Xu Hướng 2/2024 # Bệnh Viện Nhân Dân 115 # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bệnh Viện Nhân Dân 115 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nhà thuốc Bệnh viện Nhân dân 115 được Sở Y tế TPHCM cấp giấy chứng nhận Thực hành tốt nhà thuốc (GPP) từ năm 2008, là một trong những nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP sớm nhất của TPHCM.

Với đội ngũ dược sĩ thân thiện, cởi mở, có trách nhiệm, luôn quan tâm đến từng yêu cầu của khách hàng, Nhà thuốc bệnh viện đã hoàn thành tốt vai trò bảo đảm cung ứng thuốc ngoại trú đạt chất lượng, thuốc có nguồn gốc rõ ràng, giá cả hợp lý, được cung cấp bởi các hãng dược phẩm có uy tín

Cơ cấu tổ chức – nhân sự:

Tổng số viên chức và người lao động tại Nhà thuốc – Bệnh viện Nhân dân 115 là 18 cán bộ, trong đó:

- Phụ trách chuyên môn: Dược sĩ Nguyễn Thị Thúy Hà

- 1 Dược sĩ chuyên khoa 1, 3 Dược sĩ đại học, 14 Dược sĩ trung học

Cơ sở vật chất: – 02 Nhà thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt Nhà thuốc (GPP)

Chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động:

Chức năng:

Nhà thuốc Bệnh viện là cơ sở bán lẻ trong khuôn viên bệnh viện, trực thuộc Giám đốc và được Khoa dược bệnh viện tham mưu cho Giám đốc bệnh viện thực hiện các quy định chuyên môn về dược.

Nhiệm vụ:

Phạm vi hoạt động chuyên môn của Nhà thuốc Bệnh viện là bán lẻ thuốc thành phẩm được phép lưu hành tại Việt Nam. Giá bán lẻ tại cơ sở bán lẻ thuốc được thực hiện đúng quy định thặng số bán lẻ tối đa của thuốc thành phẩm.

Các hoạt động:

- Cung ứng thuốc điều trị ngoại trú tất cả các ngày trong tuần 24/24 giờ.

- Tư vấn sử dụng thuốc cho khách hàng đến mua thuốc tại Nhà thuốc bệnh viện.

- Tham gia theo dõi, giám sát phản ứng có hại của thuốc.

- Nhiều năm liền tham gia triển khai Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng dược phẩm thiết yếu trên địa bàn TPHCM.

Hình ảnh đội ngũ cán bộ Nhà thuốc – Bệnh viện Nhân dân 115:

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyên

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng trực thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, là một trong các cơ quan bảo vệ pháp luật của huyện Đông Hưng, thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, thực hiện các nhiệm vụ chính trị địa phương, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật.

Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc bắt, tạm giữ, tạm giam; việc thi hành án; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật, nhằm bảo đảm các hoạt động tư pháp được thực hiện đúng quy định của pháp luật, mọi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh.

4. Thông tin lãnh đạo đơn vị

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Gia Lai

Thứ sáu – 12/04/2024 08:14

Qua công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp thời gian qua, Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Gia Lai đã ban hành 68 Kiến nghị đối với các cơ quan, tổ chức hữu quan về các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, góp phần làm tốt công tác phòng, chống tội phạm, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội tại địa phương.

Nội dung kiến nghị tập trung làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh vi phạm pháp luật và tội phạm có nguyên nhân từ thiếu sót, sơ hở trong quản lý kinh tế, xã hội để tham mưu cấp ủy Đảng, kiến nghị với chính quyền và cơ quan hữu quan các giải pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, các lĩnh vực như: Lĩnh vực quản lý đất đai; quản lý thu, chi và sử dụng các loại quỹ, phí, lệ phí nộp vào ngân sách nhà nước; quản lý và bảo vệ rừng; quản lý hộ khẩu, hộ tịch, đăng ký khai sinh; công tác phòng, chống ma túy; phòng ngừa tai nạn giao thông; tội phạm xâm hại trẻ em, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng; tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên và người đồng bào dân tộc thiểu số; giải pháp hạn chế tình trạng ly hôn, phòng, chống bạo lực gia đình; việc quản lý kinh doanh dịch vụ nhà trọ, nhà nghỉ,… Các đơn vị có văn bản kiến nghị điển hình đạt hiệu quả cao như:

nắm vững cơ sở pháp lý, vai trò, trách nhiệm và quyền năng của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Viện trưởng Viện KSND huyện Đak Đoa và Kông Chro đã quán triệt và chỉ đạo Kiểm sát viên, Kiểm tra viên các bộ phận nghiệp vụ phải nắm vững, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm: , đây là hoạt động nhằm góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. , Là một trong những nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân thông qua việc thực hiện quyền Kiến nghị được quy định tại Khoản 2, Điều 5 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “……nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm….”. Ngoài ra, còn được quy định tại Khoản 7 Điều 15 và Khoản 2, Điều 17 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; Khoản 8, Điều 166; Điểm b, Khoản 1, Điều 237 và Khoản 7, Điều 267 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2024. , Nâng cao vị thế của ngành Kiểm sát nhân dân trước cấp ủy Đảng và các cấp chính quyền ở địa phương, tạo thuận lợi để Ngành thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

về quy trình thực hiện gồm có 03 bước như sau:

Xác định nguồn để phát hiện vi phạm, sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý kinh tế và xã hội, gồm 02 nguồn cơ bản: Nguồn tổng quát: Qua thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án hình sự cụ thể về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, các tội phạm về chức vụ, tội phạm về trật tự an toàn xã hội…Trọng tâm là những vụ án điển hình tại địa phương, được đông đảo dư luận quần chúng quan tâm, theo dõi hoặc những vụ án có khách thể tội phạm ảnh hưởng lớn đến lợi ích chung của cộng đồng dân cư tại địa phương… Nguồn trọng tâm: Qua việc đánh giá khách quan, toàn diện về động cơ, mục đích, phương thức và thủ đoạn phạm tội. Từ đó, xác định nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc vi phạm pháp luật và những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý kinh tế, xã hội của cơ quan hữu quan.

Xây dựng và ban hành văn bản kiến nghị: Kiểm sát viên dự thảo văn bản kiến nghị, báo cáo xin ý kiến Phó Viện trưởng phụ trách, đề xuất Viện trưởng xem xét, quyết định. Trường hợp cần thiết có thể đưa ra tập thể Lãnh đạo đơn vị để bàn và quyết định nhằm tranh thủ tối đa trí tuệ của tập thể.

Quá trình thực hiện cần lưu ý, trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát cần có sự trao đổi, thống nhất nhận thức về pháp luật với cơ quan, tổ chức hữu quan gắn với việc thực hiện chủ trương của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương trong công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của văn bản kiến nghị./.

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Huyện Đại Từ

Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25 km, nằm trong toạ độ từ 21°30′ đến 21°50′ vĩ bắc và từ 105°32′ đến 105°42′ kinh đông; phía bắc giáp huyện Định Hóa, phía đông nam giáp thị xã Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phía đông bắc giáp huyện Phú Lương, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc, phía nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc. Huyện Đại Từ có diện tích 3.562,82 km², Dân số khoảng 160.598 người gồm 5 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu. Đại Từ có 31 đơn vị hành chính trực thuộc trong đó có 28 xã và 02 thị trấn là Thị trấn Hùng Sơn và Thị trấn Quân Chu . Trong nhiều năm qua tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được duy trì tương đối ổn định.

VKSND huyện Đại Từ có vị trí đặt tại Phố Đình, Thị trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và là một đơn vị trực thuộc VKSND tỉnh Thái Nguyên có chức năng nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định tại Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND năm 2014. Từ khi được thành lập, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ pháp luật quy định, đồng thời bám sát nhiệm vụ chính trị địa phương, luôn hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Năm 2007 và năm 2014 đơn vị được Viện trưởng VKSND tối cao tặng cờ dẫn đầu phong trào thi đua khối. Hàng năm đều được Viện kiểm sát nhân dân tối cao và địa phương tặng bằng khen, giấy khen.

2.CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ

Theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ trong hệ thống các cơ quan Nhà nước tại địa phương ngày càng được thể hiện rõ nét, đóng góp ngày càng tích cực trong lĩnh vực bảo đảm an ninh chính trị và trật tự trị an toàn trên địa bàn huyện, qua đó góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

3.CƠ CẤU TỔ CHỨC

Từ khi được thành lập chỉ với 02 biên chế nghiệp vụ, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế đến nay VKSND huyện Đại Từ đã có 13 biên chế làm công tác nghiệp vụ do đồng chí Viện trưởng lãnh đạo toàn đơn vị; 02 đồng chí giữ chức vụ Phó Viện trưởng có nhiệm vụ tham mưu cho Viện trưởng lãnh đạo chỉ đạo 50% số lượng công việc và cán bộ KSV của đơn vị; đơn vị có 05 KSV; 02 Kiểm tra viên; 02 chuyên viên; 01 Kế toán viên; 01 hợp đồng bảo vệ và 01 cán bộ tạp vụ.100% cán bộ làm công tác nghiệp vụ có trình độ Đại học; 01 đồng chí đang theo học lớp cao học Luật; 02 đồng chí có trình độ cao cấp lý luận chính trị, 02 đồng chí có trình độ trung cấp lý luận chính trị và 02 đồng chí đang theo học lớp trung cấp lý luận chính trị. Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ngành dọc cấp trên, hiện nay đơn vị có cơ sở vật chất khang trang với hệ thống 08 phòng làm việc được trang bị đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật như hệ thống máy tính, máy in, máy phô tô, mạng Internet…đảm bảo cho các cán bộ, KSV có thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công nhằm nâng cao chất lượng, vị trí, vai trò của cán bộ kiểm sát, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời kỳ hiện nay.

Viện trưởng: Đồng chí Vũ Thị Bích Hường

Phó viện trưởng: Đồng chí Lưu Thanh Tuấn, Đồng chí Nguyễn Thanh Phong

4.THÔNG TIN LIÊN HỆ

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Địa chỉ: Phố Đình, Thị Trấn Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Điện thoại: 02803.824.239

Email: [email protected]

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tỉnh Phú Yên

Thứ Ba, 25/08/2024 17:11 CH

Trang thông tin điện tử VKSND tỉnh tiếp tục giới thiệu một số nội dung Quy chế kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (Quy chế) được ban hành kèm theo Quyết định số 299/QĐ-VKSTC ngày 19/8/2024 của Viện trưởng VKSND tối cao.

1. Khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án cùng cấp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức (sau đây viết tắt là công chức) phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát.

2. Công chức kiểm sát chặt chẽ các vấn đề sau đây: a) Thẩm quyền thụ lý của Tòa án theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014; b) Thời hạn và đối tượng Tòa án phải gửi thông báo thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014; c) Nội dung của văn bản thông báo theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh số 09/2014; d) Hình thức của Thông báo thụ lý theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 24/12/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 04/2024).

3. Trường hợp phát hiện việc thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Quy chế này.

Hồ sơ kiểm sát được lập, sắp xếp, đóng dấu bút lục, thống kê tài liệu theo Hướng dẫn số 28/HD-VKSTC ngày 19/10/2024 của VKSND tối cao về lập hồ sơ kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính; vụ việc kinh doanh, thương mại; lao động; phá sản; xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Sau khi nhận được Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án, công chức kiểm sát các nội dung sau:

a) Thời hạn Thẩm phán ban hành quyết định là 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 12 Pháp lệnh số 09/2014; b) Nội dung của quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014; c) Hình thức của quyết định theo Mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2024; d) Thời hạn gửi, đối tượng Tòa án phải gửi quyết định theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014.

2. Trường hợp phát hiện Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có vi phạm thì công chức tập hợp, báo cáo đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình thực hiện quyền kiến nghị theo quy định tại Điều 5 Quy chế này.

Tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp về các nội dung sau:

1. Thời hạn Tòa án phải mở phiên họp là 07 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Pháp lệnh số 09/2014. 2. Thành phần, tư cách pháp lý của người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp theo khoản 2 Điều 16, Điều 17 Pháp lệnh số 09/2014. 3. Việc quyết định thay đổi người tiến hành phiên họp nếu thuộc các trường hợp quy định tại Điều 10 Pháp lệnh số 09/2014. 4. Căn cứ tạm dừng phiên họp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014. 5. Việc tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục tại phiên họp theo quy định tại Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014; Điều 6 Nghị quyết số 04/2024.

1. Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về các nội dung sau: a) Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành và người tham gia thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; b) Tính có căn cứ và hợp pháp đối với việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; c) Quan điểm của Viện kiểm sát về việc áp dụng, không áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

2. Việc phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp được thực hiện theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh số 09/2014 và Điều 7 Nghị quyết số 04/2024.

3. Văn bản phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên hoàn thiện nội dung văn bản phát biểu để gửi cho Tòa án và lưu vào hồ sơ kiểm sát.

Viện Kiểm Sát Nhân Dân Thành Phố Hà Nội

Luật xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013. Luật có một số nội dung thay đổi lớn so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, trong đó đáng lưu ý là phần thứ ba “Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”.

Tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, điều 22 quy định:

“Các biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm:

1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

2. Đưa vào trường giáo dưỡng;

3. Đưa vào cơ sở giáo dục;

4. Đưa vào cơ sở chữa bệnh;

5. Quản chế hành chính.”

Thẩm quyền quyết định các biện pháp: đưa vào cơ sở giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh được quy định tại điều 24, 25, 26; trong đó Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dưỡng và cơ sở chữa bệnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền quyết định việc đưa người vào cơ sở giáo dục.

Tại Luật xử lý vi phạm hành chính, hình thức “đưa vào cơ sở chữa bệnh” được sửa đổi thành hình thức “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, bỏ việc đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh đối với các đối tượng bán dâm. Thẩm quyền quyết định đối với 3 biện pháp được thay đổi, biện pháp “đưa vào cơ sở giáo dưỡng”, “đưa vào cơ sở giáo dục” và “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” do Tòa án nhân dân quyết định. Thủ tục, quy định về trình tự xây dựng hồ sơ đối với các đối tượng đề nghị các biện pháp này được quy định rất chặt chẽ, với nhiều bước do nhiều cơ quan tham gia. Cơ quan công an cấp huyện là cơ quan tập hợp hồ sơ và chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án mở phiên họp để ra quyết định đối với hai hình thức “đưa vào cơ sở giáo dưỡng” và “đưa vào cơ sở giáo dục”, Phòng lao động thương binh và xã hội cấp huyện là cơ quan tập hợp hồ sơ và chuyển hồ sơ đề nghị quyết định áp dụng biện pháp “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”.

Tại điều 4 của Pháp lệnh số 09 quy định:

“Điều 4. Kiểm sát việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính

1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

2. Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này.

3. Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó.”

Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý, Tòa án phải thông báo việc thụ lý bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp (điều 11). Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát các hoạt động của Tòa án, phát biểu ý kiến tại phiên họp, kiểm tra biên bản phiên họp (điều 22); kiểm sát việc quyết định hoãn, giảm thời hạn, tạm đình chỉ, đình chỉ áp dụng các biện pháp hành chính và việc hủy bỏ các quyết định trên (điều 26, 27, 28). Để thực hiện thẩm quyền kiểm sát hoạt động áp dụng các biện pháp tại Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị các quyết định của Tòa án nhân dân…Như vậy Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động của Tòa án nhân dân kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc hoạt động bằng việc mở phiên họp và ra quyết áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Theo ý kiến của cá nhân tôi, khi tiến hành kiểm sát việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án và ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên họp cần phải có các ý kiến đánh giá về các nội dung:

– Về thẩm quyền thẩm quyền lập hồ sơ của UBND cấp xã, thẩm quyền đề nghị của Phòng lao động thương binh – xã hội và thẩm quyền mở phiên hợp của Tòa án.

– Về việc chấp hành pháp luật đối với trình tự thủ tục mở phiên họp của Tòa án nhân dân. Về sự có mặt, vắng mặt của những người được mời, được triệu tập đến phiên họp.

Để có được ý kiến phát biểu nêu trên, trước khi mở phiên họp kiểm sát viên phải nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính đúng đắn của các tài liệu có trong hồ sơ về căn cứ pháp lý về trình tự thủ tục thu thập tài liệu, có thể có ý kiến để Tòa án nhân dân yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu nếu cần thiết.

Những văn bản pháp luật cần nghiên cứu là:

Luật xử lý vi phạm hành chính, trong đó chú trọng đến phần thứ ba “Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính” (Luật số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012);

Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân (Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH ngày 20/01/2014);

Nghị định 111 ngày 30/9/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

Nghị định 221 ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định về chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bốn văn bản pháp luật trên là những văn bản pháp luật căn bản nhưng để thực hiện được cần có những quy định hướng dẫn cụ thể hơn, như: căn cứ xác định đối tượng nghiện, việc quản lý người bị đề nghị trước khi mở phiên họp, việc vắng mặt của họ và người đại diện hợp pháp của họ hoặc luật sư.

Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân có hiệu lực từ ngày 20/01/2014 nhưng năm 2024 là năm đầu tiên thành phố Hà Nội thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính đưa người đi cai nghiện bắt buộc theo trình tự, thủ tục tại Tòa án nhân dân. Thực tế nảy sinh khó khăn là: đối với những người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định điều kiện bắt buộc để áp dụng biện pháp đi cai nghiện bắt buộc là phải đã áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường những vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên trên thực tế ít rất đối tượng đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã phường.

Tại Long Biên, tính đến thời điểm hiện tại đã ban hành được 8 quyết định đưa người đi cai nghiện bắt buộc. Để thực hiện được việc xây dựng hồ sơ, mở phiên họp đưa người đi cai nghiện bắt buộc, trước mắt công an các phường tập trung vào việc phát hiện các đối tượng lang thang sử dụng trái phép chất ma túy ở các khu vực nhạy cảm như công viên, bến xe, khu vực có nhiều nhà trọ…Tuy nhiên đây là một giải pháp tạm thời để hoàn thành nhiệm vụ và cần lưu ý một vấn đề là: nhằm tránh việc cơ quan lập hồ sơ – UBND cấp phường mà trực tiếp là công an cấp phường cố hoàn thành chỉ tiêu xây dựng hồ sơ thiếu chính xác, cần kiểm tra chặt chẽ căn cứ về thẩm quyền theo điểm b điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính – “người nghiện ma túy không xác định được nơi cư trú hay còn gọi là đối tượng lang thang”. Việc kiểm tra tính đúng đắn bằng việc yêu cầu phải có lý lịch do nơi đối tượng có hộ khẩu thường trú cấp xác định đối tượng không sống tại địa phương, không thực hiện việc đăng ký tạm vắng; bằng lời khai của đối tượng về việc có nơi cư trú ổn định hay không?

Để thực hiện được việc đưa đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì cần làm tốt công tác quản lý đối tượng nghiện cư trú trên địa bàn, nếu phát hiện các đối tượng nằm trong danh sách nghiện ma túy sử dụng trái phép chất ma túy thì phải thực hiện tốt được việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường. Giáo dục tại xã phường là vừa là biện pháp răn đe vừa là điều kiện cần để áp dụng biện pháp xử lý đưa đi cai nghiện bắt buộc theo trình tự thủ tục tại Tòa án nhân dân.

Kiểm sát việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân trong đó có việc đưa người đi cai nghiện bắt buộc là một hoạt động kiểm sát mới của ngành Kiểm sát nhân dân, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, các kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật nhằm hướng tới mục tiêu chung là việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục tại Tòa án được đúng pháp luật, tránh bỏ lọt người có hành vi vi phạm hành chính, đồng thời góp phần bảo vệ quyền con người.

Ngọc Phong – Viện KSND quận Long Biên

Cập nhật thông tin chi tiết về Bệnh Viện Nhân Dân 115 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!