướng dẫn, quy định như việc áp dụng dán nhãn tiết kiệm năng lượng cho các thiết bị tiêu thụ năng lượng, quy định về định mức tiêu hao năng lượng tối thiểu và lộ trình áp dụng cho một số ngành sử dụng năng lượng lớn,… về cơ bản đã được xây dựng hoàn chỉnh. Các hoạt động hỗ trợ như thông tin, tuyên truyền, đào tạo tập huấn cán bộ quản lý năng lượng hiệu quả,… đều được triển khai thường xuyên và đem lại nhiều kết quả cụ thể và thiết thực.

Triển khai Chiến lược phát triển năng lượng, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo và Quy hoạch phát triển điện lực đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030 của Việt Nam, thời gian qua Bộ Công Thương đã xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển các dạng năng lượng tái tạo như điện gió, điện từ mặt trời, điện từ sinh khối và điện từ chất thải rắn với các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi khá đầy đủ. Tuy nhiên, với bản chất về chi phí giá đầu tư cao và các mặt hạn chế về kỹ thuật của các dạng năng lượng này nên kết quả đạt được vẫn còn chưa tương xứng với tiềm năng.

Như vậy có thể khẳng định, Bộ Công Thương hiện đang là cơ quan được Chính phủ giao triển khai 2 giải pháp quan trọng nhất góp phần giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng và công nghiệp của Việt Nam, đó là sử dụng năng lượng hiệu quả và phát triển năng lượng tái tạo. Trong thời gian tới, các chính sách hỗ trợ thực thi hai giải pháp này sẽ được Bộ Công Thương tiếp tục quan tâm, chú trọng xây dựng và áp dụng nhằm thực hiện các cam kết của Quốc gia theo Thoả thuận Paris về biến đổi khí hậu.

Th.S Nguyễn Quang Huy Thư ký Văn phòng Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng xanh Bộ Công Thương

Việt Nam Hành Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu

BĐKH đang là thách thức nghiêm trọng nhất đối với quá trình phát triển bền vững của tất cả quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH do có bờ biển dài.

Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), nhiều loại hình thiên tai và thời tiết cực đoan diễn ra với quy mô và tần suất ngày càng lớn. Tại Hội nghị LHQ về BĐKH (COP 23) ở Born, Đức (11/2024), số liệu thống kê cho thấy trên toàn thế giới, từ 1996-2024, thiên tai do BĐKH làm chết 520.000 người, gây thiệt hại kinh tế 3.160 tỷ USD.

Việt Nam được dự đoán bị tác động nặng nề nếu khí hậu tăng lên 1oC và nước biển dâng cao 1m. Trong 45 năm (1956-2000) có 311 cơn bão và áp thấp ảnh hưởng đến Việt Nam. Mỗi năm chính phủ phải chi hàng nghìn tỷ đồng để khắc phục hậu quả thiên tai. Chỉ riêng năm 2007, thiên tai đã làm thiệt hại 11.600 tỷ đồng, hơn 400 người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.800 ha lúa, phá huỷ 1.300 công trình đập, cống thủy lợi. Đặc biệt, theo các kịch bản BĐKH của Việt Nam, đến cuối thế kỷ XXI, sẽ có 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương ven biển khác sẽ bị ngập nước. Khi đó sẽ có 10-12% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất 10% GDP. Đặc biệt, 20% diện tích TPHCM sẽ bị ngập.

BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường toàn thế giới.

Thay đổi toàn diện quá trình phát triển

BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế-xã hội trong tương lai. Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và an ninh như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế… trên phạm vi toàn cầu.

Từ năm 1980 đến nay, hoạt động của con người làm gia tăng phát thải khí nhà kính (KNK) dẫn đến nhiệt độ bề mặt trái đất tăng. Sự nóng lên toàn cầu làm tăng nhiệt độ không khí và đại dương, làm tan băng diện rộng, dẫn tới tăng mực nước biển toàn cầu. Trong 100 năm (1906-2005), nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng khoảng 0,74oC, tốc độ tăng nhiệt độ 50 năm gần đây gần gấp đôi 50 năm trước đó. Trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6oC. Các nhà khoa học dự báo nhiệt độ trái đất trong thế kỷ XXI còn có thể tăng từ 1,1 – 6,4oC.

Các nhà khoa học tại COP 21 (2024) cho rằng “tăng 2oC là ngưỡng nguy hiểm; tăng 3oC, các đại dương sẽ giãn nở, băng tan làm nước biển dâng 60cm, nhấn chìm nhiều khu vực ven biển, làm cho thời tiết khắc nghiệt hơn và thiên tai lũ lụt nhiều hơn…

Việt Nam nằm trong 10 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH 20 năm qua vì bão, lũ và sạt lở đất (chuồi), theo Chỉ số Rủi ro Khí hậu do tổ chức Germanwatch (Đức) công bố tháng 12/2024. Trong đó, ĐBSCL là 1 trong 3 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges (Bangladesh). Tác động của BĐKH đến Việt Nam rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xoá đói giảm nghèo, mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững. Theo Ủy ban liên chính phủ về BĐKH, khi nước biển dâng cao 1m, ước chừng 5,3% diện tích tự nhiên, 10,8% dân số, 10,2% GDP, 10,9% vùng đô thị, 7,2% diện tích nông nghiệp và 28,9% vùng đất thấp sẽ bị ảnh hưởng.

BĐKH tại Việt Nam còn đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp: Mực nước biển dâng làm tăng diện tích bị xâm nhập mặn, mất đất canh tác nông nghiệp, gia tăng xói lở bờ biển, ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông, đô thị, khu dân cư, phát triển kinh tế – xã hội, đời sống…; Nhiệt độ tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, làm tăng rủi ro an ninh lương thực. Nhiệt độ tăng, độ ẩm cao còn làm các loài vi khuẩn phát triển mạnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, chất lượng các công trình, chi phí bảo quản…; Gia tăng tính cực đoan của thời tiết, làm cho thiên tai nguy hiểm hơn: Hạn hán, thiếu nước ở nhiều nơi hơn. Đất hoang mạc hóa mở rộng, thậm chí bị sa mạc hóa. Nguy cơ mất an ninh về nước sẽ sớm hơn dự báo. Lũ lụt cũng nặng nề hơn…

Dưới tác động của BĐKH, chỉ trong 10 năm gần đây, các loại thiên tai như: bão, lũ, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn… đã gây thiệt hại đáng kể, làm chết và mất tích hơn 9.500 người, thiệt hại về tài sản ước tính 1,5% GDP/năm.

Chủ động ứng phó

Trong điều kiện chịu tác động của BĐKH, những đập thủy điện được xây dựng ngày một nhiều phía thượng nguồn sông Mekong đã mở đường cho xâm nhập mặn lấn sâu vào ĐBSCL trong mùa khô, khiến cuộc sống của gần 20 triệu cư dân sống nương nhờ nông nghiệp, đánh bắt cá đang bị đe dọa. Theo ước tính của CGIRA, Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế, đến năm 2030, cả vùng hạ lưu ĐBSCL sẽ bị bao phủ bởi khoảng 470 đập thủy điện lớn nhỏ. Vì vậy, TS. Naruepon Sukumasvin, Ban Thư ký Ủy hội sông Mekong Quốc tế cảnh báo: “Các dự án phát triển thủy điện làm ngưỡng đói nghèo gia tăng. Sản lượng đánh bắt cá ở hành lang sông Mekong sẽ giảm khoảng 1,57 tỉ USD”.

Nhận thức được các nguy cơ và thách thức của BĐKH, Việt Nam đã chủ động triển khai xây dựng và ban hành một cách hệ thống các chủ trương, chính sách nhằm ứng phó có hiệu quả với tác động của BĐKH. Ngày 3/6/2013 tại Hội nghị lần 7, BCH TƯ khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về “Chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Nghị quyết là cơ sở cho việc thống nhất nhận thức và hành động, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật, bố trí nguồn lực của Nhà nước về ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình phát triển mới để đạt được nền kinh tế xanh, phát triển bền vững ở nước ta trong tương lai.

Để triển khai đồng bộ, Chính phủ cũng ra Nghị quyết số 08/NQ-CP (23/1/2014) ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Đảng, nhằm mục tiêu đến 2024, về cơ bản chủ động được trong thích ứng với BĐKH, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải KNK; phải đạt được những chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững… hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thủ tướng cũng ký Quyết định ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững ngày 10/5/2024. Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với BĐKH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

Đặc biệt, nhận thức được nguy cơ, thách thức từ BĐKH, đòi hỏi một tầm nhìn, định hướng chiến lược với các giải pháp toàn diện, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực để ứng phó với BĐKH và phát triển bền vững ĐBSCL, ngày 17/11/2024, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. ĐBSCL là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng thủy sản, 70% trái cây; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% lượng cá xuất khẩu của cả nước. Theo dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu mực nước biển dâng thêm 1m, ĐBSCL sẽ ngập chìm từ 19-38%, riêng Bến Tre sẽ ngập tới 50,1% diện tích…

Căn cứ vào các chủ trương, chính sách ứng phó với BĐKH đã đề ra, thời gian qua, các cơ quan trung ương và địa phương đã hành động tích cực nhằm hiện thực hóa chủ trương, chính sách thành các giải pháp ứng phó với BĐKH như: Tuyên truyền, phổ biến, tạo sự chuyển biến về nhận thức, nâng cao ý thức ứng phó với BĐKH; Đổi mới, hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực thi chính sách, phát luật về ứng phó với BĐKH; Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, phát triển nguồn nhân lực về ứng phó với BĐKH; Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ trong ứng phó với BĐKH; Đẩy mạnh hợp tác, hội nhập quốc tế và mở rộng đối tác chiến lược về ứng phó với BĐKH như đẩy mạnh tham gia các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương, đa phương về BĐKH, chủ động xây dựng các thỏa thuận, hiệp định đa phương và song phương, tăng cường vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế về BĐKH cũng như chủ động hợp tác với các quốc gia phát triển về BĐKH như Hà Lan để xây dựng Kế hoạch châu thổ ĐBSCL…; Tăng cường huy động nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH như tăng đầu tư và chi thường xuyên từ ngân sách Nhà nước cho công tác ứng phó BĐKH, khai thác hiệu quả nguồn hỗ trợ phát triển chính thức…

Nói chung, để thích ứng với BĐKH, Việt Nam đã triển khai rất nhiều mô hình nhà đa năng tránh bão, lũ; kè, kênh thủy lợi kết hợp đường giao thông nông thôn; xử lý nước mặn thành nước ngọt; trồng rừng ngập mặn ven biển, trồng rừng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn, xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai… kết hợp giải pháp sinh kế cho người dân. Bên cạnh đó, tăng cường nâng cao nhận thức cho cộng đồng bằng các hoạt động bảo vệ môi trường; tuyên truyền kiến thức về BĐKH đến rộng rãi nhân dân, giúp họ hiểu đúng bản chất của BĐKH để thích nghi, chủ động điều chỉnh hành vi, tiến tới sống chung với BĐKH.

Nhiều bãi biển ở Đông Nam Á sẽ đóng cửa vì vấn đề môi trường

Dù phải đối mặt với nguy cơ giảm nguồn thu du lịch và hàng chục nghìn lao động mất việc, chính quyền Thái Lan và …

Nỗ lực và quyết tâm chống biến đổi khí hậu

Giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu tại vùng ĐBSCL không chỉ là của Việt Nam, còn là nỗ lực và quyết tâm chung …

Giờ Trái đất 2024 tại Việt Nam: Tiết kiệm 485 ngàn kWh điện

Tối 24/3, tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám (Hà Nội) đã diễn ra Lễ tắt đèn hưởng ứng Chiến dịch Giờ Trái đất 2024 …

Cần Có Giải Pháp Cấp Bách Để Bảo Vệ Môi Trường, Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu

Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh chóng đã tạo ra một sức ép lớn tới môi trường sống, đặc biệt ô nhiễm không khí, nguồn nước sinh hoạt… ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của cộng đồng. Theo các chuyên gia môi trường, nếu Việt Nam không có giải pháp cấp bách để hạn chế ô nhiễm và thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian tới thì hậu quả thật khó lường.

Ô nhiễm ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

Ô nhiễm môi trường không khí là vấn đề nóng của Việt Nam, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên nhân do quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh dẫn đến hệ quả là các nguồn ô nhiễm khí thải phát sinh từ hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, thi công xây dựng, cũng như từ sinh hoạt của nhân dân ngày càng lớn và phức tạp, độc hại. Ô nhiễm không khí đang từng ngày ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như làm cay mắt, đỏ mắt, ho, thở khò khè , giảm chức năng của phổi, dễ mắc các bệnh hen suyễn, viêm phế quản, thậm chí có thể bị ung thư… Ngoài ra, ô nhiễm không khí còn tác động tổng hợp tới biến đổi khí hậu, đó là sự gia tăng khí nhà kính, gây ra hiện tượng nóng lên của toàn cầu.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đinh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, số người bị các bệnh đường hô hấp (thường do ô nhiễm không khí gây ra) chiếm từ 3-4% tổng dân số. Số liệu thống kê thực tế cũng cho thấy tỷ lệ số người bị các bệnh hô hấp ở các địa phương có trình độ phát triển hơn, bị ô nhiễm không khí hơn như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hà Nội, Hải Phòng… cao hơn từ 4-5 lần so với các địa phương kém phát triển như Bắc Kạn, Điện Biên.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Đồng bằng sông Cửu Long lại được xem là vùng sẽ phải chịu tác động của biến đổi khí hậu nhiều nhất và những tác động này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến an ninh lương thực. Hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã được nhiều nhà khoa học xác nhận: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất trong khu vực Đông Nam Á cả về mặt sinh thái, hệ canh tác và cơ cấu xã hội.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, dưới tác động của biến đổi khí hậu, nếu mực nước biển dâng cao như dự báo năm 2030 thì khoảng 45% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long đối mặt với nguy cơ nhiễm mặn.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Thắng cho biết, dưới tác động của biến đổi khí hậu, năng suất lúa của vùng cũng được dự báo sẽ giảm 9%; tiểu vùng nước ngọt quanh năm đảo lộn, hệ thống sản xuất, sản lượng lương thực, vườn cây ăn trái, thủy sản nước ngọt bị tổn thất lớn.

Theo đánh giá của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, tháng 3 – 4/2009, nước mặn 10-40 phần nghìn đã xâm nhập sâu vào đồng bằng sông Cửu Long từ 50 – 60 km; tháng 5 xâm nhập sâu khoảng 70 km. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nào cũng bị khô hạn trầm trọng, diện tích nhiễm mặn có thể lên tới gấp 2. Do đó, các vùng trồng lúa sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, nhất là năng suất, sản lượng sẽ bị giảm do cây lúa dễ bị nhạy cảm với độ mặn trong đất và nước.

Nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng

Các chuyên gia môi trường cho rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiêm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng một phần cũng do con người. Đáng lưu ý nhất là việc giáo dục ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống chưa được quan tâm đúng mức, chưa được tổ chức thường xuyên. Mặc dù trên các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có những chương trình kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường của con người nhưng chúng quá ít ỏi, không đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và học hỏi của người dân.

Bên cạnh đó, vận động người dân thay đổi thói quen sinh hoạt và tham gia giao thông hiệu quả; bảo trì xe máy định kỳ theo đúng quy định nhằm tăng tính an toàn trong sử dụng, giảm khói độc thải ra môi trường; tăng cường sử dụng các phương tiện công cộng và các phương tiện ít phát sinh khí thải như xe buýt, xe đạp…

Về vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu, Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội cho biết, Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành và toàn xã hội đã rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua những chủ trương về trồng rừng, chương trình khắc phục ô nhiễm môi trường làng nghề… Đặc biệt, những chương trình lấn biển, ngăn mặn ở các tỉnh phía Nam, trồng cây chắn cát, chắn sóng ven biển miền Trung… cho thấy sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc thực hiện những chương trình này cũng như ý thức của nhân dân trước biến đổi của thiên nhiên đã được nâng lên rõ rệt, góp phần chống lại những diễn biến và tác động xấu, cực đoan của khí hậu, phòng chống giảm nhẹ thiên tai và những tác động xấu của thiên nhiên đối với hoạt động sản xuất của con người.

Cũng theo Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội, chủ trương của nước ta đến năm 2024 về cơ bản chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững…Đặc biệt là chủ động phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven biển, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung…/.

Nguồn: ĐCSVN, 02/04/2014, Bích Liên.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chủ Động Ứng Phó Với Biến Đổi Khí Hậu, Bảo Vệ Môi Trường trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!