Xu Hướng 2/2023 # Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến # Top 9 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Châu Phi trong vòng luẩn quẩn đói nghèo, tội phạm và nội chiến

Ở châu Phi, tình trạng chiến tranh, nghèo đói, thất học, rửa tiền, khủng bố kéo dài đều có nguyên nhân từ tội phạm ma túy, cướp biển và buôn người.

Bản đồ của Liên hợp quốc về dòng chảy cocaine qua Tây Phi.

cơ quan thực thi pháp luật cùng quân đội, làm suy yếu hệ thống pháp quyền; đồng thời mua sắm vũ khí, kéo dài các cuộc xung đột vũ trang, gây ra tội ác và làm cho các cuộc xung đột trở nên nguy hiểm hơn.

Những câu chuyện nhói lòng

Nigeria được xem là quốc gia có hiện tượng buôn bán người lớn nhất châu Phi. Vào cuối quý 1-2020, Cảnh sát Nigeria đã mở chiến dịch giải cứu được 13 người, trong đó có 1 trẻ em và 6 thai phụ khỏi cơ sở mang thai và sau đó bán trẻ sơ sinh để kiếm tiền hay còn gọi là “nhà máy sản xuất trẻ em”. 

Tại Nigeria, những “nhà máy sản xuất trẻ em” thường hoạt động trá hình dưới hình thức là các cơ sở y tế tư nhân. Nhiều trường hợp phụ nữ trẻ nếu chống cự sẽ bị cưỡng hiếp đến khi có thai và sau khi sinh, cả mẹ và con sẽ bị bán ra “chợ đen”. Một bé trai có giá bán thông thường là 500.000 naira (1.400USD), trong khi bé gái bị bán với giá 300.000 naira.

Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế, buôn người là một ngành công nghiệp toàn cầu trị giá 150 tỷ USD và 2/3 con số này được tạo ra từ việc bóc lột tình dục. Theo một điều tra của Tổ chức Di cư Quốc tế (IMO), ước tính 91% nạn nhân bị buôn bán từ Nigeria là phụ nữ và một nửa trong số họ bị bóc lột tình dục bởi những kẻ buôn người. Bang Edo ở phía Nam Nigeria là một trong những địa điểm lớn nhất của châu Phi đối mặt với tình trạng này.

Theo báo cáo năm 2019 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, nhiều phụ nữ bị buôn bán ở Nigeria phải đối mặt với đe dọa tính mạng, bị bỏ đói, hãm hiếp và tống tiền thậm chí còn bị ép quan hệ tình dục với khách hàng trong khi ốm hoặc đang mang thai. 

Trường hợp của Ebere (17 tuổi) sống tại thành phố Enugu, miền Đông Nam Nigeria là điển hình. Sau hai tháng mang thai, cô định phá thì các bác sĩ khuyên phá thai có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm. Một y tá đã tiếp cận với cô để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. 

Ebere chia sẻ câu chuyện của mình và được y tá kia giới thiệu với một nhân viên xã hội đã giúp đỡ nhiều phụ nữ mang thai trên Facebook. Sau đó Ebere được nhân viên này đưa về nhà chăm sóc cho đến khi sinh con, nhưng phải bán đứa bé cho hắn ta rồi hắn bán đứa bé cho một cặp vợ chồng khác. Hắn ta đưa trả Ebere 140 bảng Anh (khoảng 4,5 triệu đồng).

Theo điều tra của nhà chức trách Nigeria, những kẻ buôn người đóng giả làm nhân viên xã hội, giúp đỡ những phụ nữ mang thai cần được hỗ trợ sau đó bán con của họ. Những kẻ này thường tính phí 1.500USD một bé gái và 2.000 USD một bé trai. Tình trạng buôn bán trẻ em không phải là những câu chuyện hiếm có tại Nigeria. 

Theo một tính toán, mỗi ngày quốc gia này có ít nhất gần 10 trẻ em bị bán trên toàn quốc. Vào tháng 2, gần 20 trẻ em đã may mắn được lực lượng an ninh giải cứu khỏi những kẻ buôn người, hầu hết đều hoạt động ở miền Nam đất nước. Phần lớn nạn nhân bị buôn bán là con của những phụ nữ trẻ mang thai bị giam giữ cho đến khi sinh con.

Cướp biển vẫn nóng

Ở châu Phi, cướp biển đã trở thành ám ảnh với cả thế giới. Bọn tội phạm đã dựa vào cướp biển để xây dựng những đế chế riêng. Vùng biển ngoài khơi Tây Phi hiện bị coi là khu vực nguy hiểm nhất thế giới đối với các phương tiện hàng hải do nạn cướp biển hoành hành. Trong khi số vụ cướp biển có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu, vấn nạn này lại có chiều hướng gia tăng tại Tây Phi cả về quy mô lẫn mật độ.

Báo cáo thường niên về tình trạng cướp biển trên thế giới do Tổ chức One Earth Future (trụ sở tại Mỹ) công bố năm 2019 cho thấy, trong năm 2018, tại Tây Phi xảy ra 112 vụ cướp biển, tăng khoảng 10% so với năm 2017 và 50% so với năm 2015. Trong khi đó, trong giai đoạn 2015-2018, số vụ cướp biển tại châu Á đã giảm 50%, xuống còn khoảng 90 vụ và riêng khu vực Đông Á giảm 20%, xuống còn khoảng 10 vụ.

Tổ chức One Earth Future cho biết, các nhóm cướp biển ở khu vực Tây Phi giờ đây không chỉ tập trung tấn công các mục tiêu truyền thống như tàu chở dầu và tàu container cỡ lớn, mà còn nhắm vào các đội tàu buôn cỡ nhỏ hơn và thậm chí là tàu đánh cá di chuyển qua vùng biển này, đặc biệt tại hải phận ngoài khơi vịnh Guinea.

Cũng giống như nạn cướp biển ngoài khơi Somalia, những vụ tấn công ở ngoài khơi vịnh Guinea, kéo dài từ Bờ Biển Ngà đến Nigeria và xuôi xuống Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC) rộ lên do những mối lợi kinh tế hấp dẫn các băng nhóm tội phạm có tổ chức và cũng do sự yếu kém của chính quyền trong việc trấn áp tội phạm khu trú ở vùng bờ biển. Các nhóm vũ trang trong vùng châu thổ Niger từ lâu đã tiến hành nhiều cuộc tấn công vào những đường ống dẫn dầu trên đất liền để cướp dầu thô.

Vịnh Guinea được đánh giá là nằm ở một trong những khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Châu Phi hiện chiếm 10% trữ lượng dầu toàn cầu và còn nhiều mỏ dầu chưa được phát hiện. 

Nạn cướp biển không chỉ đe dọa riêng ngành vận tải biển mà còn tác động xấu đến kinh tế thế giới. Tổn thất do cướp biển gây ra ở vùng vịnh Guinea, gồm giá trị hàng hóa bị cướp, phí bảo hiểm cũng như chi phí cho an ninh, ước tính đã lên đến 2 tỉ USD/ năm.

Theo các chuyên gia, nguyên nhân gia tăng nạn cướp biển tại khu vực này bắt nguồn từ sự thiếu lực lượng thực thi pháp luật, tình trạng nghèo đói và bất ổn chính trị của các quốc gia ven biển. 

Thậm chí, các nước vùng vịnh Guinea còn thiếu cả những công cụ cơ bản nhất để đối đầu với hoạt động tội phạm ngoài khơi, như thiết bị radar và tàu tuần tra. Các nước Tây Phi đang cố gắng để tăng cường lực lượng bảo vệ bờ biển với sự trợ giúp của nhiều quốc gia.

Một vụ vận chuyển ma túy bị bắt ở Ấn Độ Dương.

Nơi ma túy quá cảnh

Theo Báo cáo về ma túy thế giới của Liên hợp quốc trong những năm gần đây cho thấy, 2/3 lượng cocaine buôn lậu giữa Nam Mỹ và châu Âu đi qua Tây Phi. Cụ thể là từ Benin, Cape Verde, Ghana, Guinea-Bissau, Mali, Nigeria và Togo. Kenya, Nigeria và Tanzania là những quốc gia có lưu lượng thuốc phiện cao nhất đi từ Pakistan và Afghanistan đến các điểm ở các nước phương Tây.

Theo điều tra của các chuyên gia Liên hợp quốc, các tổ chức khủng bố trên lục địa đen đã tận dụng cơ hội kiểm soát các tuyến đường buôn bán ma túy để tăng thu nhập, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của chúng. 

Cũng theo phân tích của các chuyên gia liên hợp quốc, các tuyến đường vận chuyển ma túy qua Tây Phi rất khác nhau. Một số đi qua Algeria, Mali, Mauritania và Maroc, sau đó đi đến miền Nam châu Âu. Những người khác vượt Đại Tây Dương đến Hoa Kỳ. 

Trong nhiều trường hợp, Guinea-Bissau là điểm trung chuyển chính. Dựa trên mối quan hệ với các nhà lãnh đạo chính trị và an ninh cấp cao, các băng đảng ma túy Nam Mỹ đã sử dụng Guinea-Bissau làm trung tâm trong nhiều năm để buôn lậu một lượng lớn cocaine sang châu Âu.

Trong những tuyến đường ma túy, đáng chú ý là tuyến đường trải dài từ Afghanistan và Pakistan qua Iran, qua Ấn Độ Dương đến Đông Phi để đến các thị trường tiêu dùng ở châu Âu và Bắc Mỹ. Ngoài ra có một số chuyến hàng đi xa về phía Nam từ Mozambique và Nam Phi đến các trung tâm trung chuyển ở Đông Phi. 

Tuyến đường quanh co này tận dụng cơ sở hạ tầng và thông tin liên lạc tốt của miền Nam châu Phi để giúp các mạng lưới buôn bán ma túy tránh bị phát hiện. Điều này cho phép họ tiếp cận hệ thống phân phối thông qua Đông Phi. 

Vào năm 2014, hải quân đa quốc gia tuần tra Vịnh Aden và Ấn Độ Dương đã bắt giữ một tấn heroin từ một cuộc biểu tình ở vùng biển Kenya. Số lượng vận chuyển đơn lẻ đó gần bằng với tất cả số lượng heroin mà 11 chính phủ Đông Phi bắt giữ từ năm 1990 đến 2009.

Cocaine đến từ châu Mỹ Latinh thường dừng lại ở Nam Phi trước khi vận chuyển đến châu Âu và Đông Á. Vào tháng 6-2017, cảnh sát Nam Phi đã thu giữ lượng cocaine trị giá 500 triệu rand (tương đương 36 triệu USD) và 104 triệu rand heroin (7,7 triệu USD) trong các cuộc đột kích riêng biệt ở tỉnh Western Cape. Vào năm 2016, một số kẻ buôn người ở tỉnh này đã bị bắt trong các cuộc truy quét các chuyến hàng heroin đến từ Mozambique.

Năm 2009, trước những thách thức về các loại tội phạm trong đó đầu bảng là ma túy, buôn người và cướp biển, các nhà lãnh đạo Tây Phi đã triển khai sáng kiến “Bờ biển Tây Phi” (WACI), gồm 4 quốc gia là Cote dIvoire, Guinea, Guinea-Bissau, Liberia và Sierra Leone cũng phối hợp với Văn phòng Liên hợp quốc về Tây Phi, các bộ phận chính trị của Liên hợp quốc, lực lượng gìn giữ hòa bình và Interpol. 

Nhờ những nỗ lực lớn của WACI, nhiều loại tội phạm đã giảm dần. Đây chính là bài học để các quốc gia châu Phi thoát khỏi vòng luẩn quẩn “đói nghèo, tội phạm và nội chiến”.

(Theo Cảnh sát toàn cầu)

Châu Phi Vẫn Cần Tăng Trưởng Hơn Nữa Để Xóa Đói Giảm Nghèo

Đó là nhận định trong Báo cáo Xu hướng và Triển vọng thường niên giai đoạn 2017-2018 (ATOR), được công bố trong khuôn khổ hội nghị xuyên lục địa tổ chức tại trụ sở chính của Liên minh châu Phi (AU) gần đây ở thủ đô Addis Ababa, Ethiopia.

Báo cáo này cũng cho rằng mặc dù tỷ lệ nghèo đã giảm ở châu Phi, nhưng số lượng người sống trong cảnh khó khăn và dễ bị tổn thương còn cao, đồng thời nhấn mạnh rằng, trước sự thiếu hụt của những công việc mang lại kế sinh nhai trong những năm qua, các nền kinh tế châu Phi cần duy trì đà tăng trưởng liên tục để giảm thiểu sự dễ bị tổn thương của phần lớn người dân châu lục.

Người dân Somalia xếp hàng nhận lương thực cứu trợ. (Nguồn: AFP

Báo cáo cũng tiết lộ các quốc gia châu Phi có thể chứng kiến nhu cầu gia tăng về bảo trợ xã hội trong tương lai gần, từ đó tạo ra áp lực ngày càng lớn đối với chính phủ trong việc phải đáp ứng sự gắn kết và ổn định xã hội.

Bên cạnh đó, việc triển khai các chương trình bảo trợ xã hội ở châu Phi là rất cần thiết. Theo nhận định được đưa ra, tăng trưởng đơn lẻ là không đủ để giúp cả châu lục đạt mục tiêu xóa đói giảm nghèo đầy tham vọng, bao gồm Chương trình nghị sự 50 năm đến năm 2063.

Eyasu Abraha, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Chăn nuôi Ethiopia, cũng cho rằng việc giải quyết các nhu cầu của người dân thông qua các chương trình bảo vệ xã hội – chẳng hạn như: Chương trình An toàn Sản phẩm của Ethiopia (PSNP), là cần thiết. PSNP là một trong những chính sách quan trọng nhất của Chính phủ Ethiopia nhằm kích thích quá trình xóa đói giảm nghèo và hạn chế tình trạng mất an ninh lương thực một cách nhanh chóng, đi kèm tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng”, Thứ trưởng Abraha nói.

“Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng khi được thiết kế và thực hiện một cách chính xác dựa trên nền tảng đánh giá liên tục, các chương trình bảo trợ xã hội có thể mang lại lợi ích đáng kể cho xã hội châu Phi”, ông Abraha nói thêm.

Josefa Sacko, Ủy viên AU, cho biết: “Khi châu Phi bắt tay vào việc thực hiện cam kết Tuyên bố Malabo và Chương trình nghị sự đến năm 2063, chúng tôi tin rằng báo cáo này sẽ có đóng góp to lớn trong việc hướng tới nhấn mạnh vai trò quan trọng của các chương trình bảo trợ xã hội quốc gia”.

Kỳ cuối: Trung Quốc “cùng thắng” với các nước châu Phi?

Con đường phía trước – Trung Quốc (TQ) sẽ là người bạn “cùng thắng” với các nước châu Phi hay cũng chỉ như những kẻ …

Kỳ I: Trung Quốc thắng thế trong cuộc đua tại châu Phi

Đô đốc Trịnh Hòa có đến châu Phi trước những người Bồ Đào Nha hay không có thể còn là điều gây tranh cãi, nhưng …

Mozambique là đối tác ưu tiên hợp tác của Việt Nam tại châu Phi

Sáng 28/9, tại Phủ Chủ tịch, Quyền Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã tiếp nguyên Tổng thống Cộng hòa Mozambique Armando Emilio Guebuza …

Tội Phạm “Rõ” Và Tội Phạm “Ẩn”

Trong thực tế, bên cạnh những tội phạm đã xảy ra được thể hiện trong thống kê tội phạm, thì còn những tội phạm đã xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm.

Thế nào là tội phạm rõ ? Thế nào là tội phạm ẩn ? Mối quan hệ giữa hai tội phạm này như thế nào?

1. Khái niệm

Tội phạm “rõ” là tội phạm đã được xử lí về hình sự, đã được đưa vào thống kê tội phạm .Tội phạm đã được xử lí về hình sự bao gồm: Tội phạm đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật (kể cả trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt) và các trường hợp đã được xác định là tội phạm nhưng đã bị đình chỉ mà không được xét xử vì lí do khác nhau như đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chủ thể thực hiện đã chết v.v.. Tội phạm đã được xử lí về hình sự như vậy được coi là tội phạm “hiện” hay tội phạm “rõ” khi đã được phản ánh trong thống kê tội phạm. Tình hình tội phạm dựa trên thống kê này mới chỉ là tình hình tội phạm “rõ”.

Bên cạnh đó còn có tội phạm tuy đã xảy ra nhưng không được thể hiện trong thống kê tội phạm. Các tội phạm đã xảy ra mà không được thể hiện trong thống kê tội phạm như vậy được gọi là tội phạm “ẩn”.

2. Mối quan hệ giữa tội phạm “rõ” và tội phạm “ẩn”

Tội phạm “rõ” và tội phạm “ẩn” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết, tội phạm “rõ” và tội phạm “ẩn” là hai phần của tội phạm đã xảy ra, có quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Phần “rõ” càng lớn thì phần “ẩn” càng nhỏ và ngược lại. Phần “rõ” là phần mà có thể được khẳng định một cách chắc chắn vì dựa trên các con số thống kê cụ thể. Trong khi đó, phần “ẩn” là phần mà không thể có được sự khẳng định chắc chắn vì chỉ dựa trên sự suy đoán. Trong đó, phần “rõ” là một trong các cơ sở của sự suy đoán này.

Tội phạm nói chung cũng như nhóm tội phạm hay tội cụ thể đều có phần “ẩn”. Mức độ “ẩn” ở những đơn vị thời gian, không gian khác nhau cũng như ở những nhóm tội hoặc tội khác nhau đều có thể có sự khác nhau.

Ví dụ: Tội giết người (Điều 123 BLHS năm 2015) được coi là một trong những tội có độ “ẩn” thấp; trái lại, tội nhận hối lộ (Điều 354 BLHS năm 2015) được coi là các tội có độ ẩn cao. Lí do của sự khác nhau về độ “ẩn” cũng rất khác nhau nhưng trong đó có thể có lí do từ chính đặc điểm riêng biệt của tội phạm.

Tội phạm “rõ” so với tội phạm thực tế có thể đạt các tỉ lệ khác nhau ở các phạm vi tội danh, phạm vi không gian và phạm vi thời gian khác nhau nhưng luôn có ý nghĩa đặc biệt, vì vừa phản ánh thực trạng đấu tranh chống tội phạm của Nhà nước và xã hội vừa là cơ sở cần thiết để nghiên cứu phần còn lại của tội phạm – Phần “ẩn” hay tội phạm “ẩn”.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Một Số Vấn Đề Về Tội Phạm Ẩn Trong Tội Phạm Học Và Trên Thực Tế

88655

Thuật ngữ “dark figure of crime” do nhà thiên văn học người Bỉ Adolpho Quetelet đưa ra đầu tiên năm 1830. Hiện nay, phần ẩn của tội phạm được đề cập dưới các thuật ngữ “phần ẩn của tội phạm”, “phần ẩn của tình hình tội phạm”, ” tình hình tội phạm ẩn” hoặc “tội phạm ẩn”[1]. Tội phạm ẩn là một khái niệm có đời sống thực tế, bên cạnh khái niệm tội phạm rõ, nó là hai bộ phận hợp thành của tình hình tội phạm. Trên cơ sở nghiên cứu hai nội dung đó, chúng ta mới có thể có cơ sở khoa học đầy đủ để đưa ra dự báo tình hình tội phạm, bởi lẽ “…dự báo tình hình tội phạm không chỉ là hướng nghiên cứu của tội phạm học mà còn là nhu cầu cấp bách của thực tế đấu tranh phòng và chống tội phạm”[2]. Còn theo V.M. Cogan “Xu hướng ẩn là đặc tính của tình trạng tội phạm nói chung cũng như mong muốn che giấu việc thực hiện tội phạm là đặc trưng của từng tội phạm riêng biệt”[3]. Như vậy, nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dựa vào số liệu thống kê tội phạm rõ mà còn phải dựa vào tội phạm ẩn, có như vậy thì công tác phòng ngừa tội phạm mới đầy đủ và toàn diện.

Thực tế nghiên cứu đã cho thấy phần ẩn của tội phạm chiếm tỷ lệ rất lớn, lớn hơn nhiều so với phần hiện của tội phạm.

Theo số liệu thống kê của Bộ Công an, từ năm 1990 đến 1999 tỷ lệ phá án ở nước ta đạt 41,08% [4]. Tỷ lệ phá án ở đây chính là sự phản ánh thực tế: Những hành vi có dấu hiệu phạm tội đã được kết thúc điều tra, tức là hành vi đó đã được khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đã được tiến hành điều tra theo quy định và có một trong các kết luận sau: Tạm đình chỉ điều tra vì bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác; tạm đình chỉ điều tra vì không biết rõ bị can đang ở đâu; đình chỉ điều tra; có kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố. Còn trường hợp vụ án không xác định được bị can thì không được xem là đã phá được án. Quan điểm về tỷ lệ phá án của nước ta cũng phù hợp với quan điểm của các nhà tội phạm học Đức: “Một hành vi có dấu hiệu phạm tội chỉ được xem là đã được “khám phá” (aufgeklaert), khi cơ quan cảnh sát đã tiến hành điều tra mà kết quả là bắt quả tang nghi can hoặc chí ít cũng xác định rõ được tên của nghi can”[5].

Tỷ lệ tội phạm ẩn ở các nước cũng rất khác nhau về tình hình tội phạm nói chung và tội phạm cụ thể nói riêng, như: ở Đức năm 1993 tỷ lệ phá án đạt 43,8%, tỷ lệ này ở tội giết người là 82%, ở tội trộm cắp nghiêm trọng là 11,9%[6]; ở Anh năm 2000 tỷ lệ tội phạm ẩn chiếm 70% tổng số vụ phạm tội[7]; theo Tymothy Mason thì số lượng tội phạm ẩn lớn hơn từ 6 đến 8 lần tội phạm rõ[8]. Như vậy, tội phạm ẩn chiếm tỷ lệ rất lớn, nó không xuất hiện trên phông của tình hình tội phạm, ở các công trình nghiên cứu về tội phạm học cũng có đề cập nhưng chỉ dưới dạng nêu hiện tượng mang tính chất chung chung, khẩu hiệu mà chưa đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện tượng này.

Hiện nay, khái niệm về tội phạm ẩn đang được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Theo Timothy Mason, ” tội phạm ẩn là tội phạm có thực nhưng không được tường thuật với cảnh sát”[9]; Frank Schmalleger cho rằng, “tội phạm ẩn là thuật ngữ được đưa ra bởi các nhà tội phạm học và xã hội học mô tả số lượng tội phạm không được tường thuật hoặc không bị phát hiện và nó trả lời cho câu hỏi về độ tin cậy của thống kê tội phạm chính thức”[10]. Theo chúng tôi Phạm Văn Tỉnh, “phần ẩn của tình hình tội phạm là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của hành vi đó) đã xảy ra trên thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự “[11]. Còn chúng tôi Nguyễn Xuân Yêm cho rằng, “tội phạm ẩn là khái niệm chỉ một phần trong tổng thể các tội phạm đã xảy ra trong một khoảng thời gian và trên một địa bàn nhất định mà chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật ( Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan khác của Công an có chức năng tiếp nhận tin tố giác và phát hiện tội phạm) phát hiện về sự kiện nói chung hoặc chưa nhận biết được sự kiện, hành vi đã phát hiện là tội phạm”[12].

Tổng hợp các quan điểm nêu trên, kết hợp với thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi đưa ra khái niệm về tội phạm ẩn như sau: Tội phạm ẩn là số lượng hành vi phạm tội đã xảy ra nhưng không được phát hiện, không được tường thuật, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự.

2. Nguyên nhân dẫn tới việc ẩn của tội phạm

a) Nguyên nhân khách quan dẫn tới việc ẩn của tội phạm

Đây là một nguyên nhân nằm hoàn toàn ngoài ý muốn của cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự cũng như bản thân người bị hại. Họ không có bất kỳ một thông tin nào về hành vi phạm tội, mặc dù hành vi phạm tội đã xảy ra trên thực tế. Có các trường hợp sau:

– Tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng ngay cả người bị hại cũng không biết. Do vậy, việc phạm tội đương nhiên không được tường thuật hoặc không bị phát hiện. Một gia đình của một người giàu có, tiền họ để trong tủ, người giúp việc biết và đã rút của họ 20.000.000 đ, nhưng vì số tiền đã mất quá ít so với số tiền họ có nên họ đã không hề phát hiện ra số tiền đã bị mất. Trong trường hợp này, không có bất cứ nhân chứng nào biết, bản thân người mất tiền cũng không biết mình đã bị lấy cắp. Vụ án đã hoàn toàn không được tường thuật hoặc không bị phát hiện xử lý. Ví dụ 2: Khi một người bị tai nạn giao thông trên một con đường vắng, có một người phát hiện. Nhưng khi thấy nạn nhận đã bất tỉnh, nạn nhân lại có nhiều tiền, anh ta đã nảy sinh lòng tham, lấy hết tiền rồi bỏ đi. Nạn nhân không được cứu kịp thời nên đến khi có người thứ hai phát hiện ra thì nạn nhân đã chết. Vì không có người chứng kiến, nên hành vi phạm tội hoàn toàn không được tường thuật hoặc không bị phát hiện xử lý.

– Tội phạm thực tế đã xảy ra, người bị hại biết nhưng họ không còn cơ hội để tố giác tội phạm, vụ án cũng không có bất cứ một nhân chứng nào cũng như tình tiết quan trọng nào đề Cơ quan điều tra điều tra vụ án. Ví dụ: Một thanh niên vào Tây Nguyên làm kinh tế mới, có mang theo vốn liếng làm ăn. Trên đường đi tìm việc, anh ta đã bị giết và bị giấu xác trong rừng. Không có bất kỳ ai chứng kiến vụ việc, việc mất tích của anh ta cũng không có bất kỳ một manh mối nào để điều tra, người bị hại thì không còn cơ hội để tố giác tội phạm. Trong trường hợp này, chỉ có thể xem xét để giải quyết tuyên bố anh ta mất tích hoặc đã chết để giải quyết các vấn đề dân sự. Hành vi phạm tội hoàn toàn không được tường thuật hoặc không bị phát hiện xử lý.

b) Nguyên nhân chủ quan dẫn tới việc ẩn của tội phạm

Theo quy định của pháp luật hình sự, việc phát hiện tội phạm có thể được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: Tố giác và tin báo về tội phạm, như tố giác của công dân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc các tổ chức xã hội; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; Trực tiếp phát hiện tội phạm của các cơ quan chức năng; Người phạm tội tự thú.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các nguồn thông tin về tội phạm nói trên đã không được thực hiện. Nguyên nhân chủ quan dẫn đến việc ẩn của tội phạm có nhiều nhưng có thể chia ra thành 5 nhóm sau:

Nguyên nhân từ phía nạn nhân của tội phạm: Tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng vì những lý do khác nhau như: Không tố giác (tỷ lệ không tố giác tội phạm trên thế giới trung bình là 49,9%, trong đó một số nước có tỷ lệ tố giác tội phạm cao là Scottlen 62,3%, Pháp 60,8%, Newzealana 59,7%.[13] Ở Việt Nam tỷ lệ này là 29%[14]); Sợ dư luận (tội phạm về tình dục); Sợ trả thù (chủ thể của tội phạm hoạt động có tính chất xã hội đen); Có sự thỏa thuận giữa người bị hại và gia đình họ với tội phạm.

Nguyên nhân từ phía người phạm tội: Đe dọa người bị hại, người làm chứng khiến họ không tố giác tội phạm; Thỏa thuận với người bị hại, người làm chứng để họ không tố giác tội phạm; Dùng thủ đoạn tinh vi để che giấu hành vi phạm tội, không tự thú hành vi phạm tội. Hối lộ cơ quan có thẩm quyền để thoát tội.

Nguyên nhân từ phía người làm chứng: Người biết về sự việc phạm tội nhưng không dám tố cáo vì sợ bị trả thù hoặc do quen thân thiết với người phạm tội nên họ không tố giác, cũng có thể do họ thỏa thuận với người phạm tội để nhận một lợi ích vật chất nào đó nên họ cũng không tố giác tội phạm.

Nguyên nhân từ các cơ quan tiến hành tố tụng: Có hành vi nhận hối lộ để không xử lý hình sự đối với người phạm tội hoặc do nể nang, bao che không xử lý tội phạm…

Nguyên nhân do công tác thống kê: Do một số lý do khác nhau như kỹ thuật xây dựng các cấu thành tội phạm trong Bộ luật Hình sự (BLHS) như trường hợp tội ghép, ví dụ Điều 194 – Tội tàng trữ, mua bán, vận chuyễn trái phép chất ma túy, rất nhiều trường hợp một người thực hiện đầy đủ cả ba hành vi khách quan được mô tả tại Điều 194, nhưng họ cũng chỉ được coi là phạm một tội danh được quy định tại Điều 194 BLHS. Trong khi đó, các hướng dẫn lập bảng thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng hướng dẫn với một tội danh quy định tại Điều 194, chứ không đề cập đến các hành vi cụ thể khác, việc đó dẫn đến hiện tượng một số hành vi phạm tội thực tế, thậm chí đã được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật nhưng cũng không được thể hiện thông qua tình hình tội phạm.

3. Phân loại tội phạm ẩn

Việc phân loại tội phạm ẩn có một ý nghĩa to lớn trong việc xác định nguyên nhân ẩn của tội phạm một cách khoa học, hệ thống. Việc này sẽ giúp cho bức tranh về tình hình tội phạm được đầy đủ và toàn diện hơn. Nghiên cứu tội phạm ẩn mục đích chính và chủ yếu là làm cho nó hiện nên một cách rõ nét, thông qua đó sẽ giúp cho công tác dự báo có hiệu quả và chính xác nhất. Một khi công tác dự báo đầy đủ, khách quan và toàn diện thì công tác phòng ngừa tội phạm mới đạt hiệu quả tốt nhất. Tuy nhiên, hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại tội phạm ẩn.

a) Tội phạm ẩn gồm hai loại:

– Tội phạm ẩn khách quan là tất cả các tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự không có thông tin về chúng.

– Tội phạm ẩn chủ quan là trường hợp tội phạm đã xảy ra trên thực tế, các cơ quan điều tra đã nhận được thông tin về vụ việc nhưng do các nguyên nhân khác nhau mà hành vi phạm tội không được xem xét xử lý.

Ngoài Tội phạm ẩn khách quan và Tội phạm ẩn chủ quan như trên, còn có Tộiphạm ẩn thống kê:Là loại tội phạm ẩn tồn tại trong phạm vi công tác thống kê tội phạm nhưng không phải nằm ở chủ thể tiến hành công việc thống kê, không phải ở phương tiện kỹ thuật, công nghệ áp dụng cho công tác thống kê lạc hậu hay hiện đại, mà nằm ở các quy định có tính chất pháp lý đối với công tác thống kê tội phạm.

Về cơ bản thì hai quan điểm đều thống nhất hai thuộc tính của tội phạm ẩn là tội phạm ẩn khách quan và tội phạm ẩn chủ quan. Hiện nay, “tội phạm ẩn khách quan” và “tội phạm ẩn chủ quan” còn có tác giả gọi là ” tội phạm ẩn tự nhiên” và ” tội phạm ẩn nhân tạo“[15]. Riêng loại “tội phạm ẩn thống kê” còn có nhiều ý kiến khác nhau. Có tác giả cho rằng, tội phạm ẩn thống kê thực chất vẫn là tội phạm rõ vì khi đưa ra xét xử rồi thì đương nhiên vẫn là tội phạm rõ, còn việc thống kê chính thức của tòa án là do nhiều nguyên nhân khác nhau[16]; có tác giả cho rằng, việc nghiên cứu “tội phạm ẩn thống kê” có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tình hình tội phạm nói chung, nhưng nếu đưa nó vào phạm trù “tội phạm ẩn” là không phù hợp với những tiêu chí đánh giá về tình hình tội phạm ẩn, như “thời gian ẩn”, “lý do ẩn” và “độ ẩn”[17]; có tác giả cho rằng,quan điểm “tội phạm ẩn thống kê” là tội phạm ẩn là phiến diện, với lập luận: số lượng tội phạm này chỉ “ẩn” đối với các số liệu tổng hợp về tình hình tội phạm mà thôi,còn thực tế số lượng tội phạm này đã bị phát hiện, đã bị xử lý bằng các chế tài hình sự[18].

Theo chúng tôi, ” tội phạm ẩn thống kê” là loại tội phạm ẩn có đời sống thực tế, việc nghiên cứu nó có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ở đây, việc “ẩn thống kê” không được hiểu là những sai sót thống kê, do sự cẩu thả của cán bộ thực hiện hoặc do công nghệ áp dụng thống kê lạc hậu, mà nó nằm ngay trong thuộc tính pháp lý, như kỹ thuật xây dựng các cấu thành tội phạm ở BLHS (trường hợp tội phạm ghép đã được đề cập ở trên), hoặc do hướng dẫn lập biểu bảng thống kê của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Chúng tôi xin trích một phần mẫu 1A do Tòa án nhân dân tối cao ban hành để Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện sử dụng trong việc lập báo cáo thống kê.

Qua mẫu bảng thống kê này, chúng ta thấy các cột tội phạm, điều luật áp dụng, vụ và cột bị cáo. Cột tội phạm có rất nhiều tội ghép nhưng cột Điều luật chỉ ghi Điều luật cụ thể áp dụng, như Điều 194, điều luật này có ba hành vi mô tả hành vi khách quan, cho nên nếu một bị cáo thực hiện đồng thời cả ba hành vi trên thực tế thì nhìn qua bảng số liệu thống kê này chúng ta sẽ không thể thấy được điều đó. Việc này đã làm ” ẩn” đi đáng kể số hành vi phạm tội đã thực hiện, điều đó kéo theo việc đánh giá tình hình tội phạm sẽ không được đầy đủ, chính xác và khoa học, từ đó dẫn đến công tác dự báo tội phạm và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm sẽ không đáp ứng được yêu cầu. Tương tự như vậy, cột vụ và cột bị cáo cũng thế. Thực tế cho chúng ta thấy, có rất nhiều trường hợp mà trong một vụ án lại có nhiều hành vi phạm tội khác nhau (giết người, cướp tài sản, hiếp dâm) nhưng nếu chúng ta nhìn vào bảng 1A thì chúng ta sẽ không thấy được điều này. Qua phân tích số liệu thực tế luôn có một kết quả như sau:

Vì vậy, việc đưa ” tội phạm ẩn thống kê ” là tội phạm ẩn là phù hợp.

4. Phương pháp xác định tội phạm ẩn

Hiện nay, các nhà tội phạm học trên thế giới đưa ra hai phương pháp để xác định tội phạm ẩn sau.

a) Phương pháp điều tra về tội phạm tự tường thuật (offender self – report surveys)

Ở các nước Anh, Mỹ, Australia, điều tra tội phạm tự tường thuật được tiến hành hàng năm. Đây là phương pháp cần bảo đảm an toàn, đồng thời phải cam kết bảo vệ bí mật danh tính của người tham gia tự tường thuật về tội phạm mà họ đã thực hiện, họ không phải lo lắng về những điều mà mình đã khai ra với cơ quan điều tra cũng như sợ hãi về việc họ sẽ bị bắt giữ và bị xử lý về hình sự do đã thực hiện tội phạm. Đối tượng các nhà điều tra hướng tới thường là những người trẻ tuổi, bởi họ là nhóm có nguy cơ phạm tội cao. Kết quả của phương pháp này cho thấy, tội phạm xảy ra trên thực tế cao hơn rất nhiều số tội phạm có trong thống kê chính thức.

Phương pháp này có một số hạn chế là phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với giới trẻ, còn một số lượng lớn các đối tương khác chưa được đánh giá nghiên cứu.

b) Phương pháp điều tra về nạn nhân của tội phạm (the victimization survery)

Đối với phương pháp này, nhà điều tra phải cam kết giữ bí mật danh tính cho nạn nhân, để đảm bảo chắc chắn rằng họ sẽ được an toàn. Đây là các đối tượng đặc biệt, họ bị tổn thất về sức khỏe, tinh thần và vật chất do hành vi phạm tội gây ra. Khác với phương pháp điều tra về tội phạm tự tường thuật, điều tra về nạn nhân của tội phạm cũng có cách thức điều tra khác biệt, ví dụ như bảng biểu điều tra, câu hỏi điều tra cũng phải có tính chất khác biệt. Ở các nước Anh, Mỹ, Australia, điều tra về nạn nhân được tiến hành hàng năm và nó đã giúp cho các nhà tội phạm học có đánh giá chính xác hơn về tội phạm ẩn. Qua đó bức tranh về tình hình tội phạm sẽ đầy đủ hơn và giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm đạt được kết quả tốt hơn.

5. Một số kiến nghị nhằm làm rõ tính “ẩn” của tội phạm ẩn

Chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị cơ bản, có tính khả thi cao trong việc làm rõ tội phạm ẩn:

Thứ nhất, sửa đổi BLHS hoặc các văn bản hướng dẫn. Cần quy định rõ các hành vi khách quan cụ thể trong BLHS. Đối với các hành vi khách quan này cần được mô tả đầy đủ, cụ thể, tránh tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau hoặc vì một số mục đích khác mà những người có thẩm quyền áp dụng tùy tiện nên không phản ánh đúng hành vi phạm tội đã xảy ra trên thực tế. Ví dụ “Tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý” quy định tại Điều 194 BLHS, đây là dạng tội ghép. Thực tế rất khó tách bạch hành vi trong quy định này. Để tách bạch các hành vi trong tội danh này, người ta phải phân tích mặt chủ quan của tội phạm, cụ thể là yếu tố “động cơ”, “mục đích” là yếu tố lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm mà chủ thể thực hiện hành vi phạm tội đã thực hiện để xác định xem là hành vi “vận chuyển”, “mua bán” hay “tàng trữ”. Như vậy, vô hình chung các biểu hiện về mặt khách quan đã có phần bị “ẩn”, bởi các mục đích khác nhau mà người thực hiện hành vi có thể khai sao cho có lợi cho mình hoặc vì lý do nể nang, nhận hối lộ mà những người có thẩm quyền ” lách luật” để vụ lợi. Như vậy, cần phải hạn chế tối đa những điều luật có sử dụng dấu hiệu “động cơ”, “mục đích” thuộc yếu tố lỗi thuộc mặt chủ quan của tội phạm của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội làm căn cứ xác định tội danh đối với hành vi của chủ thể. Theo Thông tư liên tịch của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy ” của BLHS năm 1999, thì quy định tại mục 3.6 [20] rất dễ xảy ra hiện tượng sai lệch về hành vi phạm tội ban đầu vì những lý do khác nhau, dẫn đến việc xác định hành vi phạm tội không đúng hoặc bỏ sót hành vi phạm tội.

Thứ 2: Cần xây dựng luật bảo vệ nhân chứng và thiết lập cơ quan bảo vệ nhân chứng độc lập. Cần nâng cao ý thức tố giác tội phạm trong nhân dân để giảm tính “ẩn” của tội phạm. Muốn như vậy, chúng ta cần phải pháp điển hóa các chế định đảm bảo sự an toàn cho người tố giác tội phạm. Trong các văn bản pháp luật hình sự Việt Nam đã có những quy định để bảo vệ nhân chứng. Tuy nhiên, hiệu quả của nó thì vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ tố giác tội phạm ở Việt Nam chỉ là 29,9%[21]. Vì vậy, việc quy định các biện pháp bảo vệ nhân chứng một cách cụ thể trong các văn pháp luật hình sự sẽ đảm bảo cho nhân chứng và người thân của họ được an toàn, điều này sẽ khiến họ không còn cảm giác lo sợ bị trả thù, nên họ sẽ hợp tác với cơ quan chức năng để tố giác tội phạm. Do vậy, chúng tôi kiến nghị nước ta cần nhanh chóng xây dựng Luật Bảo vệ nhân chứng cũng như thành lập cơ quan bảo vệ nhân chứng. Làm như vậy, chúng ta sẽ đảm bảo rằng mọi người dân đều được yên tâm, an toàn trong việc phát hiện và tố giác tội phạm. Qua đó, mới đảm bảo cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt kết quả.

Cập nhật thông tin chi tiết về Châu Phi Trong Vòng Luẩn Quẩn Đói Nghèo, Tội Phạm Và Nội Chiến trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!