Xu Hướng 2/2024 # Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

TÓM TẮT:

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường đầu tư (MTĐT) của Việt Nam cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ, nâng cao tính cạnh tranh thì mới có thể đón được những làn sóng đầu tư có hiệu quả cao thông qua việc lựa chọn các dự án có chất lượng hơn. Vì vậy làm thế nào để cải thiện MTĐT của Việt Nam là vấn đề cần được quan tâm hiện nay.

Bài viết đi sâu phân tích, đánh giá một số khía cạnh về MTĐT của Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần cải thiện MTĐT nhằm tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư nói chung cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói riêng vào Việt Nam.

Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, môi trường đầu tư, chính sách đầu tư.

1. Đặt vấn đề

Trong thời kỳ mở cửa của nền kinh tế, việc huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý, thúc đẩy cạnh tranh làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm,… tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, đầu tư chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là những nước kém phát triển.

Hầu hết, các nước kém phát triển đều rơi vào một vòng luẩn quẩn, đó là: Thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và hậu quả lại là thu nhập thấp. Trở ngại lớn nhất đối với các nước này là vốn đầu tư, tuy nhiên tạo vốn cho nền kinh tế nếu chỉ trông chờ nội bộ thì hậu quả khó tránh khỏi tụt hậu trong sự phát triển chung của thế giới. Để thoát khỏi vòng luẩn quẩn đó thì các nước kém phát triển phải thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài và phát huy lợi thế ở bên trong. Do đó, FDI là một bước đột phá ra khỏi cái vòng luẩn quẩn đó. Muốn có thật nhiều FDI thì một trong những yếu tố quan trọng nhất đó chính là việc cải thiện MTĐT nhằm thu hút FDI nhiều hơn. Việt Nam cũng là một trong những nước đang nỗ lực cải thiện MTĐT với mục tiêu thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI cho phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê mô tả: Dùng để mô tả MTĐT và thực trạng cải thiện môi trường thu hút vốn FDI của Việt Nam.

3. Kết quả nghiên cứu

3.1. Khái quát chung điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến cải thiện môi trường thu hút vốn FDI tại Việt Nam

3.1.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Cam-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển Đông. Nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, thuộc khu vực kinh tế năng động của thế giới nên có tiềm năng liên kết với nhịp độ phát triển của khu vực, có khả năng kết nối với những nước có nền công nghiệp cao như: Nhật Bản, Singapore, Thái Lan nên Việt Nam có thể trở thành đầu mối trong việc giao lưu trung chuyển hàng hải, rất thuận lợi về giao thông đường biển với các châu lục khác.

Tài nguyên khoáng sản: Việt Nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, như: thiếc, kẽm, bạc, vàng, đá quý, than đá,… Thềm lục địa của Việt Nam có nhiều dầu mỏ, khí. Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp khai khoáng, dự án dầu khí và lọc dầu. Đất ở Việt Nam rất đa dạng, có độ phì nhiêu cao, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp.

Khí hậu: Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn. Điều này sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, phát triển trồng trọt trong nông nghiệp, đặc biệt giúp cây trồng phát triển quanh năm.

3.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

Dân cư và lao động: Nguồn nhân lực Việt Nam là yếu tố quan trọng có tác động tích cực đến thu hút ĐTNN bởi lực lượng lao động dồi dào, chi phí thấp và trình độ lao động tăng lên qua các năm.

Thứ nhất, nguồn nhân lực Việt Nam tương đối dồi dào do quy mô dân số lớn và tăng lên hàng năm. Dân số hiện tại (tháng 4/2024) của Việt Nam là 96.208.984 người, dân số Việt Nam hiện chiếm 1,27% dân số thế giới, mật độ dân số trung bình 290người/km2. Tuy nhiên, dân số lại phân bố không đồng đều, mật độ dân số cao chủ yếu ở các thành phố lớn, những vùng đồng bằng có điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội và cơ sở hạ tầng phát triển. Quy mô của lực lượng lao động chiếm khoảng trên 50% tổng dân số. Lao động làm việc trong ngành Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng giảm dần, còn lao động làm việc ở ngành Công nghiệp và Dịch vụ tăng lên qua các năm.

Thứ hai, chi phí lao động, tiền lương của Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực và có sự khác biệt giữa các vùng, miền trong cả nước. So với nhiều nước trong khu vực, mức lương bình quân của Việt Nam khá thấp chỉ cao hơn Lào và Campuchia, thậm chí chỉ bằng 1/3 Malaysia và nhỏ hơn gần 30 lần so với Singapore.

Thứ ba, chỉ số phát triển con người của Việt Nam luôn có xu hướng tăng lên trong thời gian qua dù GNI, GDP bình quân đầu người vẫn còn thấp. Chỉ số này cho thấy, sức khỏe của người dân Việt Nam tương đối tốt và hệ thống giáo dục phổ thông rất được quan tâm, phát triển.

3.2. Tình hình cải thiện môi trường thu hút FDI tại Việt Nam

3.2.1. Tình hình phát huy các lợi thế về địa lý và địa hình của Việt Nam

Trong khoảng hơn 30 năm, vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đã trải qua những giai đoạn thăng trầm. Tính đến ngày 20/12/2024, cả nước có 30.827 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 362,580 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án ĐTNN ước đạt 211,78 tỷ USD, bằng 58,4% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Bảng 1. Vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 2010 – 2024

Trong năm 2024, các nhà ĐTNN đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó đầu tư tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm 64,6% tổng vốn đầu tư. Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đăng ký cả về đăng ký vào các dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng và góp vốn, mua cổ phần. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với 3,88 tỷ USD, chiếm 10,2% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là các lĩnh vực bán buôn bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học – công nghệ,…

Bảng 2. FDI ở Việt Nam theo lĩnh vực đầu tư

Tính đến tháng 12/2024 đã có 135 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam, trong đó đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký 67,70 tỷ USD (chiếm 18,67% tổng vốn đầu tư). Nhật Bản đứng thứ hai với 59,33 tỷ USD (chiếm 16,36% tổng vốn đầu tư), tiếp theo lần lượt là Singapore và Đài Loan, Britishvirgin Island, Hồng Kông

Bảng 3. FDI ở Việt Nam theo đối tác đầu tư

ĐTNN đã có mặt ở tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương dẫn đầu trong thu hút FDI với 47,34 tỷ USD (chiếm 13,06% tổng vốn đầu tư), tiếp theo là Bình Dương với 34,4 tỷ USD (chiếm 9,48% tổng vốn đầu tư), Hà Nội với 34,11 tỷ USD (chiếm 9,41% tổng vốn đầu tư).

3.2.2. Năng lực của Nhà nước trong ổn định chính trị, chính sách pháp luật, văn hóa – xã hội tạo dựng niềm tin, sự an toàn, hấp dẫn các nhà đầu tư

Môi trường chính trị: Việt Nam được xếp vào một trong những nước có tình hình chính trị ổn định nhất thế giới. Ổn định chính trị là cơ sở cho ổn định kinh tế – xã hội, tạo thuận lợi để Việt Nam trở thành đích đến an toàn của các nhà ĐTNN. Việt Nam luôn coi trọng mối quan hệ về chính trị với các nước trên thế giới, tích cực, chủ động tăng cường mở rộng quan hệ ngoại giao, hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ và an ninh quốc phòng. Thực hiện chủ trương, chính sách lớn của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều Hiệp định thương mại và cũng đang tham gia đàm phán một số hiệp định thương mại quan trọng khác. Tính hết năm 2024, Việt Nam đã ký kết và thực thi 12 FTA, kết thúc đàm phán 1 FTA, và đang đàm phán 3 FTA khác. Chính việc tăng cường quan hệ ngoại giao với các nước và tổ chức quốc tế cũng như việc tổ chức thành công các sự kiện, Việt Nam được các nước và các nhà ĐTNN đánh giá rất cao về môi trường chính trị, làm các nhà đầu tư yên tâm đầu tư tại Việt Nam, có ảnh hưởng tích cực tới thu hút vốn FDI.

Môi trường chính sách pháp luật: Để thực hiện hiệu quả thu hút FDI thì Nhà nước phải không ngừng đổi mới chính sách, tạo thuận lợi cho các DN có vốn FDI phát triển, hạn chế tới mức tối đa các mặt tiêu cực và khuyết điểm của nó.

Môi trường kinh tế: Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế – xã hội quan trọng. Tăng trưởng kinh tế liên tục tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 – 2024 là 6,7%. Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định chứng tỏ các chủ thể trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, từ đó tăng sự thu hút các nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả.

3.2.3. Thực trạng cải thiện kết cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội nhằm tạo thuận lợi cho các chủ đầu tư triển khai dự án

(i) Hệ thống giao thông vận tải:

Đường bộ: Hệ thống mạng lưới đường bộ không ngừng tăng lên cả về chất lượng và số lượng, nhiều tuyến đường được xây dựng mới, nâng cấp và mở rộng. Tổng chiều dài đường bộ của Việt Nam khoảng 180.000 km, trong đó có trên 154 tuyến quốc lộ với tổng chiều dài 24.866 km, tỉnh lộ 28.143 km, huyện lộ 57.033 km, ngoài ra đường đô thị trên 27.500 km, còn lại là đường xã trên 159.000 km (Tổng cục Đường bộ, 2024). Nhờ sự phát triển hệ thống giao thông đường bộ, năng lực vận tải ngày càng tăng, khuyến khích lưu thông hàng hóa, thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển.

Đường sắt: Đã có bước cải thiện về chất lượng và tổ chức vận tải. Tổng chiều dài đường sắt đạt 2.654km bao gồm ba loại: Đường khổ 1.000mm chiếm 85%, Đường khổ 1.435mm chiếm 6% và Đường lồng chiếm 9%. Một số tuyến chính đã được cải tạo, nâng cấp, nâng cao an toàn và rút ngắn thời gian chạy tàu.

Cảng biển, đường thủy: Đến nay, đã có 160 bến cảng đưa vào sử dụng, được phân bố trên từng khu vực, địa bàn cả nước, với năng lực thông quan hàng hóa ngày càng tăng. Năm 2024, sản lượng thông quan hàng hóa của toàn hệ thống cảng biển Việt Nam ước đạt trên 600 triệu tấn. Hơn 90% lượng hàng hóa xuất – nhập khẩu của nước ta được vận chuyển bằng đường biển. Hệ thống cảng biển giúp trao đổi thương mại với nền kinh tế thế giới, làm hình thành nên khu công nghiệp, các trung tâm thương mại lớn trên vùng cảng, đóng vai trò là đầu tàu tăng trưởng kéo theo sự phát triển kinh tế của cả nước.

Hàng không: Cả nước hiện có 22 cảng hàng không đang hoạt động, trong đó có 9 cảng hàng không quốc tế. Nhiều cảng hàng không đã được chuyển đổi mục đích từ phục vụ quân sự sang khai thác lưỡng dụng. Đã và đang đầu tư cải tạo, nâng cấp các cảng hàng không Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Điện Biên Phủ, Cát Bi, Vinh, Đồng Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Chu Lai, Phù Cát, Cam Ranh, Buôn Mê Thuột, Pleiku, Liên Khương, Cần Thơ và Phú Quốc, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng tăng.

Hệ thống điện: Tính đến hết năm 2024, tổng công suất đặt của hệ thống điện Việt Nam là 54.880 MW. Quy mô hệ thống điện Việt Nam hiện đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia) và thứ 23 trên thế giới, với đa dạng loại hình nguồn điện như: Thủy điện, nhiệt điện đốt than, nhiệt điện đốt dầu FO, tua bin khí chu trình hỗn hợp đốt khí, tua bin khí chu trình đơn đốt dầu DO, diesel. Giá điện bình quân Việt Nam có tăng, nhưng vẫn thấp hơn trung bình khu vực, chỉ cao hơn Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Giá điện ở Việt Nam là yếu tố giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư.

Hệ thống cấp, thoát nước: Với dân số khoảng 95 triệu người, Việt Nam có tổng lượng nước bình quân đầu người theo năm đạt khoảng 9.500 m3/người/năm, thấp hơn chuẩn 10.000 m3/người/năm của quốc gia có nguồn nước ở mức trung bình theo quan điểm của Hiệp hội nước quốc tế. Cùng với tốc độ tăng dân số, nhu cầu nước tại Việt Nam ngày càng tăng trong khi nguồn cung cấp ngày càng có hạn, khiến Việt Nam lâm vào nguy cơ bị xếp hạng vào những quốc gia thiếu nước trên thế giới. Giá nước sạch sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất tăng lên. Hệ thống thoát nước tại các đô thị ở Việt Nam hiện bị xuống cấp rất nghiêm trọng, chưa đáp ứng được nhu cầu thoát nước.

Bưu chính viễn thông: Trong những năm gần đây, thị trường viễn thông Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mới, dịch vụ ngày càng đa dạng, chất lượng dịch vụ càng được cải thiện, giá dịch vụ ngày càng hạ. Hệ thống kết nối với quốc tế phát triển đa dạng cả về phương thức truyền dẫn và tốc độ kết nối, bao gồm các hệ thống cáp quang dưới biển, trên đất liền và các trạm thông tin vệ tinh mặt đất, hình thành siêu xa lộ thông tin trong nước và liên kết quốc tế. Thương mại điện tử phát triển nhanh đã hỗ trợ kinh doanh và mở rộng thị trường.

3.3. Giải pháp cải thiện MTĐT trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam

Để tiếp tục thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI, MTĐT của Việt Nam cần tiếp tục được cải thiện thông qua việc tác động vào các yếu tố MTĐT mà Chính phủ có ảnh hưởng mạnh như sau:

Để đối phó với bất ổn kinh tế vĩ mô, Chính phủ cần chủ động, linh hoạt và kịp thời điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách an sinh xã hội nhằm kích cầu đầu tư và tiêu dùng của nền kinh tế, thúc đẩy hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu.

Tiếp tục hoàn thiện môi trường chính sách, pháp luật. Cần thu hút vốn FDI có chọn lọc, mang lại giá trị gia tăng cao, có hiệu quả kinh tế xã hội lớn; đồng thời tránh thu hút FDI có ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái, sử dụng công nghệ lạc hậu, sử dụng lãng phí tài nguyên, năng lượng, đất của Việt Nam.

Tiếp tục xem xét, rà soát các văn bản pháp luật, chính sách đầu tư, kinh doanh để bổ sung, sửa đổi những nội dung không rõ ràng, nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán…

Để đảm bảo lợi ích cộng đồng, tránh cấp phép cho dự án gây ô nhiễm môi trường, các địa phương cần thực hiện đúng quy trình thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Cần nghiên cứu và ban hành các chế tài xử lý các cá nhân, các dự án không tuân thủ đúng quy trình thủ tục, những dự án có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xã hội.

Xây dựng và ban hành văn bản pháp luật quy định cụ thể việc phân cấp đầu tư cho chính quyền cấp huyện, xã. Cần phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan trong việc quản lý hoạt động đầu tư đặc biệt là hoạt động FDI.

Tiếp tục rà soát và phân loại thủ tục hành chính, phải loại bỏ thủ tục hành chính không phù hợp, không cần thiết, chồng chéo, mâu thuẫn. Để việc rà soát thủ tục hành chính có hiệu quả cần có cơ quan độc lập thực hiện rà soát văn bản do các Bộ, ngành, địa phương ban hành.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nguyễn Thị Tuệ Anh (2024). Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng, hiệu quả và hướng điều chỉnh chính sách, NXB Lao động, Hà Nội;

Bộ GD và ĐT (2014), Báo cáo quốc gia giáo dục cho mọi người 2024 của Việt Nam, NXB Thống kê, Hà Nội;

Bộ Kế hoạch đầu tư (2024), 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam – Tầm nhìn và cơ hội mới trong kỷ nguyên mới, NXB Thống kê, Hà Nội.;

Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2024), Báo cáo quan hệ lao động 2024, Hà Nội.

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (2024), Báo cáo phát triển con người năm 2024, Hà Nội.

Bùi Nam Sách (2024), Mâu thuẫn sử dụng nước ở hạ lưu hồ chưa trên các lưu vực sông và một số giải pháp khắc phục, Hà Nội.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2024), Báo cáo kết quả ngành Điện 2024, Hà Nội.

Theo tapchicongthuong.vn

Nguồn bài viết: http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/cai-thien-moi-truong-dau-tu-truc-tiep-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-77664.htm

Khắc Phục Hạn Chế Trong Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam

Thứ hai, 20 Tháng 2 2024 14:57

(LLCT) – Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra: “Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Để hoàn thành mục tiêu đó, Đại hội xác định nhiệm vụ giai đoạn 2024-2024 tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đạt 6,5-7%. Theo các chuyên gia, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần khoảng 10.218-10.978 nghìn tỷ đồng, bằng 32-34% GDP, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cần phải huy động khoảng 1.410-1.546 nghìn tỷ đồng, chiếm 13,8-14,1% tổng nguồn vốn.

Việt Nam là một trong nhữngquốc gia thu hút được nhiều FDI,trong 5 năm 2011-2024, tổng vốn FDI (gồm cả phần vốn góp trong nước) đạt 60,5 tỷ USD, tăng 35,6 % so với giai đoạn 2006-2010 và tăng đều qua các năm. Trong 6 tháng đầu năm 2024, kinh tế thế giới gặp rất nhiều khó khăn,nhưngchúng ta đã thu hút gần 12 tỷ USD,gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2024.

FDI đã đóng góp tích cực cho tăng trưởng và phát triểnkinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam. Quy mô xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụcủa khu vực này luôn tăng qua các năm. Năm 2024, kim ngạch xuấtkhẩu của các doanh nghiệp FDI chiếm70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước; 7 tháng đầu năm 2024, xuất siêu gần 15 tỷ USD, nhiều mặt hàng chiếm tỷ trọng tuyệtđối, như xuất khẩu điệnthoại32 tỷ USD. FDI đóng góp cho ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm,tăng thu nhập,góp phần giải quyết các vấn đề xã hội… Tuy nhiên, FDI tại Việt Nam đang tồn tại những hạn chế cần được giải quyết.

Thứ nhất, hiệu quả đầu tư không cao so với tiềm năng và thế mạnh của doanh nghiệp FDI. Vì mục tiêu lợi nhuận, FDI thường đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao như: khai thác tàin guyên nhiên nhiên, gia công, lắp ráp sản phẩm sử dụng nhiều lao động. Như vậy chỉ khai thác thế mạnh, mà không tạo được sự phát triển lan tỏa ra các ngành, làm mất cân đối trong cơ cấu kinh tế,cơ cấu sản phẩm,cơ cấu vùng kinh tế của Việt Nam. Các sản phẩm xuất khẩu của chúng ta vẫn là những mặt hàng truyền thống: dệt may, giày dép, túi xách, lâm khoáng sản, kể cả điện thoại, máy tính cũng là những ngành sử dụng nhiều lao động.

Thứ hai, hầu hết các nhà đầu tư FDI vào nước ta là từ các nước châu Á, có công nghệ và kỹ thuật lạc hậu, các nước Hoa Kỳ,Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc có công nghệ tiên tiến, hiện đại lại chiếm tỷ trọng nhỏ. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư, 80% doanh nghiệp FDI có công nghệ trung bình, 14% công nghệ thấp và lạc hậu, 6% là công nghệ cao. Đầu tư công nghệ thấp, sai địa điểm, sai mục đích, công suất sử dụng thấp so với mức tối đa cho phép, trình độ người lao động thấp, không có khả năng tiếp thu và vận hành công nghệ hiện đại. Những nguyên nhân đó dẫn đến năng suất lao động không cao,chất lượng sản phẩm thấp,thiếu sức cạnh tranh, tất yếu dẫn đến phá sản, hoặc bị các doanh nghiệp FDI thâu tóm.

Thứ ba, FDI làm trầm trọng thêm ô nhiễm môi trường các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển. Nhằm tiết kiệm chi phí mua sắm máy móc mới, nhiều nhà đầu tư FDI đã xuất khẩu những thiết bị công nghệ lạc hậu, phát thải cao, cùng với việc không xử lý rác thải theo quy định là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta còn chưa quên vụ Công ty Vedan (Đài Loan) xả thải trực tiếp ra sông Thị Vải, thì tháng 4-2024, Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà tĩnh (Đài Loan) đã gây hậu quả nghiêm trọng cho 4 tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Do vậy, nếu không thẩm định kỹ lưỡng các dự án FDI, thì nhiều thế hệ mai sau sẽ phải chịu hậu quả.

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, xin có một số kiến nghị sau:

(1) Trong những năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho kinh tế nước ta những cơ hội phát triển. Nguồn vốn FDI tiếp tục lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu và đóng vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta đang trong thời kỳ chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức, rất cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có FDI, nhưng phải rất chú trọng đến chất lượng các dự án đầu tư. Điều đó có nghĩa, chúng ta vẫn tiếp tục trải “thảm đỏ”, nhưng có lựa chọn nhà đầu tư và công nghệ; thẩm định kỹ lưỡng năng lực và công nghệ của nhà đầu tư, tránh tình trạng chỉ thấy lợi ích trước mắt, vì lợi ích “cá nhân, nhóm” mà cố tình bỏ qua lợi ích quốc gia.

(3) Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác thu hút và quản lý FDI từ Trung ương đến địa phương. Thực tiễn những năm qua cho thấy, không ít nhà đầu tư nước ngoài chưa thực sự có trách nhiệm với dự án và đất nước họ kinh doanh. Cá biệt, có những tập đoàn đa quốc gia với số vốn hàng trăm triệu đôla như METRO (đã bán cho tập đoàn TCC Holding Thái Lan), PEPSI, COCA-COLA… liên tục báo lỗ, không nộp thuế thu nhập doanh nghiêp nhưng vẫn xin phép mở rộng đầu tư. Năm 2013, tại thành phố Hồ Chí Minh, hàng loạt doanh nghiệp FDI “biến mất”, trong đó 128 doanh nghiệp trong lĩnh vực gia công bỏ trốn nợ thuế, nợ lương công nhân tới 400 tỷ đồng. Do đó, các bộ, ngành, các cơ quan chức năng cần sớm hoàn thiện các quy định để quản lý một cách chặt chẽ, minh bạch, đặc biệt là cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác này.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: “Nhìn lại 25 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.

2. Lợi nhuận của FDI “trốn” ra ngoài, chúng tôi ngày 11-4-2010.

3. Bộ kế hoạch và Đầu tư: “Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2024-2024.”

4. Kinh tế Việt Nam và Thế giới: Thời báo Kinh tế 2011-2024.

5. Báo Đầu tư 2024.

PGS, TS Võ Văn Đức

Luận Văn: Giải Pháp Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Vào Việt Nam

MỞ ĐẦU Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tƣ của bất kỳ một quốc gia hoặc một địa phƣơng nào. Đối với Việt Nam, hiện chúng ta đang biến đổi theo xu hƣớng toàn cầu, không phải chỉ là Công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà còn cần phải “Phát triển bền vững”, do những nhận thức thay đổi đó, chúng ta chuyển đổi và hội nhập kinh tế cũng cần lựa chọn những nguồn vốn và nhà đầu tƣ thực sự quan tâm đến vấn đề “Phát triển bền vững” không chỉ cho Việt Nam mà còn ảnh hƣởng đến sự phát triển bền vững của toàn thế giới. Do vậy việc thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài lại càng có vai trò đặc biệt quan trọng. 1.Tính cấp thiết của đề tài Trong hơn 25 năm thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, Việt Nam đã có đƣợc rất nhiều lợi ích từ việc thu hút vốn FDI nhƣ là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tƣ phát triển xã hội và tăng trƣởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, trình độ kĩ thuật và công nghệ; tham gia vào mạng lƣới sản xuất toàn cầu, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, phát triển kinh tế thị trƣờng đƣa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao mức sống ngƣời lao động, tạo nguồn thu ngân sách lớn… Theo báo cáo tổng kết của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ về 25 năm dòng vốn FDI vào thị trƣờng Việt Nam thì tỷ lệ đóng góp của FDI vào GDP đã tăng từ 2% GDP năm 1992 lên 12,7% năm 2000; 16,98% (2006); 18,97% (2011) và năm 2014 là 20%. Trong hoạt động xuất khẩu, từ năm 2003, xuất khẩu của khu vực FDI bắt đầu vƣợt khu vực trong nƣớc và dần trở thành nhân tố chính thúc đẩy xuất khẩu, đóng góp tới 66,87% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc vào năm 2013. Năm 2014, khu vực FDI xuất khẩu 82,5 tỷ 11. 11 USD, tăng 13,6%, đóng góp 67% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nƣớc và vẫn liên tục xuất siêu. Năm 2024, xuất khẩu của khu vực FDI (kể cả dầu thô) ƣớc đạt 115,1 tỷ USD, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 70,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Trong khi đó, nhập khẩu của khu vực này là 97,9 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2014 và chiếm 59,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong năm 2024, khu vực FDI xuất siêu gần 17,15 tỷ USD.[9] Tuy nhiên hoạt động thu hút và sử dụng vốn FDI còn tồn tại nhiều mặt tiêu cực đến nền kinh tế nhƣ: Vấn đề chuyển giá gây thiệt hại cho nền kinh tế, khả năng chuyển giao công nghệ hạn chế và nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ, khả năng tạo việc làm chƣa ổn định, làm tăng các vấn đề xã hội mới nhƣ phân hoá xã hội, giàu nghèo, nạn “chảy máu chất xám” trong nội bộ nền kinh tế, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, vấn đề hiệu quả giải ngân vốn đầu tƣ… Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Việt Nam thời gian tới” đi sâu vào phân tích thực trạng FDI, các kết quả, hiệu quả đạt đƣợc đồng thời nêu ra những mặt hạn chế còn tồn tại, đƣa ra một số nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp nhằm tăng cƣờng khả năng thu hút vốn FDI cũng nhƣ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI vào Việt nam trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu “Phát triển bền vững”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài phân tích thực trạng FDI, các kết quả, hiệu quả đạt đƣợc đồng thời nêu ra những mặt hạn chế còn tồn tại, đƣa ra một số nguyên nhân chính và đề xuất giải pháp nhằm tăng cƣờng khả năng thu hút vốn FDI cũng nhƣ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn FDI vào Việt nam trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế.

MÃ TÀI LIỆU: 16994

PHÍ TÀI LIỆU: 50.000

ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF

THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)

NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)

CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY

Đồ Án Giải Pháp Nhằm Thu Hút Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Ở Việt Nam

lời mở đầu Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế – xã hội, đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có xu hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ và có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế nước ta. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tạo điều kiện khai thác các lợi thế so sánh, mở ra nhiều nghành nghề,sản phẩm mới, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu,tạo thêm nhiều việc làm và chủ động tham gia vao quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy , việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như thế nào đóng vai trò rất quan trọng. Xuất phát từ thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, nền kinh tế đang chuyển sang giai đoạn phát triển tăng tốc, vấn đề đặt ra là cần thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho đầu tư phát triển. Với đề án “Giải pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam “- nghiên cứu đối tượng chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam- em sẽ trình bày những thực trạng và giải pháp để thu hút nguồn vốn này . Phần 1: Một số vấn đề về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1. Thực chất của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. 1. Thực chất Khái niệm đầu tư (Investement): Đầu tư, nói chung là sự bỏ ra những nguồn lực vào một công việc nào đó nhằm thu lợi lớn trong tương lai. Đặc trưng cơ bản của đầu tư đó là tính sinh lãi và rủi ro trong đầu tư. Hai thuộc tính này đã phân hóa sàng lọc các nhà đầu tư và thúc đẩy xã hội phát triển. Đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài mang đầy đủ những đặc trưng của đầu tư nói chung nhưng có một số đặc trưng khác với đầu tư trong nước đó là: . Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài. . Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới. . Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hóa , tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ. Các hình thức biểu hiện của đầu tư nước ngoài thường là. – Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức, gọi tắt là ODA. – Nguồn vốn tín dụng thương mại – Nguồn vốn đầu tư từ việc bán cổ phiếu, trái phiếu… cho người nước ngoài, gọi tắt là FPI. – Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, gọi tắt là FDI. Đây là nguồn vốn đầu tư khá phổ biến hiện nay của nước ngoài đầu tư vào một quốc gia nào đó nhằm mục đích kiếm lợi nhuận là chủ yếu .Trong thực tế, nguồn vốn ODA và FDI là khá phổ biến, hai nguồn này đều có vị trí khá quan trọng. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở 1 nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhằm mục đích thu lợi nhuận. Các đặc trưng: . Về vốn góp: Các chủ đầu tư nước ngoài đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của nước nhận đầu tư để họ có quỳên trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh. ở Việt Nam luật đầu tư nước ngoài đưa ra điều kiện: phần vốn góp của bên nước ngoài không dưới 30% vốn pháp định, trừ những trường hợp do chính phủ quy định. . Về quyền điều hành quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý. . Về phân chia lợi nhuận: dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ đều được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định. 1. 2. Đặc điểm: Với nước tiếp nhận đầu tư , đặc điểm của FDI có nhiều mặt tích cực, đồng thời cũng có những mặt hạn chế, bất lợi riêng. 1. 2. 1. Những mặt tích cực: So với những hình thức đầu tư nước ngoài khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những ưu điểm: FDI không để lại gánh nặng nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như ODA hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài… Các nhà đầu tư nước ngoài tự bỏ vốn ra kinh doanh, trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh, hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Nước tiếp nhận FDI ít phải chịu những điều kiện ràng buộc kèm theo của người cung ứng vốn như của ODA. Thực hiện liên doanh với nước ngoài, việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại. Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư . FDI không đơn thuần chỉ là vốn, mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới… cho nước tiếp nhận đầu tư . Đây là điểm hấp dẫn quan trọng của FDI, bởi vì hầu hết các nước đang phát triển có trình độ khoa học và công nghệ thấp, trong khi phần lớn những kỹ thuật mới xuất phát chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, do đó để rút ngắn khoảng cách và đuổi kịp các nước công nghiệp phát triển, các nước này rất cần nhanh chóng tiếp cận với các kỹ thuật mới. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể của mình, mỗi nước có cách đi riêng để nâng cao trình độ công nghệ, nhưng thông qua FDI là cách tiếp cận nhanh, trực tiếp và thuận lợi. Thực tế đã cho thâý FDI là 1 kênh quan trọng đối với việc chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận, thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương diện: chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động…. Thông qua tiếp nhận FDI, nước tiễp nhận đầu tư có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước này. Thông qua tiếp nhận đầu tư , các nước sở tại có điều kiện thuận lợi để tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thích nghi nhanh hơn với các thay đổi trên thị trường thế giới… FDI có vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới. FDI có lợi thế là có thể được duy trì sử dụng lâu dài, từ khi một nền kinh tế còn ở mức phát triển thấp cho đến khi đạt được trình độ phát triển rất cao. Vốn ODA thường được dành chủ yếu cho những nước kém phát triển, sẽ giảm đi và chấm dứt khi nước đó trở thành nước công nghiệp, tức là bị giới hạn trong một thời kỳ nhất định. FDI không phải chịu giới hạn này, nó có thể được sử dụng rất lâu dài trong suốt quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế. Với những ưu thế quan trọng như trên ngày càng có nhiều nước coi trọng FDI hoặc ưu tiên, khuyến khích tiếp nhận FDI hơn các hình thức đầu tư nước ngoài khác. 1. 2. 2. Một số hạn chế: Bên cạnh những mặt tích cực, FDI có thể gây ra những bất lợi cho nước tiếp nhận: Việc sử dụng nhiều vốn đầu tư FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động tối đa vốn trong nước, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư , có thể gây nên sự phụ thuộc của nền kinh tế vào vốn đầu tư nước ngoài .Do đó, nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư phát triển thì tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài, thiếu vững chắc. Đôi khi doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện chính sách cạnh tranh bằng con đường bán phá giá, loại trừ đối thủ cạnh tranh khác, độc chiếm hoặc khống chế thị trường, lấn áp các doanh nghiệp trong nước. Thực tế đã cho thấy khi thực hiện các dự án liên doanh, các đối tác nước ngoài đã tranh thủ góp vốn bằng các thiết bị và vật tư đã lạc hậu, đã qua sử dụng, hoặc nhiều khi đã đến thời hạn thanh lý, gây ra thiệt hại to lớn cho nền kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư. Thông qua sức mạnh hơn hẳn về tiềm lực tài chính, sự có mặt của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài gây ra một số ảnh hưởng bất lợi về kinh tế- xã hội như làm tăng chênh lệch về thu nhập, làm gia tăng sự phân hóa trong các tầng lớp nhân dân, tăng mức độ chênh lệch phát triển giữa các vùng. Với những mặt bất lợi của FDI, nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đầy đủ và có các biện pháp phù hợp, nước tiếp nhận FDI có thể hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực này và sử lý hài hòa mối quan hệ của nhà đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc gia để tạo nên lợi ích tổng thể tích cực. 2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: Xét theo mục đích đầu tư FDI đựơc phân thành 2 loại: đầu tư theo chiều ngang và đầu tư theo chiều dọc: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều ngang: là việc 1 công ty tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài vào chính ngành sản xuất mà họ đang có lợi thế cạnh tranh. Với lợi thế này họ muốn tìm kiếm lợi nhuận cao hơn ở nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo chiều dọc: khác với hình thức đầu tư theo chiều ngang, hình thức đầu tư theo chiều dọc với mục đích khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và các yếu tố đầu vào rẻ như lao động, đất đai của nước nhận đầu tư . Đây là hình thức khá phổ biến của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các nước đang phát triển. Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau: Hình thức doanh nghiệp liên doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham gia vào doanh nghiệp liên doanh là 1 pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân độc lập. Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanh thì dù 1 bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nước ngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp này được thành lập dưới dạng các công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam và chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Vốn pháp định cũng như vốn đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài đóng góp, vốn pháp định ít nhất bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là hình thức đầu tư trực tiếp trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên(gọi là các bên hợp tác kinh doanh)để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới. Hình thức này không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới. Mỗi bên vẫn hoạt động với tư cách pháp nhân độc lập của mình và thực hiện các nghĩa vụ của mình trước nước nhà. Ngoài ba hình thức cơ bản trên, theo nhu cầu đầu tư về hạ tầng, các công trình xây dựng còn có hình thức: . Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT) : là một phương thức đầu tư trực tiếp được thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài(có thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài)với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà. . Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh : là phương thức đầu tư dựa trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. . Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT) : là một phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà. Chính phủ nước chủ nhà tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý. 3.Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Ôn định chính trị: đây là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với nhà đầu tư nước ngoài, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính phủ nước chủ nhà đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên, định hướng phát triển mới được đảm bảo. Đây là những vấn đề có thể nói là được nhà đầu tư quan tâm nhất vì nó tác động rất mạnh đến yếu tố rủi ro trong đầu tư. Nếu nước chủ nhà có một hệ thống chính sách đầy đủ và hợp lý, đảm bảo sự nhất quán về chủ trương thu hút đầu tư cũng sẽ là những yếu tố quan trọng, hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: đó là đặc điểm khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số, vị trí địa lý gần… Đây cũng là những yếu tố tác động nhiều đến tính sinh lãi hoặc rủi ro trong đầu tư. Trình độ phát triển của nền kinh tế và đặc điểm phát triển của nền văn hóa xã hội: đây được coi là các yếu tố quản lý vĩ mô, điều kiện cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ. Sự thuận lợi hay không thuận lợi về ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán đều có thể trở thành sự khuyến khích hay kìm hãm việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài những nhân tố trên còn những nhân tố có tác dụng tăng khả năng thu lợi nhuận cho các nhà đầu tư, đó là: Nhân tố lãi suất: do một dự án đầu tư, chi phí và doanh thu được thực hiện ở những thời điểm khác nhau. Để so sánh doanh thu và chi phí trong điều kiện tiền có giá trị biến đổi theo thời gian, các nhà đầu tư đã sử dụng lãi suất để tính chuyển các dòng tiền về mặt bằng thời gian hiện tại. Như vậy, nếu lãi suất càng tăng thì lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư càng giảm. Do đó mức lãi suất thấp là một trong những yếu tố khuyến khích người có tiền đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh hơn là gửi tiền vào ngân hàng. Chi phí sản xuất cũng là những yếu tố mà các nhà đầu tư quan tâm, bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí nhân công và chi phí cho các dịch vụ hỗ trợ sản xuất của doanh nghiệp. Chi phí sản xuất giảm thì lợi nhuận sẽ tăng tại mọi mức lãi suất. Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, có một nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất tại nước nhận đầu tư, đó là tỷ giá hối đoái. Nếu đồng tiền của nước nhận đầu tư tăng giá, chi phí sản xuất ở đây sẽ tăng, chi phí tăng thì lợi nhuận giảm, đó là nhân tố làm giảm quy mô đầu tư trực tiếp nước ngoài. 4. Sự cần thiết phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Kể từ khi giành được độc lập, sự phát triển của nền kinh tế ở miền Bắc nước ta gắn với sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh đồng thời giữ vững độc lập, tự chủ, việc tìm đến nguồn lực bên ngoài cho phát triển cả về vốn và công nghệ dưới hình thức FDI là hết sức cần thiết. Đối với nền kinh tế nước ta, việc vay thương mại để nhập khẩu công nghệ là quá sức chịu đựng của nền kinh tế. Xuất phát tự bối cảnh trên, để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội nguồn vốn nước ngoài mà chúng ta có thể sử dụng được chính là vốn FDI. Thực tế đến nay đã chứng tỏ sự lựa chọn của chúng ta là đúng đắn, đồng thời cũng nói lên sự cần thiết có tính lịch sử và khách quan của FDI đối với công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước. Bước vào thập kỷ 1990, Đảng và Nhà nước ta thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000.Chiến lược đã xác định những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong điều kiện tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn nhỏ bé, vấn đề tăng vốn đầu tư xã hội nói chung, trong đó có nguồn vốn từ bên ngoài (thông qua việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) đang nổi lên như một yêu cầu cấp bách. Sự cần thiết của FDI trong giai đoạn này đã thể hiện qua tất cả các đặc điểm và ưu thế của nó: vừa là sự bổ xung đáng kể về vốn đầu tư phát triển , vừa là kênh dẫn chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm và phương thức quản lý tiên tiến, tăng năng lực và trình độ sản xuất của nền kinh tế, vừa giúp cho nền kinh tế dần mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục thu hút nhiều hơn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 xác định: “có chính sách thu hút tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta, trước hết vào lĩnh vực sản xuất, dưới nhiều hình thức”. Như vậy Đảng ta đã khẳng định đầu tư nước ngoài như là một bộ phận của kinh tế tư bản nhà nước . Để phát huy cao nhất nội lực, đồng thời nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, chúng ta đã tập trung cải thiện môi trường đầu tư để thu hút nhiều hơn nguồn vốn FDI. Hiện nay, để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội bền vững, thu hẹp dần khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với các nước trong khu vực, Đảng và Nhà nước đã đề ra định hướng cơ bản cho việc thu hút, sử dụng và quản lý FDI một cách có hiệu quả.Chúng ta cần một lượng vốn lớn, phải huy động cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới xuất hiện và hình thành ngày càng rõ nét trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thu hút nhiều hơn và sử dụng hiệu quả cao FDI là một nội dung quan trọng của việc thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế. Thông qua việc đẩy mạnh thu hút FDI sẽ tranh thủ công nghệ của các nước có nền khoa học tiên tiến, kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường… Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện đang được xem là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa của nước ta. Phần 2:Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Kết quả thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Bảng 01: Đầu tư nước ngoài qua các thời kì Đơn vị: Triệu $ Năm Chỉ tiêu 1988-1990 1991-1995 1996-2000 2001 2002 2003 2004 1. Số dự án ĐT – Cấp mới – Lượng tăng vốn 214 1 1397 262 1678 852 550 214 802 366 752 374 679 458 2. Vốn đăng kí – Vốn đăng kí mới – Tăng vốn 1582 0.3 16244 2162 20772 33951 2592 632 1621 1136 1941 1150 2084 1935 3. Đóng góp của khu vực FDI – Tỷ trọng trong GDP (%) – Nộp ngân sách 7.4 0.3 10.9 1490 13.1 373 13.9 459 14.3 470 800 4. Giải quyết việc làm ( nghìn người) 1415 450 590 665 739 1. 1. Giai đoạn 1988-2002 Biểu đồ 01: FDI theo giai đoạn Giai đoạn 1988-2002 Đây là thời kỳ đầu tiên FDI chính thức xuất hiện trong nền kinh tế của nước ta. Thời kỳ này hoạt động thu hút FDI được khởi đầu bằng liên doanh dầu khí Việt-Xô. Năm đầu tiên thực hiện luật đầu tư nước ngoài, chúng ta mới thu hút được 37 dự án với 371 triệu USD, hai năm sau số vốn đăng kí lên tới 1,793 triệu USD. Giai đoạn 1991-1995: Cùng với việc bổ sung và sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,Chính phủ đã quyết định thành lập hàng loạt các khu công nghiệp ở các địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư. Qua 5 năm thực hiện, tổng số vốn đăng kí đầu tư đã gấp 9,3 lần thời kì 1988-1990. Riêng năm 1995, số vốn thu hút được là cao nhất, đạt gấp 3,64 lần về vốn của 3 năm 1988-1990 cộng lại. Quy mô dự án và tốc độ phát triển thời kì này đạt mức cao so với mức bình quân chung. Giai đoạn 1996-2000 Trong giai đoạn này, năm 1996 là năm có số vốn đăng kí được cấp phép cao nhất so với các năm từ 1988 đến 2002. Tuy nhiên, từ năm 1997 trở đi số lượng vốn đã giảm thấp, nhất là năm 1999 giảm 60% vốn đăng kí so

Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Kinh Doanh

Báo cáo Chỉ số thuận lợi kinh doanh của Ngân hàng thế giới được công bố vào cuối năm 2024 cho biết: Môi trường kinh doanh của Việt Nam được ghi nhận có sự cải thiện mạnh mẽ nhất trong vòng một thập kỷ qua.

Theo đó, thứ hạng của Việt Nam hiện đã tăng 9 bậc, từ vị trí 91/189 quốc gia lên vị trí thứ 82 của bảng xếp hạng. Những cải thiện về môi trường kinh doanh của Việt Nam trong những năm qua đã cho thấy thông điệp mạnh mẽ cùng định hướng rõ ràng, đồng bộ từ Chính phủ, các Bộ ngành, địa phương và Doanh nghiệp.

Đầu tiên phải kể đến việc Thủ tướng Chính phủ ban hành nghị quyết 35/NQ-CP về việc hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp, phấn đấu đến năm 2024, xây dựng đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững. Tiếp đó là Nghị quyết 19 về các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia với mục tiêu đến năm 2024 Việt Nam đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN 4 trên một số chỉ tiêu về năng lực cạnh tranh thuộc nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả.

Bên cạnh đó, nhờ sự nỗ lực vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương, hàng nghìn thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, giấy phép con bất hợp lý đã được bãi bỏ… tạo niềm tin cho doanh nghiệp. Năm 2024, lần đầu tiên, số doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam đạt con số kỷ lục với hơn 110.000 doanh nghiệp. Đây là tín hiệu đáng mừng thể hiện chủ trương cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp của Chính phủ đã đi đúng hướng, phấn đấu đến năm 2024, cả nước có trên 1 triệu doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, nguồn lực mạnh.

Mặc dù đã có sự chuyển biến đáng kể, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện, tuy nhiên ở một số cơ quan, cơ sở và địa phương, tình hình chuyển biến còn khá chậm, hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn còn bị cản trở, gây khó khăn, thậm chí là bị sách nhiễu.

Để xảy ra tình trạng như vậy, ngoài những nguyên nhân khách quan như: trình độ năng lực của cán bộ còn yếu kém, tư duy bảo thủ trì trệ trong lề lối làm việc… thì nguyên nhân chính được chỉ tên đó là: lợi ích cá nhân và cục bộ tràn lan, sự thờ ơ vô trách nhiệm cũng như sự vào cuộc thiếu quyết liệt của các cấp, các ngành.

Đúng 13h30, buổi tọa đàm bắt đầu.

Toàn cảnh buổi tọa đàm

Tham gia tọa đàm có ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng Ban Pháp chế VCCI; ông Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia Kinh tế; ông Phan Đức Hiếu – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế TW; Ông Nguyễn Nhân Phượng – Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh; Ông Nguyễn Văn Thời – Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên; Ông Hoàng Trần Hiếu – Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Nam Toàn cầu.

Phần 1: Thực trạng tình hình cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng Ban Pháp chế, VCCI – Điều phối chính buổi tọa đàm: Đối với VN, ít có giai đoạn nào môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển DN được nhắc nhiều đến như thời gian qua. Người đứng đầu Chính phủ, các bộ ngành và địa phương đã tổ chức nhiều buổi đối thoại với doanh nghiệp để đưa ra các giải pháp, điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp.

Ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng Ban Pháp chế VCCI

Có thể nói một không khí mới đang bao trùm trong việc xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cũng như các biện pháp nhằm phát triển DN. Xu hướng tìm ra giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách thể chế đang được đẩy mạnh. Có những vấn đề gai góc như thay đổi hạn điền, bãi bỏ điều kiện kinh doanh…đã có những thay đổi lớn. Nhiều địa phương cũng đã có những biện pháp mới để thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp nhiều hơn cho địa phương. Vào tháng 4 tới, Thủ tướng Chính phủ sẽ gặp gỡ doanh nghiệp. Việc tổ chức tọa đàm hôm nay cũng như việc VCCI đang triển khai thu thập nhiều ý kiến của DN để đưa ra những hành động nhằm cải thiện môi trường kinh doanh là những tín hiệu rất tích cực.

– Thưa ông Phan Đức Hiếu, Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế TW là đơn vị đầu mối thực hiện Nghị quyết 19, theo ông đâu là điểm tích cực trong việc thực hiện Nghị quyết này?

Ông Phan Đức Hiếu – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế TW: Thông thường, bất kỳ cuộc cải cách nào đó cũng có 2 câu hỏi cơ bản: Làm gì, làm như thế nào? Khi xác định được phương hướng thì tổ chức thực thi, thực hiện ra sao?

Ông Phan Đức Hiếu – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế TW

Chúng ta không nên bàn nhiều về câu hỏi làm gì, làm như thế nào vì Nghị quyết 19 đã trả lời đầy đủ câu hỏi này. Nghị quyết 19 lần này đã xác định 250 giải pháp, có nghĩa là chúng ta có 250 công việc cụ thể để làm nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Không chỉ tính đến biện pháp ngắn hạn là cải thiện trực tiếp chất lượng, Nghị quyết 19 lần này còn tính đến giải pháp dài hạn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Như vậy, về mặt chủ trương, làm gì, chúng ta đã đi đúng hướng và được xác định. Vấn đề chính nằm ở chỗ chúng ta tổ chức thực thi giải pháp, biện pháp đặt ra thế nào?

Qua theo dõi 3 năm thực hiện Nghị quyết 19 và 1 năm thực hiện Nghị quyết 35, tôi cho rằng thách thức lớn nhất của chúng ta là làm thế nào để thực hiện đúng và đủ. Hiện, tôi vẫn chưa nhìn thấy việc thực hiện có chuyển biến. Cho đến năm 2024, chúng ta mới đạt được chuyển biến về nhận thức. Còn lại, kết quả đạt được còn hạn chế, còn khoảng cách rất lớn so với kỳ vọng của doanh nghiệp và cộng đồng xã hội.

Theo quan sát của tôi, trong thời gian sắp tới chúng ta sẽ gặp thách thức lớn, bởi để đạt được mục tiêu thì chúng ta phải nỗ lực rất nhiều. Nếu cứ duy trì cải cách đều thì thì chúng ta không thể có bước tiến, thậm chí còn có bước đi lùi.

– Từ góc nhìn của mình, TS Nguyễn Minh Phong đánh giá như thế nào về việc tạo dựng môi trường kinh doanh? Đã đạt yêu cầu chưa? Nếu lấy thang điểm 10, ông sẽ đánh giá như thế nào?

Ông Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia Kinh tế

TS Nguyễn Minh Phong – Chuyên gia Kinh tế: Đây là câu hỏi rất hay nhưng cũng rất khó. Tôi đồng tình với ý kiến chia sẻ của anh Hiếu. Tôi bổ sung thêm hai câu hỏi: thứ nhất là mục tiêu của cải cách, hỗ trợ DN và Cách thực hiện như thế nào?

Về mục tiêu cải cách, tôi cho rằng giai đoạn 2011-2024 là giai đoạn cực kỳ quan trọng bởi thời điểm này đã kế thừa những gì của giai đoạn trước đó, DN đổ vỡ hàng loạt, áp lực hội nhập rất lớn và đặt ra yêu cầu phải quyết liệt cải cách với các mục tiêu cụ thể.

Mục tiêu thứ nhất là giảm thiểu gánh nặng cho DN, trong đó giảm thuế, tài chính; chi phí vốn cho DN (lãi suất, điều kiện tiếp cận, yêu cầu thế chấp); thể chế của DN – một gánh nặng tồn tại dai dẳng đối với DN.

Mục tiêu thứ hai là hội nhập quốc tế.

Do đó, chúng ta phải chủ động thích ứng với việc đưa ra các định hướng, quy định theo thông lệ quốc tế. Đây là cái đích để xây dựng cho phù hợp.

Mục tiêu thứ ba và đồng thời cũng là cách làm đó là chúng ta chuyển từ một Nhà nước – nhà đầu tư trở thành 1 Nhà nước kiến tạo, pháp quyền, hành động, liêm chính hỗ trợ cho DN. Chính phủ trong suốt 4 năm qua từ 2011-2024 đều rất nhất quán. Việc đưa ra các Nghị quyết 19 lặp lại 4 lần, nghị quyết 35, các chỉ thị… tạo điểm nhấn, khác biệt và thể hiện quyết tâm nhất quán.

Về kết quả: Rõ ràng về mặt chấm điểm, các tổ chức trong và ngoài nước đều đánh giá là tốt hơn, tiêu biểu là WB và Diễn đàn kinh tế thế giới. Ở góc độ Luật, những ghi nhận trong pháp lý được rõ hơn. Người đứng đầu Chính phủ và hệ thống quản lý Nhà nước đã tỏ ra quyết tâm chính trị cao. Do vậy, chưa bao giờ tâm lý hứng khởi và niềm tin đầu tư vào Việt Nam được thể hiện rõ như vậy.

Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần phải thận trọng bởi: Đội ngũ cán bộ thừa hành vẫn như vậy cả về chất lượng, lợi ích nhóm vẫn còn, chưa có nhiều thay đổi trong cải cách tiền lương… , thậm chí các Nghị quyết Chính phủ mới được chép lại vào các chương trình hành động ở địa phương, chứ chưa được cụ thể hoá thành các dự án, kế hoạch, mục tiêu, giải pháp cụ thể để thực hiện.

Chất lượng của các văn bản pháp lý chưa phải là cao, hiện tượng chậm trễ, copy paste… vẫn còn tồn tại. Thậm chí, các chỉ số bôi trơn và tham nhũng còn rất nặng, với trên 80% DN buộc phải bôi trơn và Việt Nam hiện đứng thứ 2 về tham nhũng nhất Châu Á chỉ sau Ấn Độ theo xếp hạng của Tổ chức minh bạch thế giới. Nếu chấm điểm, về pháp lý tôi chấm 7 điểm nhưng về thực tiễn tôi chấm 5 điểm.

– Thưa ông Nguyễn Văn Thời, tại các tỉnh đều có Chương trình hành động về NQ 19 và NQ 35, từ góc nhìn của một doanh nghiệp địa phương đang hoạt động, anh cho biết những cảm nhận, đánh giá về môi trường kinh doanh ở địa phương, các doanh nghiệp của tỉnh Thái Nguyên có ý kiến gì môi trường kinh doanh?

Ông Nguyễn Văn Thời – Chủ tịch Hiệp Hội Doanh nghiệp tỉnh Thái Nguyên.

Ông Đậu Anh Tuấn: Những câu chuyện ông Thời đưa ra tại địa bàn Thái Nguyên đã chuyển tải những thông điệp rất ý nghĩa. Vừa qua Chính phủ đã đưa ra những quyết sách từ những yêu cầu thực tiễn. Trước đây chính quyền địa phương không quan tâm lắm nhưng từ khi có PCI thì chính quyền đã có những hành động thiết thực nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Hay như Nghị quyết 35 cũng xuất phát từ thực tiễn khi trong cuộc gặp gỡ giữa Thủ tướng và DN, nhiều DN đã đưa ra nhiều khúc mắc mà DN đang gặp phải…

– Nghị quyết 35 cũng có đề cập đến vấn đề Lãnh đạo tỉnh phải thường xuyên đối thoại với doanh nghiệp trong năm, tôi muốn đặt câu hỏi với ông Nguyễn Nhân Phượng – Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh có nhiều lợi thế trong việc thu hút FDI, vậy trong bối cảnh này, các doanh nghiệp tư nhân có bị mất lợi thế không? Làm thế nào để doanh nghiệp tư nhân có được tiếng nói đối với lãnh đạo tỉnh?

Ông Nguyễn Nhân Phượng, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Ngay sau khi có Nghị quyết, Chủ tịch UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp. Hội nghị đã quyết định thành lập tổ công tác giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Lần đầu tiên sau 10 năm hoạt động, Hiệp hội DN tỉnh Bắc Ninh được tỉnh tạo điều kiện đến việc giải quyết khó khăn, kiến nghị. Cụ thể, Chủ tịch tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo: Các sở, ban ngành phải trả lời tất cả những kiến nghị, khó khăn vướng mắc của DN từ Hiệp hội bằng văn bản. Đây là điểm rất mới và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp, tránh tình trạng lảng tránh hoặc chỉ trả lời bằng miệng như trước đây.

Bắc Ninh có nhiều DN nước ngoài đầu tư, hoạt động trên địa bàn tỉnh, Hiệp hội đã nhiều lần kiến nghị với tỉnh tạo điều kiện cho doanh nghiệp làm công nghiệp phụ trợ và cung cấp các dịch vụ nhà ở, ăn nghỉ,…phục vụ cho người nước ngoài.

Việc cung cấp các dịch vụ hiện đã thực hiện tốt, các doanh nghiệp đã được tham gia. Tuy nhiên, về công nghiệp phụ trợ hiện còn khó khăn. Bởi riêng việc DN gặp gỡ được người có quyền trong DN nước ngoài đã là rất khó khăn, đa phần chỉ thông qua đại diện người Việt, mà người Việt thường đã có những mối làm ăn của người Việt rồi, khó để DN tỉnh tham gia vào. Do đó, việc gắn kết và quan hệ giữa DN trong địa bàn tỉnh với DN nước ngoài còn khó khăn. Đặc biệt, thực hiện Nghị NQ 35, sau khi thực hiện tổ công tác, tỉnh Bắc Ninh đã thành lập đề án “Bác sĩ doanh nghiệp”. Thậm chí, những khó khăn của doanh nghiệp có thể báo trực tiếp đến chủ tịch tỉnh. Đây là việc làm có tác dụng tốt.

DN trên địa bàn còn gặp khó về thủ tục hành chính. Cụ thể, DN phải thực hiện một “chặng đường dài” của những thủ tục. Ví dụ 1 DN có thủ tục xin đất được chủ tịch tỉnh đồng thuận, mà đây lại là dự án xử lý nước thải và chuyển đổi từ đất công mà cũng mất đến 1 năm dài để thực hiện cấp đất. Trong rất nhiều biện pháp Nhà nước đề ra, khó nhất với DN vẫn là vấn đề đất. Nhà nước nếu đứng ra hỗ trợ doanh nghiệp giải phóng mặt bằng thì sẽ đơn giản hơn. Nhưng Nhà nước lại “đá bóng” sang chân DN, mà DN tự thỏa thuận với dân là việc vô cùng khó khăn. Vì vậy, tôi mong nhà nước có chính sách giúp đỡ DN, để hiện thực hóa mục tiêu 1 triệu DN của Thủ tướng CP.

Chúng ta muốn phát triển DN mà không có đất thì phát triển vào đâu. Nếu để từng DN xin thuê ở địa phương sẽ thành manh mún sau xử lý môi trường rất khó, thậm chí một số dự án giao DN đền bù nhưng nhiều yếu tố dẫn đến viêc không thể thực hiện dự án.

Chúng tôi rất mong Nhà nước, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Công thương cùng giúp sức cho doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Bên cạnh đó, chúng tôi mong muốn sau khi có đơn thì chậm nhất là 3 tháng cơ quan nhà nước cấp huyện có thể có quyết định cho chúng tôi. Nếu có 1 đơn vị dịch vụ giúp DN làm thủ tục thì tiến trình phát triển DN sẽ nhanh lên. Còn thủ tục hành chính là cả 1 chuỗi nên dẫn đến chậm trễ cho tiến độ triển khai dự án của DN.

Từ thực trạng trên, tôi xin đề xuất các ngân hàng cần có chính sách hỗ trợ cho DN, đối ứng vốn cho DN vay vốn, đầu tư vốn vay khi DN có dự án tốt và khả thi. Cụ thể, khi DN có 30% vốn, các đơn vị tín dụng, ngân hàng nên quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ tạo nguồn vốn cho DN triển khai dự án.

– Ở góc độ của một doanh nghiệp, ông Hoàng Trần Hiếu, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Nam Toàn cầu có những đánh giá gì về môi trường kinh doanh trong năm qua?

Ông Hoàng Trần Hiếu – Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Nam Toàn cầu.

Ông Hoàng Trần Hiếu – Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Nam Toàn cầu: Là một doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm sạch, chúng tôi đánh giá Nghị quyết 35 của Chính Phủ đã mang lại lợi thế cho DN trẻ. Tuy nhiên đi vào đầu tư cho lĩnh vực này, chúng tôi thấy nảy sinh một số vấn đề về nguồn cung và cầu. Cụ thể, nhu cầu thực phẩm sạch cao, nguồn cung cao nhưng lại tồn tại mức mong muốn. Về phía DN, để cung cấp được thực phẩm sạch, chúng tôi phải đầu tư sản xuất, đầu tư kinh doanh. Về phía người tiêu dùng có thể bỏ nhiều tiền để mua thực phẩm sạch nhưng không có căn cứ để xác định thực phẩm đó sạch và bản thân người nông dân cũng không tự tin để cam kết cung cấp dài hạn thực phẩm sạch bởi làm thực phẩm sạch cần phải đầu tư cao.

Để giải quyết vấn đề này, tôi nghĩ cần sự vào cuộc của Chính phủ định hướng, tổ chức giúp DN, người nông dân hay nhà sản xuất sản xuất tập trung, quy mô hơn. Và để làm được điều này, tôi cho rằng, lợi ích, đạo đức và luật pháp và là 3 yếu tố luôn đồng hành và cần đồng bộ với nhau. Hiện nay, thủ tục hành chính đã có thay đổi và đi vào thực tế. Tuy nhiên, nhà nước sẽ quản lý vĩ mô còn việc thực hiện cụ thể cần có các Hiệp hội, tổ chức tiêu dùng.

Ông Nguyễn Văn Thời: Hiện nay, các rào cản đối với DNVVN vẫn đang còn như: Việc áp dụng bộ luật thuế với DNVVN như hiện tại không hợp lý. Hơn nữa, đăng ký kinh doanh đã có đăng ký điện tử rồi nhưng nếu có quy trình, phần mềm thống nhất thì tốt hơn. Một số DN không hiểu rõ về việc đăng ký kinh doanh điện tử, nên có DN làm, DN không làm. Do vậy, cơ quan quản lý cần đưa ra chế tài bắt buộc đăng ký kinh doanh phải điện tử thì sẽ nó thành mệnh lệnh và buộc các DN phải làm.

Bên cạnh đó, cơ chế một cửa cũng xuất phát từ việc ban hành chính sách nhưng không quy định cụ thể. Ví như trong cuộc họp, các lãnh đạo Sở ngành không họp cùng DN mà để cho thư ký đi, sau đó thư ký gửi lại biên bản họp cho lãnh đạo tỉnh xem xét. Chính việc lòng vòng này khiến DN phải đợi, mất nhiều thời gian. Thiết nghĩ, nên có chế tài phạt những đơn vị thực hiện không tốt.

Phần 2: Các giải pháp giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam

Qua quan sát của địa phương cho thấy chỉ cần có một sự thay đổi nhỏ về cơ chế chính sách đã có thể tạo thuận lợi cho DN rất nhiều. Xin hỏi ông Phan Đức Hiếu về việc đơn giản hóa thủ tục kinh doanh?

Hiện nay, những địa phương tích cực đang xử lý vấn đề một cách rất cơ học. Cụ thể, với mục tiêu như vậy, họ ép cơ học đối với các cơ sở, phòng ban hoàn thành bằng cách nhanh nhất…. Như vậy rất áp lực và tốn kém nhân sự. Tôi cho rằng về lâu dài, nhà nước phải rút dần và trao lại quyền cho xã hội, đặc biệt là các hiệp hội doanh nghiệp. Hiện, nhiều địa phương tổ chức đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp, nhưng đối thoại vẫn mang tính hình thức, chưa hiệu quả, nhiều kiến nghị không được xử lý. Theo tôi, chúng ta nên giao cho một cơ quan độc lập tổ chức buổi đối thoại. Cơ quan này có trách nhiệm nghiên cứu, tập hợp kiến nghị của doanh nghiệp và cập nhật các giải pháp của chính quyền. Mọi doanh nghiệp có kiến nghị đều được giải quyết như nhau.

Đối với các địa phương chưa tích cực, không tích cực, cần tạo ra một môi trường làm việc minh bạch, công bằng trong việc đánh giá hiệu quả của công chức. Có như vậy mới thu hút được những công chức có tâm vào làm việc, tránh tình trạng đặt người không đúng chỗ.

Tôi thấy hiện nay duy nhất chỉ có VCCI là có 1-2 chỉ số là đánh sát, giám sát quá trình thực thi. Con số này quá ít, cần phải tăng cường vai trò của xã hội để tăng cường phản biện xã hội. Hiện, phản biện của doanh nghiệp còn rời rạc, thiếu chuyên nghiệp. Ở nước ngoài, bản kiến nghị của doanh nghiệp thường mang tính xây dựng rất cao, là tập hợp ý kiến của nhiều doanh nghiệp về các nhóm vấn đề. Vì vậy, tôi kêu gọi các hiệp hội doanh nghiệp, các địa phương nên tập hợp lại với nhau, hành xử một cách chuyên nghiệp để gia tăng sức ép đối với nhà nước. Có như vậy, các kiến nghị của doanh nghiệp mới có cơ hội được giải quyết, qua đó cải thiện được môi trường kinh doanh tại các địa phương.

– Thưa ông Nguyễn Minh Phong, ông có thấy sự chuyển động chưa đồng đều ở các bộ ngành hay không trong việc thực hiện NQ 19 và NQ 35?

Chuyên gia Kinh tế Nguyễn Minh Phong

Tôi cho rằng, độ chuyển động có đồng đều hay không phụ thuộc vào quy chuẩn và quy trình được đưa ra. Ví dụ có địa phương đưa ra một số quy định rất là tốt và được ban hành thực hiện từ trên xuống dưới như: với một vấn đề nếu quá 3 ngày không có phản hồi thông tin thì coi như là đồng ý; đi họp thay thì ý kiến phát biểu đại biểu chính là là ý kiến của Giám đốc Sở.

Thực tế ghi nhận những thành tựu thấy rõ: thời gian nộp thuế giảm, điện tử hoá rất nhiều…đặc biệt ở một số địa phương và Hà Nội đã xây dựng được bộ tiêu chí điện tử rất cao. Chính điều này góp phần giảm thiểu thời gian của Nhà nước và tạo điều kiện hỗ trợ cho DN.

Ngành Thuế đã có sự cải thiện rất tốt từ 28% xuống 20%. Thậm chí nhiều DN còn cho rằng cải tiến như thế là được rồi. Tuy vậy, ở một số lĩnh vực khác như đất đai chẳng hạn sẽ gặp khó khăn hơn. Do đó, khi chấm điểm chỉ số cũng phải xem xét đối với từng lĩnh vực và mức độ khó khăn riêng để đánh giá mức độ chuyển động. Tôi cho rằng mức độ đồng đều còn phụ thuộc vào trách nhiệm của người đứng đầu. Nếu họ có chế tài lớn, chiến dịch cao điểm như bầu cử thì mức độ chuyển động cũng khác nhau.

Tôi cho rằng có 4 vấn đề ảnh hưởng đến xu hướng, tốc độ và kết quả thực tế của những chuyển động về cải cách. Thứ nhất là nội dung yêu cầu và lộ trình hội nhập. Thứ hai là vai trò của người đứng đầu thực sự quan trọng. Nếu người đứng đầu (Thủ tướng, Bộ trưởng, Chủ tịch tỉnh, Bí thư…) nghiêm túc và trực tiếp chỉ đạo thì có sự đẩy nhanh trong việc thực hiện. Thứ ba là xây dựng về quy trình khi được chuẩn hoá, thể chế hoá sẽ đi vào hành động. Thứ tư là dựa trên nền tảng phát triển công nghệ thông tin để quản lý dữ liệu thông tin trong tỉnh và trên cả nước.

Ông Đậu Anh Tuấn: Ông Phong có nhắc đến cải cách của ngành thuế. Vừa qua tôi có tham dự một hội thảo về vấn đề này. Điều tôi bất ngờ là khi Bộ Tài chính sử dụng điều tra sự hài lòng của DN về cải thiện ngành thuế đều phải công khai, xây dựng nhật ký điện tử khi đến làm việc với DN…Tôi cũng rất bất ngờ với quy định thanh tra công vụ và không công nhận tranh tra viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nếu phát hiện có chi phí bôi trơn…Hy vọng những chỉ đạo, quy định này sẽ được thực hiện trong thời gian tới.

– Trong Nghị quyết 35 có nội dung phải cắt giảm chi phí cho DN, ông Nguyễn Văn Thời có đánh giá thế nào về chi phí kinh doanh, đặc biệt đối với hoạt động xuất nhập khẩu của VN như thế nào? Có cách nào để cắt giảm chi phí kinh doanh cho DN trong thời gian tới?

Tuy nhiên để đạt được điều kiện của Thông tư 72 thì DN phải tốt thực sự. Còn nếu đánh giá chung về mặt xu hướng, thì xu hướng chi phí giảm là rõ ràng. Ví dụ như ngành thuế áp dụng hoàn thuế điện tử, theo đó nếu DN có đủ chứng từ kê khai thì tiền về ngay, không bị tồn đọng. Đây cũng là chi phí giảm. Còn các thủ tục hành chính thì khi có Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 và các chỉ thị, nghị quyết riêng của tỉnh thì rất tốt cho DN. Chi phí đầu vào, chi phí gia nhập thị trường cho DN đã giảm rõ rệt.

– Một trong những xu hướng và đã được các địa phương tổ chức khá tốt như xây dựng trung tâm tỉnh, cắt giảm TTHC, việc này đã tạo động lực cho lãnh đạo địa phương. Xin hỏi ông Hiếu, với DN trẻ, việc chuyển động ấy đã làm hài lòng DN?

Ông Hoàng Trần Hiếu – Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Nam Toàn cầu: Nghị quyết 35 có đề cập đến vấn đề giảm chi cho DN. Về mặt chủ trương điều này rất có lợi cho DN từ chính sách về thuế, lương theo năng suất lao động, phí đường bộ,…Nhưng yếu tố quan trọng nhất tôi nghĩ đó là giảm phí cơ hội thời gian và thủ tục hành chính. Tôi rất quan tâm tới yếu tố thời gian 48h của anh Phượng, việc giảm chi và “quy trình 3-5 ngày”, “1 dừng” của anh Phong vừa đề cập. Về chủ trương, đứng ở góc độ doanh nghiệp tôi rất hài lòng.

– Năm ngoái tôi có tham gia một hội đồng đo thời gian giải phóng hàng và thấy tỷ lệ doanh nghiệp giải phóng hàng tương đối ít. Cụ thể, tỷ lệ doanh nghiệp giải phóng hàng dưới 48 giờ thì chỉ có 38,5% lô hàng được giải quyết. Điều này cho thấy việc rút ngắn thời gian thông quan vẫn còn lớn. Tôi muốn hỏi ông Phượng, với doanh nghiệp đang hoạt động, ông đánh giá thế nào về chi phí kinh doanh trong thời gian vừa rồi, làm thế nào để cắt giảm hơn nữa?

Ông Nguyễn Nhân Phượng: Nói về chi phí kinh doanh, đối với doanh nghiệp chúng tôi quan tâm nhất đến là chi phí thời gian. Để giảm được chi phí, trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp đều chú trọng tới đổi mới công nghệ bởi việc đổi mới công nghệ giúp làm tăng năng suất lao động, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và gia tăng sức cạnh tranh. Song song với đó là chi phí đối với lao động, thị trường lao động hiện rất được quan tâm. Trong đó, DNNVV cũng song song cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài về lực lượng lao động, kéo theo chi phí lao động tăng lên. Nhưng bản thân doanh nghiệp luôn xác định đó là chi phí thiết yếu và vẫn được duy trì bởi chi phí lao động tăng sẽ nâng cao được chất lượng và năng suất sản phẩm, như vậy vẫn đảm bảo sự phát triển cho doanh nghiệp và giảm giá thành sản phẩm, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng

– Vậy giải pháp như thế nào để thực hiện hiệu quả Nghị quyết 19 và Nghị quyết 35?

Ông Nguyễn Văn Thời: DN chúng tôi đang tự thân đề xuất, tự thân kiến nghị. Chúng tôi có thể tiếp cận những DN phát triển nhất trên thế giới, sau đó chúng tôi cũng mày mò, học tập và làm theo. Ngành may đã xây dựng chương trình kiến nghị để báo cáo chủ tịch nước. Từ đó nhà nước ban hành chính sách. Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của ngành dệt may hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra sản phẩm, mẫu mã tốt nhất, trong khi nguyên liệu kém. Để ngành dệt may dần dần phát triển, từng DN phải đặt ra lộ trình xây dựng thương hiệu trong nước và tiến ra nước ngoài. Chính vì mục tiêu như vậy mà thấy vướng mắc gì chúng tôi kiến nghị Nhà nước cái đó Những năm tới chúng tôi cần cơ quan quản lý ra “thước đo”, Hiệp hội DN và VCCI sẽ là người “đo” kết quả hoạt động, từ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển.

Ông Hoàng Trần Hiếu: Phải chuyển từ việc chủ động của Nhà nước đối thoại với doanh nghiệp thành việc đề xuất của tổ chức nghề nghiệp, doanh nghiệp gặp gỡ cơ quan Nhà nước. Có thể là đối thoại trong phạm vi nhỏ, giúp doanh nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp dễ dàng chia sẻ và đề xuất với cơ quan chức năng. Đặc biệt, để NQ 35 đi vào đời sống phải chú trọng, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu từ phía các Hiệp hội và cơ quan Nhà nước. Phải có cơ chế giám sát và kiểm điểm với người đứng đầu các đơn vị này.

Ông Nguyễn Minh Phong: Chúng tôi tin rằng sắp tới tinh thần nghị quyết 19, nghị quyết 35 sẽ tiếp tục được lặp lại, thậm chí ở mức độ cao hơn với tinh thần Chính phủ kiến tạo. Do đó, vấn đề làm thế nào để tăng hiệu quả vẫn sẽ phải tiếp tục. Như tôi đã nói từ đầu với những kết quả thực hiện bước đầu, chúng ta hãy bám vào đó để thực hiện tiếp. Các cấp, ngành, VCCI cần chủ động rà soát lại cái văn bản hội nhập để xây dựng và tạo thuận lợi cho DN. Chính phủ cần họp định kỳ và những nội dung của nghị quyết phải được đưa ra để nghe, báo cáo và kịp thời giải quyết cho DN. Bên cạnh đó, xác lập tốt hơn vai trò của người đứng đầu (Thủ tướng, Quốc hội, Bộ trưởng…) để có răn đe thực sự mạnh mẽ tạo ra sức ép mạnh cho người thừa hành; đồng thời sẽ lan toả tới từng nhân viên thấp nhất. Và chỉ khi nào sự lan toả này tới được tới người cuối cùng thì mới giải quyết được vấn đề. Đồng thời, xây dựng được hệ thống thông tin, tiện cho tiếp cận và chia sẻ thông tin, khiếu nại đơn, kêu cứu của DN và được truyền tải trực tiếp thì những điểm cần phải gỡ sẽ nhận diện rất nhanh. Ngoài ra, vai trò của cơ quan báo chí, thanh kiểm tra, hiệp hội, quần chúng… là rất quan trọng. Nếu nhìn ở cấp độ khái quát có 3 việc phải làm: thứ nhất, xây dựng giá trị chuẩn quốc gia cho bộ, ngành, doanh nghiệp khi đó mới tạo ra thước đo đúng để nhận diện những cái sai loại bỏ. Thứ hai, xây dựng cơ chế tốt bảo vệ tốt lợi ích quốc gia và lợi ích công cộng. Thứ ba, xây dựng một đội ngũ cán bộ.

Ông Đậu Anh Tuấn: Tôi đồng tình với quan điểm từ thực tiễn của anh Thời. Theo tôi muốn thay đổi việc gì đều phải có động lực. Đề xuất của anh Thời khiến tôi nhớ đến câu nói của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: “Cái gì không đo được tức là không cải cách mạnh mẽ được”. Đây là đòi hỏi cơ quan chiến lược như anh Hiếu đó là cần những thước đo cụ thể.

Nhóm PV

6 Giải Pháp Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư

Enternews.vn“Vĩnh Phúc sẽ nỗ lực nhiều hơn để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012 và những năm tiếp theo.

(DĐDN) “Vĩnh Phúc sẽ nỗ lực nhiều hơn để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh” – đó là khẳng định của ông Phùng Quang Hùng – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc với DĐDN về việc cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2012 và những năm tiếp theo.

Theo ông Hùng, chỉ số PCI là một trong những công cụ hữu ích để tỉnh Vĩnh Phúc đánh giá về môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh của tỉnh, thấy rõ hơn những hạn chế yếu kém cần khắc phục, những điểm mạnh cần phát huy. Từ đó, tỉnh có giải pháp thúc đẩy các cấp, các ngành của tỉnh đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực… để cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư vào tỉnh, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội tại địa phương.

– Vậy theo ông, nguyên nhân nào khiến PCI của Vĩnh Phúc năm 2011 giảm hai bậc so với năm 2010 (17/63) và 14 bậc so với năm 2008 ?

Về khách quan, tôi cho rằng, cơ chế, chính sách đất đai có những thay đổi làm ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhất là khi thực hiện Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Vĩnh Phúc là tỉnh có địa giới hành chính giáp TP Hà Nội nên giá bồi thường có sự chênh lệch lớn, dẫn đến nhà đầu tư, DN và người dân rất khó đạt được thỏa thuận về giá bồi thường.

Trong những năm qua, Vĩnh Phúc đẩy mạnh phát triển công nghiệp và đô thị theo quy hoạch, nhiều dự án đồng loạt triển khai; một số dự án trọng điểm quốc gia như đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường điện 500 KV Sơn La – Hiệp Hòa qua Vĩnh Phúc cùng một số yếu tố khác làm cho mặt bằng giá đất của Vĩnh Phúc cao hơn một số tỉnh lân cận. Do đó giá thuê lại đất có hạ tầng trong KCN cũng cao hơn các tỉnh trong khu vực, làm cho các nhà đầu tư khó tiếp cận thuê đất trong KCN để đầu tư thực hiện dự án.

Về chủ quan, do việc công bố các tài liệu về cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của tỉnh, quy trình giải quyết thủ tục hành chính của các sở ban ngành còn chậm, chưa đầy đủ làm giảm khả năng tiếp cận thông tin của DN, ảnh hưởng đến tính minh bạch về cơ chế, chính sách, quy trình giải quyết thủ tục hành chính… Một vài trường hợp có biểu hiện gây khó cho DN khi thực hiện các thủ tục hành chính tại cơ quan nhà nước.

– Từ những nguyên nhân đó, Vĩnh Phúc đã rút ra được kinh nghiệm, giải pháp gì để cải thiện chỉ số PCI năm 2012 và những năm tới, thưa ông ?

Lãnh đạo tỉnh tập trung, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc cho DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; trong đó tăng cường đối thoại trực tiếp với DN để kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc của DN. Đặc biệt trong công tác GPMB, UBND tỉnh thường xuyên rà soát lại các chính sách, điều chỉnh bổ sung và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách đất đai phù hợp với thực tế địa phương. Tỉnh cũng đã thành lập Ban GPMB và phát triển quỹ đất cấp tỉnh, củng cố hoạt động của hội đồng bồi thường, GPMB ở cấp huyện để thực hiện công tác bồi thường, GPMB giúp các nhà đầu tư sớm có mặt bằng triển khai thực hiện dự án.

Hiện nay tỉnh đang khẩn trương thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN (thuộc Ban Quản lý các KCN) với nhiệm vụ thực hiện dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật KCN, tạo quỹ đất có hạ tầng trong KCN để cho thuê với mức giá hợp lý, để thu hút các dự án trong lĩnh vực ưu tiên phát triển của tỉnh. Đối với các dự án thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ phù hợp với định hướng thu hút của tỉnh đầu tư vào KCN, HĐND tỉnh đã có Nghị quyết miễn các khoản phí, lệ phí khi thực hiện các thủ tục hành chính và hỗ trợ kinh phí lập dự án… Đề án dạy nghề, giải quyết việc làm và giảm nghèo trên địa bàn tỉnh cũng đang triển khai góp phần từng bước đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng lao động cho DN và các nhà đầu tư trên địa bàn.

Bên cạnh đó, tỉnh quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh cải cách hành chính. Tiếp tục duy trì có hiệu quả cơ chế một cửa và một cửa liên thông trong giải quyết các thủ tục hành chính, nghiên cứu áp dụng mô hình dịch vụ hành chính công. Tỉnh đã thành lập Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh, là đầu mối giải quyết các thủ tục hành chính các dự án FDI, DDI theo cơ chế một của liên thông để hỗ trợ nhà đầu tư, DN, giảm thời gian chờ đợi, tăng cơ hội đầu tư. Thực hiện công khai, minh bạch trong giải quyết các nhu cầu của người dân và DN. Nâng cao trình độ, nhận thức và kỹ năng đội ngũ cán bộ công chức để đáp ứng nhu cầu công việc.

Chỉ số PCI được coi là công cụ quan trọng để đo lường, đánh giá công tác quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương. Từ năm 2005 đến nay, PCI của Vĩnh Phúc luôn thuộc nhóm tốt. Mặc dù, thứ hạng đã có sự thay đổi qua các năm. Cụ thể, năm 2011, xếp 17/63 tỉnh, thành, tụt 2 bậc so với năm 2010 và 14 bậc so với năm 2008.

Khắc Lãng thực hiện



Cập nhật thông tin chi tiết về Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài Tại Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!