Xu Hướng 2/2024 # Các Yếu Tố Liên Quan Đến Mức Độ Nặng Của Viêm Phổi Ở Trẻ Em Từ 2 Tháng Đến 5 Tuổi # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Các Yếu Tố Liên Quan Đến Mức Độ Nặng Của Viêm Phổi Ở Trẻ Em Từ 2 Tháng Đến 5 Tuổi được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

RISK FACTORS OF SEVERE PNEUMONIA IN CHILDREN

Background and Aims: Pneumonia is a common diagnosis and a leading cause of mortality in children. Aim of the study is to evaluate factors related to the severity of pneumonia in children aged 2 months to 5 years. Methods: A descriptive cross-sectional study was conducted in 221 children aged 2 months to 5 years with pneumonia admitted to the Pediatric Center Hue National hospital from April 2024 to May 2024. Separate logistic regression analyses were used to identify determinants in children of this age group. Results: Risk factors associated with severe pneumonia in children aged 2 months to 5 years were malnutrition, living in the rural areas, delay treatment for 3 days or more, passive smoking, young age with corrected ORs of 5.143 (2.174-2.167); 3.870 (1.244-12.043); 3.214 (1.165-8.867); 2.714 (1.162-6.339); 0.952 (0.910-0.997), respectively. Sex, number of siblings, history of prematurity or low birth weight, inadequate breastfeeding, previous RTIs, previous antibiotic use at home, mothers’ education, insufficient vaccination, history of chronic diseases, contact with persons with RTIs did not associate with the severity of pneumonia. Conclusions: Risk factors associated with severe pneumonia in children aged 2 months to 5 years were malnutrition, living in the rural areas, delay treatment for 3 days or more, passive smoking, young age.

Keywords: pneumonia, risk factors, children aged 2 months to 5 years.

* ThS. BS. Nguyễn Thị Thanh Phương, Bệnh viện Nhi Quảng Nam

**PGS. TS. BS. Bùi Bỉnh Bảo Sơn, Bộ môn Nhi, Trường Đại Học Y Dược Huế

Viêm phổi là bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em. Ước tính năm 2010, có 120 triệu trường hợp viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi, trong đó 14 triệu trường hợp diễn tiến thành viêm phổi nặng [12]. Việc chẩn đoán và điều trị viêm phổi chủ yếu dựa vào dịch tễ, lâm sàng và X-quang phổi. Các chiến lược quản lý viêm phổi vẫn chưa tối ưu, một phần vì chúng ta chưa có đủ phương tiện để xác định bệnh nguyên, phân loại và tiên lượng cho bệnh nhân. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ mới mắc và mức độ nặng của viêm phổi, đặc biệt ở các nước đang phát triển như: tuổi nhỏ, cân nặng lúc sinh thấp, suy dinh dưỡng, nhà đông con, trình độ học vấn của bố mẹ thấp, không khí trong nhà ô nhiễm, thiếu sữa mẹ, không được chủng ngừa vắc xin đầy đủ, có bệnh mạn tính kết hợp, số lần nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) trước đây hay tiền sử tiếp xúc với người NKHHCT trong nhà [4],[6],[10],[11],[14]… Việc xác định các yếu tố nguy cơ này góp phần tiên lượng và đưa ra biện pháp dự phòng thích hợp.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 221 bệnh nhi bị viêm phổi vào điều trị tại Trung tâm Nhi khoa Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2024 đến 5/2024

Tiêu chuẩn chọn bệnh: trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi, viêm phổi nặng theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới [13].

Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, chọn mẫu thuận tiện

Tất cả bệnh nhi nghiên cứu được hỏi tiền sử, bệnh sử, thăm khám lâm sàng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng.

Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

Suy dinh dưỡng là một trong những yếu tố thuận lợi cho vi trùng gây bệnh nặng trong tất cả các trường hợp nói chung và viêm phổi nói riêng. Theo nghiên cứu của chúng tôi, nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ bị suy dinh dưỡng cao gấp 5,143 lần so với trẻ không suy dinh dưỡng. Nhiều nghiên cứu khác cũng ghi nhận kết quả tương tự: Nguyễn Thành Nhôm và CS (2024), Phan Xuân Mai (2001), Onyango và CS (2012) [1], [2], [9].

Nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ hít khói thuốc lá cao gấp 2,714 lần so với trẻ không hít khói thuốc lá. Nhiều nghiên cứu khác cũng đưa ra hít khói thuốc lá là một yếu tố nguy cơ của viêm phổi nặng: Azab và CS (2014), Jroundi và CS (2014), Hassan và CS (2011) [5], [7], [8].

Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ sống ở nông thôn cao gấp 3,870 lần trẻ sống ở thành thị. Điều này có thể giải thích là do điều kiện kinh tế ở nông thôn thấp hơn thành thị, hệ thống y tế ở nông thôn chưa phát triển, đội ngũ cán bộ y tế thiếu về số lượng lẫn chất lượng nên trẻ thường được đưa đi khám khi bệnh đã nặng buộc phải nhập viện. Mặc khác, nhận thức và chất lượng đời sống cao nên người dân thành thị thường đưa trẻ đến các phòng mạch tư khám và chữa bệnh sớm ngay từ đầu. Ngày nay hệ thống phòng mạch tư nhân ở thành phố phát triển, bên cạnh đó nhiều loại thuốc kháng sinh có hiệu quả bằng đường uống ra đời nên các trường hợp viêm phổi nhẹ ở thành phố có thể được điều trị tại nhà mà không cần nhập viện. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Phan Xuân Mai (2001) [1].

Nguy cơ viêm phổi nặng ở trẻ khởi bệnh từ 3 ngày trở lên cao gấp 3,214 lần so với trẻ khởi bệnh dưới 3 ngày. Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự: Onyango và CS (2012), Phan Xuân Mai (2001) [1], [9]. Diễn tiến viêm phổi ở trẻ em rất nhanh chóng. Sự chậm trễ đưa trẻ đi khám và điều trị làm tăng mức độ nặng của viêm phổi, thậm chí có thể tử vong.

3. Bùi Bỉnh Bảo Sơn (2012), “Viêm phổi do vi khuẩn mắc phải tại cộng đồng ở trẻ em“, Nhà xuất bản Đại học Huế, tr. 290-332.

4. Trần Quỵ (2006), “Đặc điểm giải phẫu sinh lý bộ phận hô hấp trẻ em“, Bài giảng Nhi khoa, tập 1, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 274-279.

5. Azab SF., Sherief LM., Saleh SH. et al (2014), “Impact of the socioeconomic status on the severity and outcome of community-acquired pneumonia among Egyptian children: a cohort study”, Infect Dis Poverty, 3, pp. 3-14.

6. Djelantik IG., Gessner BD., Sutanto A. et al (2003), “Case fatality proportionsand predictive factors for mortality among children hospitalized with severe pneumonia in a rural developing country setting”, J Trop Pediatr, 49(6), pp. 327-332.

7. Hassan MK., Al-Sadoon I. (2001), “Risk factors for severe pneumonia in children in Basrah”, Trop Doctor, 31(3), pp. 139-141.

8. Jroundi I., Mahraoui C., Benmessaoud R. et al (2014), “Risk factors for a poor outcome among children admitted with clinically severe pneumonia to a university hospital in Rabat, Morocco”, Int J Infect Dis, 28, pp. 164-170.

9. Onyango D., Kikuvi G., Amukoye E. et al (2012), “Risk factors of severe pneumonia among children aged 2-59 months in Western Kenya”, Pan African Medical Journal, 13(45), pp. 1733.

10. Rudan I., Boschi-Pinto C., Biloglav Z. et al (2008), “Epidermiology and etiology of childhood pneumonia”, Bulletin of the World Health Organization, 86(5), pp. 408-416.

11. Tiewsoh K., Lodha R., Pandey RM. et al (2009), “Factors determining the outcome of children hospitalized with severe pneumonia”, BMC Pediatrics, 9(15), pp. 1471-2431.

12. Walker CL., Rudan I., Liu L. et al (2013), “Global burden of childhood pneumonia and diarrhoea”, The Lancet, 381(9875), pp. 1405-1416.

13. WHO (2013), “Pocket book of hospital care for children“, Guidelines for the management of common childhood illness, second edition, pp. 80-87.

14. Wonodi CB., Deloria-Knoll M., Feikin DR. et al (2012), “Evaluation of Risk Factors for Severe Pneumonia in Children: The Pneumonia Etiology Research for Child Health Study”, Clinical Infectious Diseases, 54(2), pp. 124-131.

Nguyễn Thị Thanh Phương* Bùi Bỉnh Bảo Sơn**

Nồng Độ Beta Hcg Là Gì Và Liên Quan Đến Tuổi Thai Như Nào?

Trong bụng mẹ, bào thai được nuôi dưỡng nhờ vào bánh nhau thông qua dây rốn. Bánh nhau có nhiệm vụ làm hàng rào trao đổi chất giữa cơ thể mẹ và thai nhi. Ngoài ra, bánh nhau còn có chức năng nội tiết bằng cách bài tiết ra các hormone điều hòa quá trình mang thai.

Một trong các loại hormone đó là HCG (Human Chorionic Gonadotropin). Đây là hormone có bản chất peptid, được tiết ra từ hợp bào nuôi, có vai trò kích hoạt các tế bào mầm của bào thai phát triển và trưởng thành. Đồng thời, HCG còn giúp kích thích tiết ra hormone sinh dục, hình thành giới tính của thai nhi.

2. HCG có khi nào?

HCG được bắt đầu sinh ra ngay sau khi trứng được thụ tinh và bắt đầu làm tổ trên niêm mạc tử cung. Lúc này, nồng độ HCG sẽ xuất hiện trong máu, tăng nhanh đến lúc đạt nồng độ tối đa là tại thời điểm hai tháng rưỡi. Sau giai đoạn này, lượng HCG sẽ giảm dần đến một mức độ ổn định vào khoảng tháng thứ tư và kéo dài đến lúc sinh.

Về cấu tạo, HCG gồm hai tiểu đơn vị khác nhau, gọi là alpha và beta. Vì tiểu đơn vị alpha giống với chuỗi alpha của FSH và LH, chỉ có tiểu đơn vị beta mới đặc hiệu cho HCG, định lượng nồng độ beta HCG trở thành cơ sở cho định lượng HCG, là mối quan tâm của không chỉ của phụ nữ mong chờ mình có thai mà còn là của bác sĩ sản khoa theo dõi thai kỳ.

3. Xét nghiệm nồng độ beta HCG bằng cách nào?

Ngay sau khi được bánh nhau tạo ra, HCG sẽ nhanh chóng khuếch tán ngược dòng vào máu mẹ và thải nguyên dạng ra nước tiểu. Như vậy, có thể định tính hoặc định lượng HCG trong máu và nước tiểu của sản phụ. Đây là cơ sở của việc dùng que thử thai có chứa chất phản ứng với beta HCG. Vậy nên xét nghiệm này là dấu hiệu nhận biết sớm nhất của sự mang thai.

Xét nghiệm này là dấu hiệu nhận biết sớm nhất của sự mang thai. Đồng thời, tại bệnh viện, việc đo nồng độ HCG trong máu bằng phương pháp phóng xạ hoặc sinh hóa để xác định tuổi thai cũng như gián tiếp đánh giá tình trạng sức khỏe của thai kỳ.

Việc định lượng beta HCG cho phép chẩn đoán có thai sớm ngay cả khi chưa có dấu hiệu trễ kinh. Bằng cách đo lường chính xác nồng độ beta HCG với độ nhạy cao, có thể xác định đã thụ thai ngay từ ngày thứ 8, 9 sau khi rụng trứng, tức ngày thứ 22, 23 của chu kỳ kinh nguyệt (áp dụng với phụ nữ có chu kỳ kinh đều khoảng 28 ngày).

Sau đó, nồng độ beta hCG tăng lên rất nhanh, tăng gấp đôi chỉ sau 1,4 đến 2 ngày khi hợp tử bắt đầu làm tổ. HCG sẽ đạt ngưỡng cao nhất tại thời điểm ngày thứ 60 đến 70 và giảm dần tới mức thấp nhất, ổn định vào khoảng sau 100 đến 130 ngày.

5. Những ý nghĩa khác của nồng độ HCG

Bên cạnh vai trò có thể xác định tuổi thai, xét nghiệm nồng độ beta HCG trong máu còn giúp theo dõi tình trạng thai kỳ. Khi kết quả đo lượng beta HCG trong máu không tuân thủ theo đường cong sinh lý thông thường, việc mang thai nghi ngờ có vấn đề bất thường.

Nếu sự xuất hiện của HCG trong máu hoặc trong nước tiểu lần đầu đã có bằng chứng mà nay xét nghiệm lặp lại nồng độ HCG thấp, không tăng tương xứng với tuổi thai thì có thể thai đã bị sẩy, thai chết lưu hay mang thai ngoài tử cung.

Ngược lại, nếu nồng độ HCG cao bất thường, nên nghĩ tới khả năng tính tuổi thai bị non tháng, mang đa thai hay có thai trứng, bệnh lý tế bào nuôi…

Xét nghiệm nồng độ beta HCG trong máu còn giúp theo dõi tình trạng thai kỳ

Xét nghiệm beta HCG chỉ giúp xác định có thai, theo dõi sự phát triển của thai nhi thông qua sự phát triển của bánh nhau, chứ hoàn toàn không phản ánh được gì về giới tính, cân nặng, trí thông minh của thai. Chính vì vậy, các mẹ bầu không nên quá lo lắng về nồng độ beta HCG, không nên theo dõi xét nghiệm liên tục, trong khi sức khỏe của bé yêu còn có thể được đánh giá qua những chỉ số khác, những phương tiện khác. Theo đó, việc cần làm là các sản phụ hãy có một kỳ an thai lành mạnh, kết hợp ăn uống, tập luyện và nghỉ ngơi hợp lý, chuẩn bị sẵn sàng để chào đón bé yêu ra đời.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Trẻ Sơ Sinh Từ 2 Đến 6 Tháng Tuổi Lười Ăn: Nên Làm Gì Khi Con Ít Ăn?

Các mẹ xôn xao về việc trẻ sơ sinh lười ăn, ăn ít

Mẹ Của Sóc: Bé nhà mình được 2 tháng tuổi nhưng rất biếng ăn. Sữa mẹ thì tháng đầu nhiều, bé ăn rất ngoan. Bắt từ tháng thứ 2 sữa có giảm nhưng mình vắt ra mỗi lần đều được 120ml. Vậy mà không hiểu sao mỗi lần cho bú, con đều quấy khóc, vặn vẹo người không chịu ăn. Tình trạng này diễn ra 2, 3 hôm nay rồi nên mình thấy sốt ruột quá! Các mẹ có cách nào để trẻ sơ sinh 2 tháng lười ăn mà ăn ngoan trở lại không ạ?

Laiuyenthu: Bé nhà em thì được 3 tháng. Mỗi lần ti mẹ có vài nhát là lơ mơ ngủ, đặt nằm xuống lại khóc vì ăn chưa đủ mà. Em phải vắt sữa ra bình cho ti nhưng ăn rất lâu vì vừa ăn vừa buồn ngủ. Chả hiểu sao con em lúc nào cũng kiểu thèm ngủ ấy. Đêm mà không đút bình vào mồm thì cu cậu ngủ luôn. Em sinh lần đầu chả biết phải làm sao, nhiều khi stress vì con ăn ít. Các mẹ ơi, tình trạng trẻ sơ sinh 3 tháng tuổi biếng ăn là giống nhau ạ?

Audi: Không phải trẻ sơ sinh 3 tháng tuổi đều biếng ăn như thế đâu mẹ nó ạ. Con nhà mình vẫn ăn ngoan đến 6 tháng tuổi này. Trẻ sơ sinh lười ăn hay ăn ít mình nghĩ do sữa mẹ có vấn đề hoặc mỗi cữ bú gần nhau quá thôi. Mình thì cho con bú theo nhu cầu, lúc nào con đói thì cho bú không thì thôi cho con ngủ ý. Mẹ không cần quá lo đâu thử cách mỗi cữ bú ra xem sao.

Thỏ xinh: Có mẹ nào như mình không, con được 6 tháng, sữa ngày càng ít. Mình đang nghĩ cho con chuyển qua ăn dặm vì sữa không đủ. Không biết trẻ sơ sinh 6 tháng tuổi nên ăn gì nhỉ?

Nguyetvt: Bé nhà em cũng như Laiuyenthu đó, nhưng con em được 4 tháng rồi. Có những lần 2 mẹ con “chiến đấu” cả đêm. Bé cứ vừa ăn vừa ngủ rồi ngậm ti. Xong em cũng vắt sữa ra bình, ban đầu thì cũng ăn nhanh lắm xong được 2 hôm lại nhả bình không chịu bú, quay về tìm ti mẹ. Mẹ chồng bảo: Trẻ sơ sinh ăn ít, lười ăn sữa mẹ thì phải cho ăn sữa ngoài hay ăn dặm dần đi bởi ti con không đủ gam cho em bé.

Thanh Huyền: Em cũng sốt ruột quá các mẹ ơi, không biết trẻ sơ sinh lười ăn thì nên làm gì, cho ăn gì con mới chịu đây?

Tại sao trẻ sơ sinh lười ăn thường gặp ở độ tuổi từ 2 đến 6 tháng?

Sữa mẹ có vấn đề sẽ khiến trẻ sơ sinh lười ăn

Chế độ ăn uống của mẹ hàng ngày ảnh hưởng rất nhiều đến sữa của con. Vì thế, bác sỹ mới khuyên các mẹ khi ăn nên theo dõi con xem có biểu hiện gì lạ không. Hệ tiêu hóa của con rất nhạy cảm, non yếu nên cần cẩn thận vì sẽ làm con non trớ, quấy khóc và lười ăn. Nếu như đột nhiên con quấy khóc, hay không chịu ăn sữa mẹ nên kiểm tra lại xem có ăn thứ gì lạ khiến con bỏ sữa mẹ không.

Con đang trong giai đoạn thay đổi cũng có thể sẽ biếng ăn

Trẻ sơ sinh ăn ít hay lười ăn cũng có thể là biểu hiện sinh lý bình thường chỉ diễn ra trong vài ngày, sau đó sẽ trở lại như cũ. Trẻ sơ sinh nói riêng và trẻ nhỏ nói chung  đều đang trong giai đoạn phát triển. Nếu như trẻ đang từ giai đoạn này sang giai đoạn khác thì sẽ thường lười ăn ít ngày.

Chẳng hạn như trẻ sơ sinh từ 2 đến 6 tháng tuổi biếng ăn có thể là do bé đang trong giai đoạn tập lẫy, từ bú mẹ chuyển sang ăn dặm,… Vì thế, mẹ không cần quá lo lắng.

Các mẹ thường quá lo lắng về việc con ăn ít. Cứ đặt ra mục tiêu cho con là mỗi ngày phải bú bao nhiêu ml mới đủ. Người mẹ thường bắt con bú theo ý muốn của mình mà không theo nhu cầu của con nên dẫn đến tình trạng con chán ăn. Nếu trẻ sơ sinh lười ăn thì bản thân người mẹ cũng không thể ép được vì nếu ép con có thể bị trớ, ảnh hưởng sức khỏe của con.

Tác hại mà trẻ sơ sinh 2 tháng lười ăn hay trẻ sơ sinh 3, 4 tháng tuổi biếng ăn gây ra như thế nào chắc các mẹ đều biết. Nó sẽ khiến con thiếu các vi chất để có thể phát triển khỏe mạnh, sức đề kháng kém. Về lâu dài, cơ thể thiếu năng lượng dễ dẫn đến mệt mỏi.

Trẻ lười ăn CHẬM LÊN CÂN, ảnh hưởng phát triển TRÍ NÃO, THỂ CHẤT

Mẹ cần làm gì? Hỏi ý kiến chuyên gia để được tư vấn chi tiết và hoàn toàn MIỄN PHÍ CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG phù hợp nhất, chấm dứt tình trạng con chậm lên cân.

Cha mẹ nên làm gì khi trẻ sơ sinh lười ăn, ăn ít?

Trẻ sơ sinh ăn ít hay biếng ăn cần phải có những phương pháp để cải thiện tình trạng. Mẹ có thể áp dụng một số cách như sau:

Điều chỉnh lại chế độ ăn của bản thân

Rất có thể do ăn nhầm loại thực phẩm nào đó không nên ăn mà các mẹ đã khiến trẻ sơ sinh lười ăn, bỏ bú. Vì thế, trước khi ăn một loại thực phẩm cần tìm hiểu kỹ lưỡng về nó xem có ảnh hưởng gì đến sữa cho con bú không? Mẹ sau khi sinh nên tránh ăn các thực phẩm cay nóng, chiên rán nhiều dầu mỡ,.. vừa không tốt cho sức khỏe, vừa ảnh hưởng sữa của con.

Thay đổi thói quen bú sữa mẹ khi trẻ sơ sinh lười ăn

Nếu như mẹ đang bắt ép con ăn theo ý muốn của mình nhưng con không chịu thì hãy thử đổi sang phương pháp để con ăn khi con có nhu cầu. Hoặc với các mẹ đang thử phương pháp cho con tự do ăn uống mà không hiệu quả thì hãy thử ngược lại phương pháp kia. Mỗi cữ bú cách nhau tầm 3 tiếng là được.

Con háu ngủ quá có thể đánh thức con, chơi với con cho tỉnh ngủ rồi cho con ăn. Tuy nhiên, với buổi tối, nếu con ngủ ngoan hãy cứ cho con ngủ một mạch tới sáng là tốt nhất.

Trữ sẵn sữa trong tủ để khi con đói có thể cho ăn

Đối với các phương pháp cho con tự ăn theo nhu cầu thì mẹ hãy vắt sữa ra để vào tủ lạnh để khi nào con đói có thể sẵn ăn. Bú mẹ trực tiếp luôn là tốt nhất, nhưng để đảm bảo con vẫn được bú mẹ trong lúc mẹ đi làm, hay không có nhà hoặc mẹ bị ốm thì nên trữ sữa. Trẻ sơ sinh biếng ăn nhưng cũng biết đói nên hãy trữ lượng sữa đủ cho con để phòng khi cần thiết.

Trẻ sơ sinh 6 tháng tuổi nên ăn gì?

Đối với các bé từ 2, 3, 4, 6 tháng tuổi thì nên cho con bú sữa mẹ hoàn toàn bởi sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng dồi dào nhất cho con. Với trẻ sơ sinh 6 tháng tuổi ngoài bú sữa mẹ, có thể cho con ăn dặm thêm. Mẹ có thể bổ sung món ăn dặm theo nhóm như:

Nhóm I: Ngũ cốc (Bắt đầu từ cháo trắng nghiền thật nhỏ).

Nhóm II: Rau củ, quả (Cà rốt, khoai tây, khoai lang, bí đỏ, chuối, bơ,..).

Nhóm Ⅲ: Thịt lợn, thịt gà nạc.

Nếu như những tháng sau ít sữa mẹ có thể sử dụng sản phẩm Viên uống lợi sữa Mabio để cải thiện tình trạng. Đây là sản phẩm giúp chuyển hóa chất dinh dưỡng từ mẹ vào sữa tốt nhất làm cho sữa thơm, đặc, sánh và nhiều hơn. Ngoài ra, Mabio còn giúp các mẹ chữa tắc tia sữa, mất sữa có được nguồn sữa dồi dào.

Đây là sản phẩm có nguồn gốc 100% thảo dược tự nhiên nên có thể hoàn toàn yên tâm, không gây tác dụng phụ.

Nguồn: Mabio.vn

Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Chức Năng Của Nhà Nước Đương Đại (Phần 2)

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC ĐƯƠNG ĐẠI (Phần 2)

Nguyễn Thị Thu Na

Bản chất nhà nước quy định chức năng nhà nước, nhưng thức tế còn có những yếu tố khác tác động đến chức năng nhà nước. Những yếu tố làm cho chức năng của nhà nước đương đại trở nên đa dạng, phức tạp tạo ra những sắc thái riêng của mội nhà nước cụ thể là những yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan, yếu tố lịch sử, yếu tố thời đại, yếu tố nội sinh, yếu tố ngoại sinh,..nhưng có những yếu tố diển hình tác động trực tiếp đến chức năng, để lại dấu ấn đậm nét trong các lĩnh vực hoạt động của các nhà nước.

2.1. Các yếu tố bên trong:

2.1.1 Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, kinh tế trong xã hội – Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của xã hội ở các thời kỳ nhất định. Về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất xã hội bao gồm hệ thống những tư liệu sản xuất mà người ta dùng cho sản xuất, trong đó quan trọng nhất là công cụ lao động. Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế là những nhân tố ảnh không nhỏ đến chức năng nhà nước. Mỗi bước phát triển của đời sống kinh tế lại đặt ra yêu cầu mới có tính xác định cụ thể với bộ máy nhà nước. Từ đó, chức năng nhà nước cũng có sự biến đổi, đòi hỏi cần phải có nhận thức mới đầy đủ hơn về nó.

Ví dụ, ở Việt Nam, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, trình độ lao động ngày càng tăng, dẫn đến số lượng sản phẩm càng nhiều, nền kinh tế đi lên để phù hợp với lực lượng sản xuất, đòi hỏi Nhà nước phải có các chính sách, chủ trương, cơ chế mới để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đúng với giai đoạn hiện tại.

Chức năng kinh tế là một trong những chức năng quan trọng nhất của nhà nước và được hiểu là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước trong tổ chức, điều tiết và quản lý nền kinh tế nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu vật chất của người dân, nhà nước và của toàn xã hội.

Tổ chức, điều tiết, quản lý kinh tế là nhiệm vụ xuyên suốt của nhà nước trong mọi thời kỳ phát triển của lịch sử. Dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau, như: bản chất nhà nước, ý chí của giai cấp thống trị, điều kiện cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên, trình độ nhận thức… các hình thức, phương thức thực hiện, mục đích thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước có thể khác nhau. Nhưng, ngay từ khi ra đời cho đến nay, sự tham gia của nhà nước vào các hoạt động kinh tế luôn có tính tất yếu, khách quan. Không thể có một nhà nước tồn tại tách biệt khỏi điều kiện cơ sở vật chất của xã hội. Cũng không thể có một xã hội có sự quản lý của nhà nước mà nền kinh tế lại đặt ra ngoài hoạt động của nhà nước. Ngay từ những bộ cổ luật đầu tiên của thế giới nhân loại đã biết đến các hình thức hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng ruộng đất, những quy định về thừa kế, quyền sở hữu nô lệ, quyền sở hữu ruộng đất của chủ nô cũng như của các giai cấp thống trị trong việc bảo vệ tư liệu sản xuất, tài sản của mình. Còn ở các nhà nước hiện đại, không thể thiếu những quy định của pháp luật về thị trường tài chính, về tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp, về hoạt động thương mại, về đăng ký, thành lập doanh nghiệp…

Trong lịch sử cũng đã tồn tại quan điểm cho rằng, sự tham gia của nhà nước vào nền kinh tế là không cần thiết. Theo thuyết “Bàn tay vô hình”, sẽ tốt hơn nếu thị trường tự quyết định, tự điều chỉnh theo chính nhu cầu vốn có của nó mà không cần có sự can thiệp của nhà nước. Nhưng, thực tế lịch sử cho thấy, thiếu sự điều tiết của nhà nước nền kinh tế dễ bị tổn thương như thế nào. Nhưng ngay cả khi áp dụng lý thuyết này, nhà nước vẫn không đứng ngoài cuộc. Vai trò điều tiết của nhà nước lúc này là thông qua những quy định pháp lý về sự tự do hóa nền kinh tế, mở cửa thị trường, những quy định về các loại hình công ty, thương hội

2.1.2. Cơ cấu – phân tầng xã hội, mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội

Yếu tố này xuất phát từ sự ảnh hưởng của bản chất Nhà nước (tính xã hội) đến chức năng nhà nước và ảnh hưởng lớn đến chức năng Nhà nước. Cơ cấu phân tầng của xã hội càng phức tạp, tức xã hội càng nhiều giai cấp, thì nhà nước càng cần phát triển các chức năng để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mối quan hệ giữa các nhóm lợi ích trong xã hội về kinh tế chính trị, xã hội…là cơ sở để nhà nước phát triển các chức năng của mình nhằm đảm bảo tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước.

Khi nghiên cứu nguồn gốc Nhà nước ta thấy rằng nhà nước xuất hiện do 2 nguyên nhân: nguyên nhân kinh tế (sự xuất hiện chế độ tư hữu) và nguyên nhân xã hội (sự xuất hiện của giai cấp và mâu thuẫn giai cấp). Căn cứ vào đó có thể thấy bản chất nhà nước được thể hiện ở hai mặt, đó là tính giai cấp của nhà nước và vai trò xã hội.

Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác đều thể hiện dưới ba loại quyền lực là quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế và quyền lực tư tưởng. Trong đó, quyền lực kinh tế giữ vai trò quyết định, là cơ sở để bảo đảm cho sự thống trị giai cấp. Quyền lực kinh tế co ý nghĩa quan trọng vì nó tạo ra cho người chủ sở hữu khả năng có thể bắt những người bị bóc lột phải phụ thuộc về mặt kinh tế. Nhưng bản thân quyền lực kinh tế không thể duy trì được các quan hệ bóc lột. VÌ vậy, cần phải có nhà nước, một bộ máy cưỡng chế đặc biệt để củng cố quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế và để đàn áp sự phản kháng của các giai cấp bị bóc lột. Nhờ có nhà nước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành giai cấp thống trị về chính trị. Nói cách khác, giai cấp thống trị đó trở thành chủ thể của quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị.

Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của nhà nước. Tuy nhiên, với tư cách là bộ máy thực thi quyền lực công cộng nhằm duy trì trật tự và sự ổn định của xã hội, nhà nước còn thể hiện rõ nét tính xã hội của nó. Trong bất kỳ nhà nước nào, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước cũng phải chú ý đến lợi ích chung của xã hội, giải quyết những vấn đề mà đời sống xã hội đặt ra. Chẳng hạn: bảo đảm trật tự an toàn xã hội, xây dựng và thực hiện hệ thống an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, chống thiên tai, dịch bệnh…

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội.

So với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp, nhà nước có một số đặc điểm riêng sau đây:

+ Nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt không hòa nhập với dân cư

Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, quyền lực chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hòa nhập với xã hội chưa có giai cấp nên chưa có nhà nước. Quyền lực đó do toàn xã hội tổ chức ra, chưa mang tính giai cấp, phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng.

Khi xuất hiện nhà nước, quyền lực công cộng đặc biệt được thiết lập. Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị. Để thực hiện quyền lực này, nhà nước hình thành một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, bắt các giai cấp khác phải phục vụ ý chí của giai cấp thống trị. Như vậy, quyền lực công cộng đặc biệt này đã tách khỏi xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc và chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị.

Công cuộc đổi mới đất nước, sự phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tạo ra những tiền đề và đòi hỏi đổi mới, tăng cường phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương, nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong quản lý, điều hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.

Ví dụ, nhà nước chủ nô tồn tại hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ với mâu thuẫn giai cấp hết sức gay gắt nên một trong các chức năng nhà nước là duy trì sự thống của giai cấp chủ nô đối với giai cấp nô lệ. Đến Nhà nước xã hội chủ nghĩa không còn sự bóc lột giữa các giai cấp. Chức năng nhà nước là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, nâng cao chất lượng cuộc sống, thực hiện công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các lợi ích giữa nhà nước, cá nhân và cộng đồng.

2.1.3. Trình độ và trách nhiệm của các nhà chính trị, bộ máy nhà nước

Trình độ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phán đoán và phương pháp giải quyết công việc. Trách nhiệm ảnh hưởng đến tính thần, ý thức làm việc,…của chủ thể. Trình độ và trách nhiệm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có trình độ giúp các nhà chính trị nhận thức và hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình. Ngược lại trách nhiệm giúp nâng cao tinh thần tự giác học tập, rèn luyện để phát triển trìnhđộ, qua đó thực hiện công việc đặt ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao hơn. Hiện nay trong bộ máy nước Việt Nam còn tồn tại một bộ phận cán bộ nhà nước có trình độ hiểu biết kém, vô trách nhiệm…đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, khả năng thực hiện chức năng của nhà nước.

Hoạt động của bộ máy công chức có ý nghĩa quyết định đến kết quả bộ máy nhà nước. Trong thời gian tiếp theo, cần tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với từng loại công chức giúp công chức có khả năng nắm vững các kiến thức chính trị, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, kiến thức hành chính, pháp luật, ngoại ngữ, tin học…đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa, hội nhập quốc tế.

2.1.4. Lịch sử phát triển toàn dân tộc, truyền thống – văn hóa- tư tưởng

Mỗi nhà nước có một lịch sử ra đời và phát triển riêng dẫn đến việc có những chức năng khác nhau, phù hợp với nó. Ví dụ, ở kiểu Nhà nước chủ nô, đểbảo vệ quyền lợi về tư liệu sản xuất cũng như địa vị của chủ nô, ngăn cản sự nổi dậy của nô lệ …Nhà nước phải có chức năng trấn áp sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động bằng quân sự. Đến kiểu Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa ra đời, do thực hiện mục tiêu tất cả quyền lực thuộc về tay nhân dân, chức năng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và con người ra đời và được thể hiện trong Hiến pháp. Các yếu tố truyền thống – văn hóa – tư tưởng là nguồn gốc của một số chức năng nhà nước nhất định.

Ví dụ, ở Trung Quốc vua là thiên tử, có trách nhiệm “thế thiên hành đạo”, dân chúng luôn hết lòng phục vụ vua, coi vua là trung tâm. Điều này rất phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, dẫn đến việc duy trì sự thống trị về tư tưởng đối với quần chúng trở thành một chức năng của kiểu Nhà nước phong kiến, giúp Nhà nước quản lý và điều khiển quần chúng rất hiệu quả.

2.2. Yếu tố bên ngoài

Quyền con người, dân chủ hóa và toàn cầu hóa cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhiều chức năng nhà nước.

Dựa trên việc thừa nhận quyền con người và xem xét nó trên mọi phương diện, các quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế để đảm bảo cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất. Quá trình dân chủ hóa quốc gia diễn ra đòi hỏi các quốc gia phải có những chính sách, quy định đảm bảo sự công bằng, bình đẳng giữa những người dân,phát huy quyền làm chủ của người dân… Trong thời đại ngày nay, khi toàn cầu hóa đã trở thành xu thế, sự hợp tác giữa các nước được thúc đẩy, các quá trình trao đổi, hợp tác kinh tế,tài chính,thương mại… giữa các quốc gia trở nên tích cực hơn,các nước chủ động và tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền con người, dân chủ hóa và toàn cầu hóa góp phần đẩy mạnh sự thực hiện và phát triển toàn diện của các chức năng Nhà nước như: chính trị, kinh tế, đối ngoại…

Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu trong thời đại ngày nay, nước nào đứng ngoài xu thế này sẽ khó có thể phát triển được. Đối với những nước đang phát triển, nghèo nàn, lạc hậu thì hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa là một cơ hội tốt để thu hút nguồn vốn đầu tư, tiếp cận công nghệ tiên tiến, học hỏi trình độ quản lý hiện đại,… nhằm phát triển kinh tế – xã hội. Nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa đối với sự phát triển kinh tế – xã hội, Đảng ta chủ trương chủ động tham gia vào quá trình này.

Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay là hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tất yếu dẫn tới nhiều thành phần xã hội, tức cơ cấu giai tầng trong kinh tế thị trường sẽ đa dạng và phong phú hơn. Đa dạng về thành phần xã hội tất sẽ đa dạng về lợi ích và nhu cầu. Đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng và đa dạng của các thành phần trong xã hội thuộc về chức năng xã hội của nhà nước.

Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã nảy sinh những vấn đề xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải cấp bách giải quyết như: nạn thất nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại cho người sản xuất kinh doanh chân chính; các tệ nạn xã hội, tội phạm mang tính quốc tế gia tăng, ảnh hưởng môi trường xã hội; do điều kiện địa lý, các vùng sâu, vùng xa có nguy cơ tụt hậu vì không thu hút được đầu tư; do lợi nhuận chi phối nên những nhóm ngành nghề rất cần cho xã hội nhưng lợi nhuận thấp dễ bị bỏ rơi,v.v.. Những vấn đề đó đang đòi hỏi Nhà nước phải nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng xã hội.

Các Giai Đoạn Phát Triển Tâm Lý Của Trẻ Từ 0 Đến 16 Tuổi

Giai đoạn từ 0 đến 1 tuổi

Ngay khi trẻ được sinh ra có sự thay đổi từ môi trường ổn định trong bào thai sang một môi trường mới với nhiều biến đổi như ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh…Trong những năm đầu của cuộc đời trẻ cần được người lớn thỏa mãn những nhu cầu bản năng, vì vậy năm đầu mối quan hệ mẹ con là mối quan hệ đặc biệt tác động đến sự phát triển của trẻ. Giai đoạn này trẻ chưa biết nói nên mối quan hệ mẹ con là mối quan hệ tiền ngôn ngữ, là mối quan hệ ruột thịt thông qua tiếp xúc giữa cơ thể mẹ và cơ thể trẻ để thỏa mãn các nhu cầu tâm sinh lý của đứa trẻ. Về ngôn ngữ trẻ 7-8 tháng biết phát ra âm đơn giản, biết lạ quen, 12 tháng tuổi biết nói một số từ đơn giản.

Yếu tố tâm lý: trong giai đoạn này trẻ cần được quan tâm, yêu thương của người chăm sóc đặc biệt là vai trò của người mẹ. Tất cả nhu cầu về vật chất, nhu cầu tình cảm của người mẹ, nhu cầu gắn bó được đáp ứng, môi trường sống ổn định thì tạo cho trẻ cảm giác an toàn và phát triển tốt. Nếu giai doạn này người mẹ có những bất ổn về tâm lý như: sinh con ngoài ý muốn, dồn tất cả nỗi thất vọng, lo lắng của mình lên đưa trẻ; nếu trẻ sống trong môi trường thay đổi liên tục hoặc những nhu cầu vật chất không được đáp ứng có thể gây nên những vấn đề tâm lý cho đứa trẻ.Tuy vậy, trong xã hội không phải nhu cầu nào cũng được đáp ứng mà dần dần trẻ phải học theo quy luật, quy tắc như trẻ đói phải biết chờ đợi thức ăn đang nóng. Nhưng điều quan trọng là trẻ cảm nhận được tình cảm của người mẹ, của các thành viên trong gia đình.

Giai đoạn từ 1 đến 3 tuổi

    Giai đoạn này trẻ tích cực thăm dò thế giới xung quanh vì trẻ đã biết đi. Nếu như trước đây người lớn mang đồ vật đến cho trẻ còn bây giờ trẻ tự đến tiếp xúc với đồ vật bằng cảm giác và vận động. Sự phát triển ngôn ngữ, trẻ chủ động tiếp xúc với người lớn vừa nói vừa làm, trẻ hiểu lời nói trước khi biết nói. Ví dụ mẹ bảo yêu em, trẻ sẽ cảm nhận được thông qua giọng nói, nét mặt, thái độ, cử chỉ của người mẹ. Ngôn ngữ của bé ở giai đoạn này, bé nói từ đơn rồi nói cụm từ và thành câu.

Giai đoạn từ 3 đến 6 tuổi

    Bé khám phá thế giới xung quanh một cách nhanh chóng, hoạt động tiếp xúc với đồ vật ngày càng mở rộng, vốn từ tăng nhanh, biết nói thành câu, biết nghe và kể chuyện. Trẻ thích thú trong các hoạt động trò chơi, học nói, học ăn hay đặt câu hỏi tại sao và bắt đầu đưa ra ý kiến.

    Giai đoạn này, cái tôi của trẻ được hình thành, bắt đầu nhận thức được giới tính hay đặt câu hỏi “tại sao?” Trong quan hệ tình cảm bé tiến tới nhận ra vị trí của mình giữa mọi người, thoát khỏi đòi hỏi tuyệt đối về mình.

Giai đoạn từ 6 trên 11 tuổi

    Hoạt động chủ yếu của giai đoạn này là học tập, bước vào các hoạt động trí nhớ, tư duy để trẻ bước vào trường học, đây là bước ngoặt quan trọng. Nội dung học tập được mở rộng nên ngôn ngữ của trẻ vượt ra phạm vi những từ ngữ sinh hoạt cụ thể mà đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học trừu tượng.

    Đến cuối độ tuổi này nhân cách của bé được hình thành với những nếp sống, thói quen, những hành vi có ý thức, tự khép mình vào quy tắc xã hội hoặc theo những giá trị bản thân đã chấp nhận. Từ quan hệ ruột thịt dần dần chuyển sang quan hệ xã hội, trẻ có sự thay đổi môi trường sống, không phải môi trường quen thuộc như trước đây mà vươn ra quan hệ ngoài xã hội như là quan hệ thầy cô, bạn bè. Đây là giai đoạn hình mẫu, cho nên cha mẹ ở giai đoạn này không phải là người toàn năng trước mặt bé nữa mà vai trò hình mẫu rất quan trọng ở giai đoạn này.

Giai đoạn từ 11 đến 16 tuổi

    Bước sang giai đoạn này cơ thể trẻ lớn lên rất nhanh, có sự thay đổi trong hoạt động của hệ nội tiết và đáng chú ý nhất đó là sự phát dục. Vì vậy đây còn gọi là độ tuổi đậy thì. Các đặc điểm sinh dục phát triển, tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động. Tuổi dậy thì con trai bắt đầu và kết thúc chậm hơn con gái từ 1-2 năm.

    Nhu cầu khẳng định bản thân, ý thức bản thân được coi là một bước biến chuyển. Với bước biến chuyển này giúp thiếu niên nhận thức, đánh giá được bản thân. Dựa vào những tiêu chuẩn đánh giá của mọi người thiếu niên sẽ xem xét hành vi và hoạt động của mình có phù hợp với yêu cầu của gia đình và xã hội. Tuy nhiên, giai đoạn này thiếu niên cũng rất nhạy cảm với những đánh giá của mọi người xung quanh. Do đó đôi khi chỉ là những thành công nhỏ được người khác quá chú ý cũng dể tạo cho các em tự cao , đánh giá cao bản thân của mình. Trái lại những thất bại nhỏ nếu bị dè biểu cũng có thể gây cho các em rụt rè, tự ti. Sự ổn định hình thành nhân cách trước đây sẽ bị phá vỡ, tạo nên sự thay đổi cấu trúc nhân cách, từ trẻ em sang người lớn trưởng thành.

    Quan hệ xã hội của các em từ mối quan hệ cha mẹ chuyển sang mối quan hệ bạn bè. Trong gia đình cha mẹ tạo điều kiện cho các em nhiều quyền độc lập hơn và những yêu cầu cao hơn. Thiếu niên thường không muốn sự chăm sóc quá tỉ mỉ, quan tâm quá mức của cha mẹ. Trong gia đình các em mong muốn cha mẹ tôn trọng ý kiến của các em hơn là chiều chuộng. Thường các em chưa nhận thức được mặt tốt và mặt xấu ở trong xã hội trong khi đây là lứa tuổi hay tìm kiếm, thực ngiệm và lứa tuổi chống đối. Vì vậy các em cần có sự quan tâm hỗ trợ, dìu dắt hướng dẫn của người lớn. Các em từng bước tự chủ trong học tập và công việc. Vì vậy các em cần có chỗ dựa tình cảm của người thân để tâm sự và chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm…Sau một thời gian các em đánh giá, xác định cho bản thân nhân cách mới, nhân cách trưởng thành. Cuối giai đoạn này nhân cách đã được hình hành ổn định, các em bắt đầu lựa chọn ngành nghề .

Đơn vị tâm lý – Bệnh viện Nhi Đồng Thành Phố

Các Vấn Đề Liên Quan Đến Tác Nghiệp!

1. Định nghĩa nào đúng nhất cho “tác nghiệp là gì?”

Bạn đã bao giờ nghe đến cụm từ “tác nghiệp” chưa? Chắc chắn ít nhiều gì các bạn cũng đã từ nghe đến cụm từ này rồi đúng không? Vậy, tác nghiệp là gì? Bạn có tự định nghĩa được cụm từ này không. “Tác nghiệp” trong từ điển Hán Nôm thì nó có nghĩa là phận sự, vị trí công tác. Ta có thể hiểu một các đơn giản về ý nghĩa của từ tác nghiệp là: Ở mỗi một vị trí công việc bất kỳ nào đó trong xã hội đều có các công việc riêng của mình để thể hiện tính riêng của ngành đó và sự khác biệt hay chính là các công việc chuyên môn của họ chính là tác nghiệp.

Tác nghiệp là gì?

1.2. Bạn có hiểu đi tác nghiệp là gì?

Đi tác nghiệp là gì? Nhiều bạn hay thường ngày vẫn luôn trêu nhau là “tao đi tác nghiệp đây”, vậy bạn có định nghĩa được đi tác nghiệp là gì không. Đi tác nghiệp có thể hiểu là một hành động của con người để thực hiện các công việc được giao với vị trí của mình. Mỗi vị trí công việc đều có tác nghiệp riêng, chính vì vậy mà cần phải có một chuỗi các hoạt động để hoàn thành công việc của mình và những công việc đó mang tính đặc thù riêng cho công việc bạn đang làm.

Bạn hay nghe nhiều nhất cụm từ “đi tác nghiệp” trong ngành báo chí và ngành công an – an ninh, nên nhiều người hay bị nhầm tưởng là tác nghiệp chỉ có ở hai ngành này. Tuy nhiên thì ở bất cứ một ngành nghề nào đều có đi tác nghiệp riêng và đặc thù của ngành đó.

1.3. Thời gian tác nghiệp là gì?

Thời gian tác nghiệp là khoảng thời gian để bạn hoàn thành công việc hoặc thời gian để bạn thay đổi các sự vật, sản phẩm, chính là đối tượng của công việc. Thời gian tác nghiệp là trong khoảng thời gian bạn dành cho công việc của mình.

Thời gian bạn tác nghiệp ở mỗi ngành nghề và công việc làm của bạn là khác nhau, và không có một chuẩn mực nhất định nào cho thời gian tác nghiệp cả. Tuy nhiên, thời gian tác nghiệp sẽ có thời hạn để bạn hoàn thành công việc của mình đúng tiến độ được giao.

1.4. Nên hiểu sao về nhân viên tác nghiệp là gì?

Nhân viên tác nghiệp bạn có thể hiểu đơn giản là khi bạn làm việc ở một vị trí công việc nào đó thì bạn sẽ có những đặc thù công việc riêng của mình và bạn sẽ là một nhân viên tác nghiệp của doanh nghiệp đó. Nhân viên tác nghiệp chính là người trực tiếp thực hiện các công việc tác nghiệp của mình.

1.5. Mục tiêu tác nghiệp là gì?

Mục tiêu tác nghiệp là đích hướng, hướng đến cho bạn khi làm bất kỳ một công tác nào. Mục tiêu tác nghiệp hầu hết đều hướng đến cái kết quả của công việc, và những kết quả tốt muốn đặt được khi tác nghiệp. Mục tiêu tác nghiệp của các vị trí công việc và các ngành nghề là khác nhau. Thậm chí khác nhau cả trong trường hợp hai doanh nghiệp cùng kinh doanh trong một lĩnh vực nhưng sẽ có những hướng đi để phát triển là khác nhau, chính vì vậy mà mục tiêu tác nghiệp của hai doanh nghiệp đó cũng khác nhau.

1.6. Kế hoạch tác nghiệp là gì?

Kế hoạch tác nghiệp là gì? Kế hoạch tác nghiệp cũng giống các kế hoạch khác khi nó được trình bày cụ thể bằng những hoạt động cần làm như thế nào để đạt được mục tiêu tác nghiệp, và mục tiêu của kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp. Thông qua việc lên kế hoạch thì người lên kế hoạch tác chiến sẽ đề xuất các chiến thuật cụ thể, những bước đi cụ thể, những hoạt động cụ thể mà doanh nghiệp cần tiến hành để đạt được mục tiêu của mình.

Kế hoạch tác nghiệp được các nhà quản lý đưa ra và phân công cụ thể từng công việc cho nhân viên chuyên trách của từng bộ phận để thực hiện tác nghiệp của mình, thông qua đó thực hiện các công việc, các chiến thuật như kế hoạch đề ra sao cho hiệu quả nhất. Và đích cuối cùng đạt được là mong muốn doanh nghiệp phát triển bền vững, và lâu dài.

2. Các vấn đề về tác nghiệp trong doanh nghiệp 2.1. Quản trị tác nghiệp là gì trong doanh nghiệp?

Quản trị tác nghiệp là một quá trình hoạch định các kế hoạch sản xuất, kinh doanh để thực hiện các mục tiêu đã đề ra; Là việc tổ chức và điều hành các hoạt động của doanh nghiệp; thực hiện việc kiểm tra và kiểm soát cho hệ thống sản xuất của doanh nghiệp đó để nhằm đạt những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra khi đưa ra các kế hoạch tác nghiệp của doanh nghiệp.

Mô hình quản trị tác nghiệp là gì? Mô hình quản trị tác nghiệp ở mỗi doanh nghiệp là khác nhau, và thường đưa ra các mô hình hiệu quả nhất để đạt được hiệu quả tốt nhất. Để đưa ra được một mô hình tác nghiệp dựa vào rất nhiều yếu tố: Dựa vào kế hoạch tác nghiệp mà doanh nghiệp đưa ra để xác định những hành động cụ thể của mình cần thực hiện là gì. Xác định các nhân tố sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch tác nghiệp đó để lường trước được các rủi ro có thể xảy ra khi tác nghiệp để chọn việc tránh rủi ro đó hay là chọn cách làm giảm rủi ro xảy ra và đưa ra được các giải pháp cụ thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Mỗi doanh nghiệp sẽ có mô hình tác nghiệp khác nhau và phù hợp nhất với doanh nghiệp của họ.

Quản trị tác nghiệp sẽ bao gồm những nội dung sau: Dự báo cầu của thị trường, thiết kế sản phẩm và dịch vụ, hoạch định công suất, lựa chọn vị trí đặt địa điểm, trụ sở cho doanh nghiệp; Bố trí mặt bằng sản xuất; lên các kế hoạch tổng hợp của doanh nghiệp; hoạch định về nhu cầu sử dụng nguyên vật trong quá trình sản xuất cho doanh nghiệp; điều độ sản xuất; quản trị và kiểm soát dự trữ; quản trị chất lượng; quản trị và bảo dưỡng máy móc thiết bị.

Quản trị sản xuất tác nghiệp là gì trong một doanh nghiệp bất kỳ? Quản trị sản xuất tác nghiệp bao gồm những các hoạt động như: Mua, dự trữ, biến đổi đầu, các hoạt động bảo dưỡng, bảo trì về máy móc của hệ thống sản xuất.

Hoạt động quản trị sản xuất và tác nghiệp là gì trong doanh nghiệp? Là việc quản trị sản xuất của doanh nghiệp kế hợp với các hoạt động tác nghiệp theo kế hoạch tác nghiệp để hoàn thành công việc và đạt hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình.

2.2. Hoạch định tác nghiệp là gì?

Hoạch định tác nghiệp thường được xác định bởi các kế hoạch cụ thể sau:

+ Kế hoạch chỉ sử dụng một lần, thường là những kế hoạch và dự án nhỏ, và không có khả năng lập lại trong tương lai nên kế hoạch này chỉ sử dụng được một lần duy nhất khi đưa ra các hoạch định tác nghiệp của doanh nghiệp mình.

+ Kế hoạch thường xuyên là những kế hoạch được đưa ra để sử dụng thường xuyên cho doanh nghiệp và đây là một hoạch định lâu dài cho doanh nghiệp trong sự phát triển bền vững của doanh nghiệp đó.

Hoạc định tác nghiệp là gì?

2.3. Quy trình tác nghiệp là gì?

Ở mỗi một bộ phận khác nhau và doanh nghiệp khác nhau thì quy trình tác nghiệp có sự khác nhau. Quy trình tác nghiệp của doanh nghiệp đó phù hợp với doanh nghiệp đó và các phòng ban đều phải thực hiện theo một quy trình tác nghiệp phù hợp và đúng để đảm bảo hoạt động chung của doanh nghiệp được hoạt động bình thường.

2.4. Công tác quản lý tác nghiệp là gì?

Quản lý tác nghiệp là công tác của các nhà quản lý đẻ luôn đảm bảo các nhân viên thực hiện đúng theo những gì được phân công của kế hoạch. Quản lý tác nghiệp cũng giống như việc quản trị tác nghiệp vậy. Bạn cần có những công tác chuyên trách cụ thể để quản lý được hoạt động của doanh nghiệp và luôn đảm bảo việc các hoạt động đang đi đúng hướng của chiến lược.

2.5. Điều hành tác nghiệp là gì?

Điều hành tác nghiệp là một hoạt động của các nhà quản lý trong việc điều hành các hoạt động của doanh nghiệp trong đó có cả các hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp đó. Hiện nay, các nhà điều hành doanh nghiệp thường sử dụng các hệ điều hành tác nghiệp trong công tác quản lý của mình để việc điều hành tác nghiệp của mình được dễ dàng và khoa học nhất, cũng như thấy được rõ trách nhiệm và nhiệm vụ cần làm của các doanh nghiệp khác nhau.

2.6. Trong một doanh nghiệp thì hệ thống thông tin tác nghiệp là gì?

Hệ thống thông tin tác nghiệp là một hệ thống thông tin được xây dựng ra với mục đích nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm, tổ chức để được được hiệu quả cao nhất trong việc xây dựng hết thông và vận hành, cung như việc cải tiến quy trình tác nghiệp của mình.

Các yếu tố để đảm bảo một hệ thống thông tin tác nghiệp hiệu quả bao gồm các yếu tố sau:

+ Đặc hàng đầu về nền tảng nhận thức của đội ngũ nhân viên khi tác nghiệp bất cứ hoạt động nào của doanh nghiệp. Mỗi nhân viên có tác dụng hỗ trợ việc ra quyết định của người quản lý.

+ Tạo động lực cho sự thúc đẩy và chuẩn hóa các quy trình về tác nghiệp của doanh nghiệp, công ty.

+ Luôn luôn đề cao tinh thần chủ động của mỗi cá nhân trong việc thực hiện các thông tin về tác nghiệp cũng như các hoạt động tác nghiệp.

+ Để phát triển bền vững cần thúc đẩy việc làm theo nhóm để đạt được kết quả tốt nhất và nhanh nhất.

+ Luôn cho phép các phòng ban điều hòa lợi ích để đạt được hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp, và thông qua việc mỗi cá nhân tiếp nhận thông tin tác nghiệp để điều hòa lợi ích và phát triển tốt nhất cho doanh nghiệp.

+ Tăng cường việc trao đổi và chia sẻ thông tin tác nghiệp để mỗi nhân viên đều được tiếp cần và thực hiện một cách tốt nhất.

+ Tính phản hồi tích cực từ hệ thống thông tin tác nghiệp cho phép mỗi cá nhân phản hồi lại với quản lý để tìm ra được một hướng giải quyết tốt nhất cho doanh nghiệp mình và trong hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp.

+ Cung cấp các tiện ích và tính năng nhằm khuyến khích các cá nhân tham gia vào hệ thống thông tin tác nghiệp đó.

Hiện nay các doanh nghiệp đều tổ chức nhận thức thông qua các tính hiệu quả trong công việc với các ứng dụng riêng cho doanh nghiệp để đạt được hiệu quả tốt nhất cho doanh nghiệp của mình. Và truyền đạt được thông tin, dữ liệu về tác nghiệp một cách nhân nhất và được nhiều người biết đến nhất.

3. Tác nghiệp đối với báo chí như thế nào? 3.1. Báo chí tác nghiệp là gì?

Tác nghiệp báo chí là một trong những cụm từ không còn xa lạ với mọi người đặc biệt là với các bạn trẻ học báo. Báo chí tác nghiệp là gì? Báo chí tác nghiệp là một cụm từ để chỉ đến hoạt động của các nhà báo, phóng viên tại các địa điểm tin tức, hay chính là việc tác nghiệp tại hiện trường của các nhà báo, phóng viên. Thông qua các kỹ năng nghề nghiệp của mình để thu thập thông tin mới nhất, thông tin mà được nhiều người quan tâm nhất, thông tin về những hướng chưa ai đi tới và khai phá. Đây chính là việc báo chí tác nghiệp của mình để nhằm cung cấp thông tin có ích đến các độc giả của mình và có ích cho xã hội.

Báo chí tác nghiệp là gì?

3.2. Môi trường tác nghiệp là gì?

Môi trường tác nghiệp là một trong những môi trường để bạn làm việc và thực hiện các công tác của mình khi làm việc. Môi trường tác nghiệp nói chung sẽ là stacs động của môi trường ngoại cảnh và môi trường trong ngành, và là môi trường để quyết định đến tính chất và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp và bản thân.

Môi trường tác nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi 5 yếu tố sau: Đối thủ cạnh tranh của bạn, người mua, người cung cấp, các đối thủ có thể phát sinh tiềm năng, sản phẩm đến thay thế.

Trong ngành báo chí, môi trường làm việc của nó khả tự do, và có tính cạnh tranh rất cao. Môi trường làm việc thường xuyên phái đối đầu với các khó khăn trong môi trường làm việc. Với nghề báo sẽ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau: Môi trường bên ngoài có tính cạnh tranh rất cao và môi trường làm việc bên ngoài khá vất vả, đối thủ cạnh tranh về một tin tức là rất nhiều, người đọc tin, nguồn thông tin bạn đưa ra có chính xác hay không và cung cấp được bao nhiêu phần trăm thông tin của sự việc, và đưa ra được những thông tin cần thiết gì cho xã hội.

3.3. Rủi ro tác nghiệp là gì?

Rủi ro tác nghiệp là khả năng bạn bị tổn thất có thể là những tổn thất trực tiếp hoặc những tổn thất gián tiếp đến hoạt động tác nghiệp của bạn. Đối với báo chí thì rủi ro tác nghiệp rất nhiều, các nhà báo hay phỏng viên sẽ có thể gặp phải các rủi ro có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đến họ như:

+ Gặp những rủi ro tác nghiệp trực tiếp như: Bị ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe trong hoạt động tác nghiệp của mình. Trong quá trình tác nghiệp sẽ gặp phải các khó khăn như bị các đối tượng khi tiếp cận hiện trường và nguồn thông tin thì bị hành hung dẫn đến ảnh hưởng đến sức khỏe, nhiều trường hợp xấu nhất xảy ra thì rủi ro xấu nhất xảy ra là tử nghiệp.

+ Những rủi dó tác nghiệp gián tiếp như: Bị đập phá các công cụ tác nghiệp của mình như máy ảnh, máy quay phim, bị nhục mạ với những lời nói khó nghe.

Rủi ro tác nghiệp là điều không mong muốn gặp phải trong khi tác nghiệp của mình. Nên khi tác nghiệp bạn cần lưu ý đến các việc làm để tránh rủi ro xảy ra, và giảm thiểu các rủi ro xảy ra cho các bạn khi tác nghiệp.

4.1. Quyết định tác nghiệp là gì?

Quyết định tác nghiệp được quyết định bởi các nhà quản trị và thường được chia làm 3 cấp độ trong việc đưa ra quyết định tác nghiệp như sau:

+ Cấp cao: Là quyết định như thiết kế sản phẩm và quá trình, công suất của hoạt động sản xuất, phương pháp và tổ chức, công nghệ sản xuất, định vị về vị trí mặt bằng sản xuất hay địa điểm tác nghiệp của doanh nghiệp, cá nhân.

+ Cấp 2 được đưa ra từ các nhà quản trị cấp trung bao gồm những quyết định về tác nghiệp như quả trị, kế hoạch hóa, quản trị cung ứng, dữ liệu, chất lượng, dự án, bảo trì; kế hoạch hóa tổng hợp, kế hoạch hóa chi tiết.

+ Cấp cơ sở, được đưa ra bởi các nhà quản trị ở cấp cơ sở và thường đưa ra các quyết định tác nghiệp như phân công công việc cho nhân viên, bố trí nhân lực, hướng dẫn công việc, kiểm tra và điều chỉnh công việc,…

Cấp tác nghiệp là gì? Như trình bày ở trên về việc đưa ra các quyết định được chia theo các cấp tác nghiệp từ cao cấp, trung cấp, đến sơ cấp. Cấp tác nghiệp chính là việc chia ra để quản lý các hoạt động tác nghiệp của doanh nghiệp là tốt nhất. Ở mỗi một cấp lại có một nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp được hoạt động bình thường trong một doanh nghiệp, công ty hay bất kỳ một tổ chức nào đó.

Phiếu tác nghiệp là gì? Tác nghiệp có thể hiệu là một văn bản đề ra quyết định bạn đi tác nghiệp ở đâu và thường trong báo chí hay gọi đó là thẻ tác nghiệp để hỗ trợ cho bạn trong quá trình đi làm công việc không bị gặp khó khăn cũng như việc chứng minh thân phận, chức vụ nghề nghiệp của bạn để dễ dàng làm việc hơn. Hay thẻ tác nghiệp của công an cũng là một loại thẻ, phiếu tác nghiệp để có thể dễ dàng nhận được sự hỗ trợ của người khác khi cần thiết.

Quyết định tác nghiệp là gì?

4.2. Kiểm soát tác nghiệp bằng cách nào?

Kiểm soát tác nghiệp là gì? Kiểm soát tác nghiệp là một hoạt động nằm trong quy trình tác nghiệp của một doanh nghiệp hay tổ chức nào đó. Thông qua việc kiểm soát này để đảm bảo cho việc thực hiện và làm tốt nhất, hiệu quả nhất những công tác của tác nghiệp cho sự phát triển sản xuất, phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.

Kiểm soát tác nghiệp bằng cách nào? Kiểm soát tác nghiệp bằng việc kiểm tra, đo lường các hoạt động của từng bộ phận để đưa ra được một điều chỉnh cụ thể cho từng bộ phận nhằm đạt được mục đích phát triển mà doanh nghiệp đó đã đề ra cho quá trình hoạt động của mình.

4.3. Giải pháp tác nghiệp là gì?

Giải pháp tác nghiệp là bao gồm các thao tác kỹ thuật của chuyên ngành, nghiệp vụ chuyên môn của một lĩnh vực bất kỹ nào đó thông qua các phương pháp sau:

+ Phương pháp thực hiện và thi hành các thủ tục hành chính của doanh nghiệp theo đúng quy định của doanh nghiệp và đúng theo quy định của pháp luật.

+ Phương pháp thẩm định, đánh giá, giám định và tư vấn

+ Phương pháp tuyên truyền, đào tạo và huấn luyện bằng việc giảng dạy hay mở các lớp tập huấn cho đội ngũ nhân viên, công nhân của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả nhất.

Các doanh nghiệp có thể chọn một trong số các phương pháp tác nghiệp trên để tạo giải phát tác nghiệp cho doanh nghiệp hiệu quả nhất. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đều chọn việc kết hợp tất cả các phương pháp trên cho giải pháp tác nghiệp của mình để mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Yếu Tố Liên Quan Đến Mức Độ Nặng Của Viêm Phổi Ở Trẻ Em Từ 2 Tháng Đến 5 Tuổi trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!