Xu Hướng 12/2022 # Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh / 2023 # Top 15 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó. Quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng không thể chống đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệp không có một chiến lược kinh doanh và phát triển thể hiện tính chất động và tấn công. Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụng hoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp. Toàn bộ tư tưởng chiến lược và quản trị chiến lược sẽ được trình bày sâu ở môn chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Phần này chỉ lưu ý rằng thiếu một chiến lược kinh doanh đúng đắn thể hiện tính chủ động và tấn công, thiếu sự chăm lo xây dựng và phát triển chiến lược doanh nghiệp không thể hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế được và thậm chí trong nhiều trường hợp còn dẫn đến sự phá sản.

Trong xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải chú ý các điểm sau:

– Chiến lược kinh doanh phải gắn với thị trường:

+ Các doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở điều tra, nghiên cứu nhu cầu trị trường và khai thác tối đa các thời cơ, các thuận lợi, các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm với số lượng, chất lượng, chủng loại và thời hạn thích hợp. Có thể coi “chiến lược phải thể hiện tính làm chủ thị trường của doanh nghiệp” là phương châm, là nguyên tắc quản trị chiến lược của doanh nghiệp.

+ Việc xây dựng chiến lược kinh doanh phải làm tăng được thế mạnh của doanh nghiệp, giành ưu thế cạnh tranh trên thị trường.

+ Chiến lược phải thể hiện tính linh hoạt cao và vì thế xây dựng chiến lược chỉ đề cập những vấn đề khái quát, không cụ thể.

– Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến vùng an toàn trong kinh doanh, hạn chế rủi ro tới mức tối thiểu

– Trong chiến lược kinh doanh cần xác định mục tiêu then chốt, vùng kinh doanh chiến lược và những điều kiện cơ bản để đạt được mục tiêu đó.

– Chiến lược kinh doanh phải thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa hai loại chiến lược: chiến lược kinh doanh chung (những vấn đề tổng quát bao trùm, có tính chất quyết định nhất) và chiến lược kinh doanh bộ phận (những vấn đề mang tính chất bộ phận như chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược tiếp thị, chiến lược giao tiếp khuyếch trương,…).

– Chiến lược kinh doanh không phải là bản thuyết trình chung chung mà phải thể hiện bằng những mục tiêu cụ thể, có tính khả thi với mục đích đạt hiệu quả tối đa trong sản xuất kinh doanh.

Một vấn đề hết sức quan trọng là nếu doanh nghiệp chỉ xây dựng chiến lược thì chưa đủ, vì dù cho chiến lược xây dựng có hoàn hảo đến đâu nếu không triển khai tốt, không biến nó thành các chương trình, chính sách kinh doanh phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng sẽ trở thành vô ích, hoàn toàn không có giá trị làm tăng hiệu quả kinh doanh mà vẫn phải chịu chi phí kinh doanh cho công tác này.

Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Phát triển trình độ đội ngũ lao động và tạo động lực cho tập thể và cá nhân người lao động

Lao động sáng tạo của con người là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp cần đầu tư thỏa đáng để phát triển quy mô bồi dưỡng lại và đào tạo mới lực lượng lao động, đội ngũ trí thức có chất lượng cao trong các doanh nghiệp. Nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật để khai thác tối ưu nguyên vật liệu, năng suất máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến,…

Đặc biệt là cán bộ quản trị, giám đốc phải được tuyển chọn kỹ càng, có trình độ hiểu biết cao. Giám đốc là nhà lãnh đạo kinh doanh, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả nên giám đốc phải có kiến thức về công nghệ, khoa học, về giao tiếp xã hội, về tâm lý, kinh tế,… tổng hợp những tri thức của cuộc sống và phải biết vận dụng kiến thức vào tổ chức, ra quyết định những công việc trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

Về công tác quản trị nhân sự, doanh nghiệp phải hình thành nên cơ cấu lao động tối ưu, phải bảo đảm đủ việc làm trên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, sao cho phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của mỗi người. Trước khi phân công bố trí hoặc đề bạt cán bộ đều phải qua kiểm tra tay nghề. Khi giao việc cần xác định rõ chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, trách nhiệm. Đặc biệt công tác trả lương, thưởng, khuyến khích lợi ích vật chất đối với người lao động luôn là vấn đề hết sức quan trọng.

Động lực tập thể và cá nhân người lao động là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế. Động lực cũng là yếu tố để tập hợp, cố kết người lao động lại. Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính là lợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng, hợp lý, thưởng phạt nghiêm minh. Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng với những nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến,… Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợp vi phạm. Trong kinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp hình thức bán cổ phần cho người lao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãi chia theo cổ phần cũng là một trong những giải pháp gắn người lao động với doanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêm nguồn thu nhập từ doanh nghiệp mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham gia vào các công việc của doanh nghiệp.

Công tác quản trị và tổ chức sản xuất

Tổ chức sao cho doanh nghiệp có bộ máy gọn, nhẹ, năng động, linh hoạt trước thay đổi của thị trường. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Những nội dung này đã được trình bày ở chương tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. Một điều cần chú ý là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp phải được xây dựng phù hợp với các đặc điểm của doanh nghiệp (qui mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm quá trình tạo ra kết quả,…) thì mới đảm bảo cho việc quản trị doanh nghiệp có hiệu quả được.

Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ trách nhiệm, quan hệ giữa các bộ phận với nhau, đưa hoạt động của doanh nghiệp đi vào nề nếp, tránh sự chồng chéo giữa chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận. Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đối tăng cường quan hệ giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất,… mới có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạo trong sản xuất.

– Hệ thống thông tin phải đáp ứng được nhu cầu sử dụng, được thiết lập với đầy đủ các nội dung, các vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm.

– Hệ thống thông tin phải là hệ thống thông tin thường xuyên được cập nhật bổ sung;

– Hệ thống cần phải được bố trí phù hợp với khả năng sử dụng, khai thác của doanh nghiệp;

– Đảm bảo việc khai thác được thực hiện với chi phí thấp nhất.

Công tác quản trị và tổ chức sản xuất

Một trong những lý do làm hiệu quả kinh tế ở các doanh nghiệp thấp là do thiếu kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Do vậy vấn đề nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ là vấn đề luôn được quan tâm ở các doanh nghiệp. Tùy thuộc vào loại hình kinh doanh, đặc điểm ngành kinh doanh, mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp có chính sách đầu tư công nghệ thích đáng. Tuy nhiên, việc phát triển kỹ thuật công nghệ đòi hỏi phải có đầu tư lớn, phải có thời gian dài và phải được xem xét kỹ lưỡng 3 vấn đề:

– Dự đoán đúng cầu của thị trường và cầu của doanh nghiệp về loại sản phẩm doanh nghiệp có ý định đầu tư phát triển. Dựa trên cầu dự đoán này doanh nghiệp mới có những mục tiêu cụ thể trong đổi mới công nghệ

– Lựa chọn công nghệ phù hợp. Các doanh nghiệp trên cơ sở mục tiêu của sản xuất đã đề ra có những biện pháp đổi mới công nghệ phù hợp. Cần tránh việc nhập công nghệ lạc hậu, lỗi thời, tân trang lại, gây ô nhiễm môi trường,… .

– Có giải pháp đúng về huy động và sử dụng vốn hiện nay, đặc biệt là vốn cho đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp muốn hoạt động có hiệu quả thì cần sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục tiêu nguồn vốn đầu tư công nghệ.

Rút ngắn thời gian xây dựng để nhanh chóng đưa dự án đầu tư vào hoạt động luôn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc nâng cao hiệu quả kinh tế của đầu tư kỹ thuật công nghệ.

Trong đổi mới công nghệ không thể không quan tâm đến nghiên cứu sử dụng vật liệu mới và vật liệu thay thế vì giá trị nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng cao trong giá thành của nhiều loại sản phẩm, dịch vụ. Hơn nữa, việc sử dụng nguyên vật liệu mới thay thế trong nhiều trường hợp còn có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.

Máy móc thiết bị luôn là nhân tố quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong công tác quản trị kỹ thuật công nghệ, việc thường xuyên nghiên cứu, phát triển kỹ thuật đóng vai trò quyết định. Bên cạnh đó, công tác bảo quản máy móc thiết bị, đảm bảo cho máy móc luôn hoạt động đúng kế hoạch và tận dụng công suất của thiết bị máy móc cũng đóng vai trò không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung. Để đảm bảo đánh giá chính xác chất lượng hoạt động của máy móc thiết bị, trong tính chi phí kinh doanh và phân tích kinh tế cần sử dụng khái niệm chi phí kinh doanh “không tải” để chỉ chi phí kinh doanh về sử dụng máy móc thiết bị bị mất đi mà không được sử dụng vào mục đích gì.

Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã hội

Đổi mới công nghệ phải đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác kiểm tra kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh để cho những sản phẩm chất lượng kém ra tiêu thụ trên thị trường.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, sản xuất của các doanh nghiệp mở rộng theo hướng sản xuất lớn, xã hội hóa và mở cửa làm cho mối quan hệ lẫn nhau trong xã hội ngày càng chặt chẽ. Doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác được nhiều đơn hàng, tiêu thụ tốt. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao cần tranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanh bên ngoài. Đó là:

– Giải quyết tốt mối quan hệ với khách hàng: là mục đích ý đồ chủ yếu trong kinh doanh, vì khách hàng là người tiếp nhận sản phẩm, người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Khách hàng có được thỏa mãn thì sản phẩm mới được tiêu thụ.

– Tạo ra sự tín nhiệm, uy tín trên thị trường đối với doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, tác phong kinh doanh, tinh thần phục vụ,… bất cứ doanh nghiệp nào muốn có chỗ đứng trên thị trường đều phải gây dựng sự tín nhiệm. Đó là quy luật bất di bất dịch để tồn tại trong cạnh tranh trên thương trường.

– Giải quyết tốt mối quan hệ với các đơn vị tiêu thụ, đơn vị cung ứng.

– Phát triển thông tin liên lạc với các tổ chức, khác với thị trường.

– Hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật.

– Có ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên sinh thái: bảo vệ rừng đầu nguồn, chống sự ô nhiễm của bầu không khí, nguồn nước, sự bạc mầu của đất đai trong phát triển sản xuất kinh doanh ..

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Sản Xuất, Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp Thép / 2023

Thực trạng ngành Thép Việt Nam

Với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua, ngành Thép Việt Nam đã có bước phát triển đáng kể trong khu vực và giữ vai trò ngày càng quan trọng trong ngành Thép khu vực Đông Nam Á; đồng thời, cải thiện vị trí trong ngành công nghiệp thép thế giới, phấn đấu trở thành trung tâm sản xuất và xuất khẩu thép trong khu vực.

Theo Hiệp hội Thép thế giới (WSA), năm 2015, sản lượng sản xuất thép thành phẩm của Việt Nam đạt khoảng 15 triệu tấn, thép thô là 6,1 triệu tấn – tương đương khoảng 0,4% sản lượng thép thô toàn thế giới (được xếp thứ 24). Xét về xuất nhập khẩu, trong năm 2015, Việt Nam nhập khẩu 16,3 triệu tấn thép (đứng thứ 7 thế giới) và xuất khẩu 1,4 triệu tấn thép.

Nếu xét về số lượng thép nhập khẩu thuần, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ. Năm 2016, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 4 triệu tấn thép các loại, tăng 18,1% so với năm 2015, trong đó riêng thép thành phẩm là 3,48 triệu tấn, tăng hơn 30% so với năm 2015.

Tổng các loại sản phẩm thép sản xuất đạt 17,5 triệu tấn, tăng 16,8% so với năm 2015, trong đó, tổng sản lượng tiêu thụ thép các loại trong nước đạt hơn 15,3 triệu tấn, tăng 23,7% so với năm 2015. Tính toàn ngành Thép trong nước, quy mô năm 2016 chiếm khoảng 5% GDP Việt Nam. Đối với hoạt động xuất khẩu, Việt Nam đang đứng ở vị trí số 1 của khu vực ASEAN về xuất khẩu thép thành phẩm.

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, thực tiễn cũng cho thấy, ngành Thép Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế và bất cập. Phần lớn các chuyên gia kinh tế và Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho rằng, ngành Thép vẫn chưa vận hành tối đa công suất. Hiện nay, sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu thép xây dựng, thép cán nguội, ống thép, tôn mạ kim loại và sơn phủ màu nhưng Việt Nam vẫn đang nhập khẩu rất nhiều thép, chủ yếu là những sản phẩm trong nước chưa cung ứng được như thép cuộn cán nóng (HRC), thép chế tạo…

Theo VSA, năm 2016, tổng năng lực sản xuất ngành Thép Việt Nam lên đến 22 triệu tấn (gồm thép xây dựng 10,8 triệu tấn/năm: Thép ống hàn 2,11 triệu tấn; tôn mạ các loại 4 triệu tấn; thép CRC 4,8 triệu tấn) nhưng tổng sản lượng sản xuất của các DN thép chỉ khoảng 17,1 triệu tấn, đạt 77% công suất thiết kế toàn Ngành. Phần lớn các nhà máy hiện nay sử dụng công nghệ đã lỗi thời với quy mô sản xuất nhỏ gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.

Công nghệ lạc hậu cũng làm giảm tính cạnh tranh của ngành Thép trong nước. Theo số liệu của VSA, năm 2015, hơn 2/3 nhà máy sản xuất thép dài trong nước sử dụng các thiết bị sản xuất lạc hậu, gây hao phí và ô nhiễm môi trường. Nhiều công ty sử dụng lò dung tích nhỏ (chưa tới 100 m 3) thấp hơn nhiều so với dung tích bình quân hàng nghìn mét khối của Nhật Bản và Trung Quốc.

Trong luyện phôi trước đây, công nghệ lò EAF được ưu tiên sử dụng do yêu cầu về vốn đầu tư thấp, công nghệ lò BOF chỉ mới được ứng dụng từ năm 2012. Việc phát triển các lò EAF làm giá thành các sản phẩm thép cao hơn so với việc sản xuất bằng lò BOF. Đây là một hạn chế trong khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp (DN) thép nội địa với thép nhập khẩu. Bên cạnh đó, do công nghệ lạc hậu nên thời gian luyện một mẻ thép ở nước ta cũng nhiều gần gấp đôi so với trung bình trên thế giới.

Ngành Thép Việt Nam chỉ mới khép kín được chuỗi giá trị của thép dài, còn thép dẹt vẫn chỉ mang tính chất gia công. Từ năm 2016 trở về trước, công suất cán thép dẹt liên tục gia tăng trong khi năng lực luyện phôi hầu như không có. Các DN tôn mạ nội địa chỉ tham gia vào công đoạn cán thép nên giá trị gia tăng không cao.

Hơn nữa, cánh cửa hội nhập càng rộng mở, đang đặt ra cho các DN ngành Thép không ít sức ép cạnh tranh. Thuế suất nhập khẩu hàng hóa bằng 0%, thép nước ngoài nhập khẩu có cơ hội tràn vào nhiều hơn, trong khi đó thị trường xuất khẩu cũng gặp khó khăn bởi biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều quốc gia.

Một ví dụ điển hình thời gian qua là lượng phôi thép và thép dài Trung Quốc nhập khẩu vào nước ta tăng vọt, khiến ngành Thép trong nước hết sức khó khăn. Ngành Thép trong nước đã phải chật vật đối phó với một khối lượng lớn thép Trung Quốc giá rẻ nhập khẩu ồ ạt vào Việt Nam. Bên cạnh những yếu tố gian lận thương mại, những biện pháp thúc đẩy, hỗ trợ xuất khẩu của Trung Quốc đối với thép, theo các chuyên gia, giá thành sản xuất của thép Trung Quốc thực sự rất cạnh tranh và về lâu dài, sức ép của thép nhập khẩu vẫn rất lớn.

Bộ Công Thương đã quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ tạm thời đối với hai mặt hàng trên (chủ yếu từ Trung Quốc), nhằm ngăn chặn “làn sóng” nhập khẩu ồ ạt. Đây là động thái cần thiết, kịp thời, tuy nhiên, nếu ngành Thép không có chiến lược đối phó lâu dài và bền vững thì nguy cơ đổ vỡ sẽ vẫn hiện hữu.

Cùng với áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm sắt thép nhập khẩu, các sản phẩm sắt thép trong nước cũng hết sức chật vật khi “lách” qua cánh cửa hẹp xuất khẩu, xuất khẩu thép ngày càng khó khăn do vấp phải các rào cản, phòng vệ thương mại từ các nước. Trong khi đó, hầu hết các DN thép nhỏ và cơ sở sản xuất chưa áp dụng các hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO 9001, ISO 14001… Đây là một hạn chế với các DN khi cần quản lý chặt về chất lượng, chi phí sản xuất.

Sản xuất phôi thép, HRC chính là điểm khuyết trong chuỗi giá trị mà Việt Nam chưa sản xuất được. Cùng với đó, năng lực sản xuất thép cơ khí chế tạo gần như chưa có. Đó là nguyên do mà năm 2016, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu 17,5 triệu tấn thép thành phẩm, trong đó nhiều nhất là thép hợp kim (46%) và thép tấm lá đen (32%).

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh ngành Thép

Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Thép, các DN thép trong nước cần thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DN, góp phần thúc đẩy ngành Thép Việt Nam tăng trưởng cao và ổn định.

Thứ nhất, các DN cần tiếp tục nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh bằng việc tăng cường phân tích dự báo thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường. Vấn đề hiện nay của các DN trong ngành Thép là nên mở rộng, khai thác điểm khuyết trong chuỗi giá trị để tạo giá trị gia tăng như phân khúc HRC.

Nếu các DN làm ống thép có thể tiến tới sản xuất được HRC, tiềm năng tăng trưởng sẽ rất rộng mở. Cần khai thác những khâu còn khuyết trong chuỗi giá trị Ngành, đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu tốt và biên lợi nhuận cao như ống thép, tôn mạ. Song song với đó là tối ưu hóa quy mô sản xuất với quy trình khép kín, giúp nâng cao hiệu quả, tiết giảm tối đa chi phí sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh về giá, kể cả so với sản phẩm nhập khẩu.

Thứ hai, trong giai đoạn hiện nay, các DN thép nên đầu tư theo chiều sâu. Nhiều DN thép trong nước đang có kế hoạch đầu tư mở rộng sản xuất, nhiều DN thép Trung Quốc cũng có kế hoạch đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thép tại Việt Nam. Việc đầu tư mới hoặc mở rộng sản xuất là cần thiết, tuy nhiên, các DN chỉ nên đầu tư sản xuất những dòng sản phẩm mà Việt Nam chưa sản xuất được, như phôi thép hoặc sản phẩm thép tấm cán nóng, thép chế tạo… để hình thành dây chuyền sản xuất khép kín. Còn với các sản phẩm tốp cuối như tôn mạ, thép xây dựng… các DN cần hết sức thận trọng.

Thứ ba, để sẵn sàng cạnh tranh, các công ty trong ngành Thép cần phải liên tục cải tiến, đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Cần chủ động nâng cao nội lực, sản phẩm có tính cạnh tranh cao, từ đó xây dựng ngành Thép đồng bộ, hiện đại. Điều này góp phần tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho các DN. Bên cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ chuyên nghiệp về phòng vệ thương mại, có kế hoạch chuẩn hoá, chuẩn bị tốt các số liệu cho các cơ quan điều tra trong và ngoài nước.

Đồng thời, chú trọng nâng cao trình độ nhân lực trong các DN, trước hết, là người đứng đầu DN. Đứng trước những cơ hội thị trường, DN có phát triển được hay không phần lớn phụ thuộc và nhận thức, trình độ và quyết tâm của những người lãnh đạo.

Vì vậy, để các DN sản xuất kinh doanh thép phát triển tốt thì những người đứng đầu DN cần trang bị nhiều kiến thức về kinh doanh, thị trường về lĩnh vực thép, cập nhật tình hình từ thị trường thép trong nước và thế giới; Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn, dài hạn phục vụ công việc.

Thứ tư, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, quan trọng hơn cả vẫn là ý thức từ phía cộng đồng DN. Khi bị áp dụng phòng vệ thì chính các DN trong Ngành phải hợp tác với nhau chặt chẽ. Để tăng sức cạnh tranh, các DN thép trong nước cần hợp tác, cùng nhau xây dựng một ngành Thép phát triển bền vững, hiệu quả, cạnh tranh lành mạnh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Để tăng cường hợp tác trong sản xuất kinh doanh thép, cần phát huy vai trò của Hiệp hội sản xuất – kinh doanh thép Việt Nam trong thúc đẩy hợp tác giữa các DN.

Hiệp hội cần phải tập hợp các cơ sở sản xuất, kinh doanh thép, tạo điều kiện cho các cơ sở đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, cùng nhau làm tốt công tác xây dựng và phát triển ngành sản xuất kinh doanh thép Việt Nam. Hiệp hội có thể tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, báo cáo chuyên đề, tọa đàm trao đổi ý kiến, tập huấn và hỗ trợ đào tạo, thực tập, tham quan trong và ngoài nước để các DN thép có cơ hội học tập, giao lưu làm việc cùng nhau.

Thứ năm, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã hỗ trợ rất nhiều cho ngành Thép Việt Nam trong thời gian đầu để tăng năng lực sản xuất, tiếp cận công nghệ mới; hiện đại hóa công tác quản trị kinh doanh, thị trường… Tuy nhiên, khoảng 15 năm trở lại đây, các DN, nhất là DN tư nhân trong nước đã phát triển rất mạnh, hoàn toàn có đủ khả năng đầu tư ở mọi quy mô công nghệ và hoạt động có hiệu quả.

Vì thế, hiện tại, không nên ưu tiêu thu hút đầu tư đối với các DN FDI vào ngành Thép. Nếu vẫn thu hút đầu tư FDI vào ngành Thép thì nên là hình thức liên doanh, liên kết với DN trong nước.

Thép là đầu vào quan trọng của nhiều ngành công nghiệp, xây dựng nên cần giữ được vai trò chủ đạo với ngành này. Không ngoại trừ khả năng việc một số DN nước ngoài đầu tư nhà máy sản xuất thép ở Việt Nam với mục đích “mượn thị trường” Việt Nam để tiêu thụ sản phẩm, tránh thuế chống bán phá giá của Việt Nam; đồng thời tránh thuế chống bán phá giá khi xuất sang các thị trường khác.

Thứ sáu, để sản phẩm thép trong nước nâng cao được sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập sâu rộng, cần có sự quan tâm đặc biệt từ các cơ chế, chính sách của Nhà nước như: Sớm xây dựng và áp dụng hàng rào kỹ thuật, hàng rào thương mại… nhằm kiểm soát và ngăn chặn nhập khẩu tràn lan các mặt hàng mà ngành Thép trong nước đã sản xuất được; ngăn chặn nhập khẩu ồ ạt thép giá rẻ từ Trung Quốc, chống gian lận thương mại, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất trong nước…

1. Hiệp hội Thép Việt Nam, http://vsa.com.vn; 2. Nguyễn Xuân Hùng, Nguyễn Nhật Hoàng (2017), Báo cáo ngành Thép, (http://static1.vietstock.vn); 3. Đỗ Thị Thúy Phương (2017), Giải pháp tăng cường sự hợp tác giữa các DN sản xuất kinh doanh thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 241, tháng 7/2017; 4. Các trang web: http://baocongthuong.com.vn; http://www.baohaiquan.vn; http://nhandan.com.vn; http://www.vnsteel.vn.

Điểm Lại Các Biện Pháp Giúp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh / 2023

Nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là ngôn chỉ cho mọi công ty, hiệu quả kinh doanh của công ty được nâng cao thì công ty càng phát triển, nhưng để nâng cao được hiệu quả thì không phải công ty nào cũng có thể làm 1 cách tốt hẳn.

Để hoạt động marketing thực sự mang lại hiệu quả thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa những người phụ trách các mảng khác nhau, đòi hỏi mỗi người phải nắm được nhiệm vụ riêng của mình và nhiệm vụ chung của toàn phòng. Chính vì vậy nhân viên phải là người có trình độ, hiểu biết về nghiên cứu thị trường, có kinh nghiệm. Phòng marketing có nhiệm vụ thu thập và điều tra các thông tin về thị trường, các đối thủ cạnh tranh,…

Nhanh.vn hân hạnh giới thiệu một số biện pháp hữu ích có thể nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Làm thế nào để tăng hiệu quả kinh doanh?

1. Thành lập bộ phận Marketing, đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường

Trong thời kì kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh mẽ, thì hoạt động Marketing trong các doanh nghiệp ngày càng trở lên quan trọng hơn, nó quyết định đến việc doanh nghiệp này kinh doanh thất bại hay thành công, vì nó là cầu nối để các doanh nghiệp đưa sản phẩm, dịch vụ của mình tới khách hàng. Do đó việc nâng cao hiệu quả hoạt động marketing và hoạt động nghiên cứu thị trường là một trong những mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp trong việc đưa ra chiến lược phát triển.

Hiệu quả của công tác này được nâng cao có nghĩa là các doanh nghiệp càng mở rộng được nhiều thị trường, sản phẩm tiêu thụ nhiều góp phần năng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Để hoạt động marketing thực sự mang lại hiệu quả thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa những người phụ trách các mảng khác nhau, đòi hỏi mỗi người phải nắm được nhiệm vụ riêng của mình và nhiệm vụ chung của toàn phòng. Chính vì vậy nhân viên phải là người có trình độ, hiểu biết về nghiên cứu thị trường, có kinh nghiệm. Phòng marketing có nhiệm vụ thu thập và điều tra các thông tin về thị trường, các đối thủ cạnh tranh,..

Các biện pháp nâng cao hoạt động kinh doanh

Hiệu quả của công tác nghiên cứu thị trường, phải thể hiện được thông qua các chỉ tiêu phát triển của doanh nghiệp, để hoàn thiện công tác nghiên cứu thị trường doanh nghiệp phải đưa các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả công tác nghiên cứu thị trường như:

– Tốc độ tăng doanh thu là bao nhiêu?

– Tốc độ tăng lợi nhuận là bao nhiêu?

– Tỷ trọng các loại thị trường: thị trường trọng điểm, thị trường bổ sung.

– Tỷ lệ lợi nhuận, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu so với tổng lợi nhuận và doanh thu của doanh nghiệp?

2. Xây dựng chính sách sản phẩm

Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa ngày càng trở lên phong phú đa dạng về chủng loại. Và giữa thị trường khác nhau cũng có sự khác biệt về nhu cầu tiêu dùng. Vậy để tận dụng được hết tiềm năng của thị trường thì các doanh nghiệp cần phải có những chính sách hợp lí để đa dạng hóa sản phẩm một cách khả thi và mở rộng tuyến sản phẩm để đạt được mục đích cuối cùng của mình là tối đa hóa lợi nhuận.

Để xây dựng được một chính sách sản phẩm hợp lý, trước hết doanh nghiệp phải dựa trên kết quả nghiên cứu thị trường, phân tích vòng đời giá cả của sản phẩm, phân tích nhu cầu và tình hình cạnh tranh trên thị trường.

Dựa vào nội lực thực tế của mình trong những giai đoạn nhất định thì cần phải có một chiến lược cụ thể phù hợp với từng giai đoạn. Đối với Doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay cần thực hiện chiến lược sản phẩm sau:

– Thứ nhất, doanh nghiệp phải không ngừng thay đổi mầu mã của hàng hoá sao cho phục vụ được các yêu cầu đa dạng của khách hàng. Những mẫu mã mới phải được thiết kế dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường sao cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của khách hàng ở từng khu vực. – Thứ hai, doanh nghiệp nên tập trung vào những sản phẩm không chỉ đáp ứng được nhu cầu thị trường khu vực mà còn có thể đáp ứng được nhu cầu nhiều cấp khác nhau. – Thứ ba, chất lượng sản phẩm quyết định uy tín kinh doanh vì vây, Doanh nghiệp phải chú trọng đến vấn đề chất lượng và coi đây là vấn đề then chốt.

3. Xây dựng chính sách về giá

Giá cả sản phẩm không chỉ là phương tiện tính toán mà còn là công cụ bán hàng. Chính vì lý do đó, giá cả là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp.

Hiện nay giá cả hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp được tính dựa theo các yếu tố sau: – Giá thành sản xuất, chế biến sản phẩm. – Mức thuế Nhà nước quy định. – Quan hệ cung cầu trên thị trường.

Tuỳ theo sự biến động của các yếu tố mà mức giá được điều chỉnh theo từng thời điểm. Việc xác lập một chính sách giá hợp lý phải gắn với từnh giai đoạn, mục tiêu của chiến lược kinh doanh, chu kỳ sống của sản phẩm đối với từng khu vực thị trường, từng đối tượng khách hàng. Ngoài ra chính sách giá cũng không tách rời với chính sách sản phẩm của doanh nghiệp như:

– Đưa ra một mức giá cao hơn được áp dụng với một thị trường nhất định, khi sản phẩm có vị trí đứng chắc trên thị trường hay sản phẩm có chất lượng cao.

– Đưa ra một mức giá thấp hơn khi sản phẩm đang ở giai đoạn suy thoái, khi doanh nghiệp đang có ý định xâm nhập thị trường, theo đuổi mục tiêu doanh số. – Áp dụng mức giá thấp hơn đối với những khách hàng thanh toán ngay nhằm thu hồi nhanh vốn lưu động.

Chất lượng sản phẩm là nhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, là nhân tố tạo dựng uy tín, danh tiếng cho sự tồn tại va phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tăng chất lương sản phẩm tương đối với tăng năng suất lao động xã hội, nhờ tăng chất lượng sản phẩm dẫn đến tăng giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế trên một đơn vị chi phí đầu vaò, giảm lượng nguyên vật liệu sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí sản xuất. Nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp.

Kinh doanh hiệu quả hơn với phần mềm quản lý bán hàng Nhanh.vn

Quản lý chặt chẽ tồn kho, đơn hàng, khách hàng, dòng tiền

5. Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động

Con người luôn là yếu tố trung tâm quyết định tới sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Con người tác động đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm …. Chính vì vậy, trong bất kỳ chiến lược phát triển của bất kỳ Doanh nghiệp nào cũng không thể thiếu con người được.

Các doanh nghiệp có nhiều những người thợ giỏi, những người quản lý giàu kinh nghiệm và tay nghề cao. Song cùng với thời đại kỹ thuật khoa học công nghệ cao thì dần dần các doanh nghiệp sẽ phải sử dụng những máy móc thiết bị hiện đại đòi hỏi người công nhân phải có trình độ, hiểu biết để có thể làm chủ và vận hành được các trang thiết bị công nghệ mới. Vì vậy, việc xác định nhu cầu giáo dục đào tạo dựa trên cơ sở kế hoạch nguồn nhân lực để thực hiện các mục tiêu chiến lược của Doanh nghiệp.

Điều gì quan trọng nhất trong kinh doanh?

6.Tăng cường huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả hơn

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và vốn chuyên dùng khác. Doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức huy động các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh. Đồng thời tiến hành phân phối, quản lý và sử dụng vốn một cách hợp lý, hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ chính sách quản lý tài chính của nhà nước. Một thực tế là các doanh nghiệp hiện nay đang gặp khó khăn về vốn. Vốn góp phần rất quan trọng vào sự thành công hay thất bại và mang lại lợi nhuận cao hay thấp. Trong cơ chế mới rõ ràng là các doanh nghiệp không thể chờ vào nhà nước. Hiện nay tỷ trọng vốn vay trong tổng số vốn của các doanh nghiệp còn rất cao chiếm trên 60% điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì vậy các doanh nghiệp cần phải tăng nhanh nguồn vốn chủ sở hữu của mình lên bằng cách hàng năm trích một phần lợi nhuận vào vốn chủ sở hữu, để giảm vốn vay tiết kiệm chi phí trả lãi, làm tăng lợi nhuận. Để sử dụng vốn có hiệu quả, doanh nghiệp phải giải quyết tốt các công việc như thu hồi nợ từ các đơn vị khác và tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động trong kinh doanh vì :

Tổng doanh thu thuần = Vốn lưu động bình quân x hệ số luân chuyển

7. Tăng cường liên kết kinh tế

Liên kết kinh tế là hình thức phối hợp hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vực nào đó nhằm mục đích khai thác tốt nhất, hiệu quả nhất tiềm năng thế mạnh của mỗi bên tham gia vào mối quan hệ liên kết. Đẩy mạnh công tác nâng cao uy tín của mỗi bên tham gia liên kết trên cơ sở nâng cao chất lượng, sản lượng sản xuất, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế.

Các doanh nghiệp với điểm mạnh là doanh nghiệp tư nhân, linh hoạt trong việc ra quyết định nhưng điểm yếu nhất hiện nay là sự hạn chế về vốn, khó khăn về vấn đề nguyên vật liệu, nguồn nguyên vật liệu hàng năm phải nhập khẩu với một số lượng lớn làm cho giá thành sản xuất tăng. Do vậy, việc tăng cường liên kết sẽ giúp cho Doanh nghiệp khai thác được những thế mạnh của mình, đồng thời khắc phục được những điểm yếu của mình.

Việc tăng cường liên kết kinh tế có thể thực hiện theo hướng sau:

Tăng cường liên kết với các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng nguồn nguyên vật liệu, những doanh nghiệp có tiềm lực về vốn . Việc tăng cường liên kết này một mặt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước phát triển, mặt khác tạo nguồn nguyên liệu ổn định, bảo đảm về mặt chất lượng cũng như khối lượng một cách lâu dài và có chủ động cho Doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có mối quan hệ chặt chẽ với các đơn vị sản xuất nguyên vật liệu cung cấp cho Doanh nghiệp.

Đây là một yếu tố hết sức quan trọng giúp cho Doanh nghiệp ổn định được nguồn hàng , đảm bảo ổn định sản xuất, giảm những chi phí do nhập khẩu nguyên vật liệu với giá cao, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần thực hiện một số chính sách marketting cho người bán. Đặt mối quan hệ và chữ tín lên hàng đầu. Cố gắng hết sức trong việc thanh toán cho những đối tác mà doanh nghiệp cần có sự liên kết. Sẵn sàng giúp đỡ đối tác trong phạm vi có thể.

Ngoài ra chúng tôi là phần mềm quản lý đa kênh tốt nhất. chúng tôi cung cấp nhiều dịch vụ như đồng bộ sàn thương mại điện tử, quản lý fanpage Faecbook, tích hợp cổng vận chuyển…

Hiệu Quả Kinh Doanh Là Gì? Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Doanh / 2023

Việc làm Nhân viên kinh doanh

1. Hiểu về hiệu quả kinh doanh là gì?

– Thứ ba, cần phải so sánh được những hiệu quả trước mắt với các hiệu quả lâu dài

Việc làm trưởng phòng kinh doanh

2. Những ý nghĩa của việc phân tích hiệu quả kinh doanh

– Đối với các nhà đầu tư (các cổ đông hay các công ty liên doanh) thì thông qua việc phân tích các chỉ tiêu sẽ giúp họ nắm bắt được về hiệu quả kinh doanh như thế nào, hiệu quả sử dụng vốn ra sao, lợi nhuận thu vào nhiều không,… từ đó quyết định đến việc có tiếp tục đầu tư hay rút vốn. Điều này giúp họ đạt được lợi nhuận cao nhất trong quá trình đầu tư của mình.

– Còn đối với các cơ quan chức năng thuộc nhà nước (như là cơ quan thuế, thống kê, kiểm toán nhà nước) thì qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ có thể biết được hiệu quả sử dụng vốn ngân sách như thế, nghĩa vụ với các cơ quan nhà nước được thực hiện ra sao, đánh giá được về tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp,… Từ đó họ có thể đưa ra các đề xuất với cơ quan chức năng và thúc đẩy hơn nữa hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Việc làm giám đốc kinh doanh

3. Chỉ tiêu để đánh giá về hiệu quả kinh doanh

3.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá về khả năng sinh lời cho doanh nghiệp

– Tỷ suất lợi nhuận/doanh thu tiêu thụ sản phẩm – chỉ tiêu này thể hiện rằng một đồng doanh thu trong thời kỳ đó chiếm bao nhiêu phần trăm lợi nhuận. Và kết quả của chỉ tiêu này càng cao thì sẽ có hiệu quả kinh doanh càng lớn và ngược lại.

3.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá về hiệu suất sử dụng các tài sản

Đối với các tài sản cố định thì chỉ tiêu thường được sử dụng sẽ chính là sức sản xuất và suất hao phí của các tài sản cố định. Còn với những tài sản ngắn hạn thì các doanh nghiệp thường sẽ sử dụng số vòng quay của các tài sản ngắn hạn theo tháng, quý, năm cùng với hệ số đảm nhiệm của các tài sản đó kèm theo thời gian của một vòng quay để tiến hành đánh giá.

– Số vòng quay hàng tồn kho = tổng doanh thu thuần/lượng hàng tồn kho bình quân

3.3. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động

+ Số lượng lao động được sử dụng, năng suất lao động, thu nhập bình quân lao động như thế nào. Nếu như các chỉ tiêu này tăng cao thì doanh nghiệp đang hoạt động rất hiệu quả.

Người tìm việc

4. Bật mí giải pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả kinh doanh là mục tiêu cuối cùng và cao nhất mà các doanh nghiệp luôn hướng tới trong quá trình phát triển. Do đó, các doanh nghiệp luôn cần phải đánh giá và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.

– Tăng doanh thu là một trong những biện pháp hàng đầu, cơ bản nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp hiện nay. Và muốn tăng được doanh thu thì các doanh nghiệp sẽ cần phải làm sao để tiêu thụ được các sản phẩm, hàng hóa hay sản xuất ra những mặt hàng chất lượng nhất, đảm bảo hơn trước đây để bán được nhiều hàng hơn, bán với giá cao hơn.

Hơn nữa việc tiêu thụ hàng hóa cũng đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải sản xuất ra được những sản phẩm đạt chất lượng theo nhu cầu, mong muốn của khách hàng, mẫu mã đẹp, bắt mắt, đa dạng cho các đối tượng người dùng. Đồng thời cần phải có các chiến lược Marketing tốt nhất, thu hút được đông đảo khách hàng biết đến và tin tưởng, sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp.

– Giải pháp thứ 3 đó là làm sao để tốc độ doanh thu phải tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng chi phí. Thực tế, việc kinh doanh với quy mô lớn, điều kiện sản xuất cao sẽ khó có thể giảm bớt được tổng chi phí cho doanh nghiệp bởi sản lượng sẽ tăng rất nhanh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần phải tìm cách để tốc độ tăng doanh thu ngày càng phải lớn hơn so với tốc độ tăng chi phí sản xuất, tạo ra mối tương quan giữa doanh thu – chi phí sản xuất theo chiều hướng có lợi cho doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp sẽ phải sử dụng các nguyên liệu, thiết bị, chi phí sản xuất một cách hợp lý, tiết kiệm, không lãng phí thì mới có thể mang lại hiệu quả kinh doanh cao.

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!