Xu Hướng 12/2023 # Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Chính Sách, Pháp Luật Về Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam # Top 14 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Chính Sách, Pháp Luật Về Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 12 năm 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

Tình trạng biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay không còn là vấn đề của một địa phương, hay một quốc gia đơn lẻ nào mà đã trở thành câu chuyện của toàn nhân loại. Nhận thức đúng đắn và khoa học về những tác hại của BĐKH để có những giải pháp và hành động thiết thực là yêu cầu cấp thiết. Bảo vệ môi trường (BVMT) nói chung, ứng phó với BĐKH và bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về BĐKH nói riêng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau và trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản, trong đó có nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và bảo vệ quyền con người được sống trong một môi trường trong lành. Bài viết giới thiệu một số nội dung trong chính sách và pháp luật về BĐKH ở Việt Nam trong mối tương quan với việc đảm bảo quyền con người.

1. Cơ sở lý luận của việc đảm bảo quyền con người trong chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậuở Việt Nam

Quyền con người được sống trong một môi trường trong lành đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các hoạt động tác động đến chính môi trường, làm cho môi trường bị ô nhiễm, suy thoái. Nói một cách khác, chính con người đang tự tước đoạt quyền được sống trong điều kiện môi trường trong lành.

Môi trường trong lành có thể được hiểu là môi trường vật chất mà chất lượng của nó cho phép cuộc sống được đảm bảo an toàn, hài hòa với tự nhiên. Quyền con người được sống trong một môi trường trong lành, dưới góc độ pháp lý, là chất lượng môi trường xung quanh đạt tiêu chuẩn cho phép. Điều này phụ thuộc vào quy định của từng quốc gia cụ thể.

Tuyên bố của Liên hợp quốc về Môi trường con người năm 1972 (Tuyên bố Stockholm) đã đưa quyền con người được sống trong môi trường trong lành thành một nguyên tắc của quan hệ giữa các quốc gia. Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố Stockholm nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau”[1]. Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố của Liên hợp quốc về Môi trường và phát triển bền vững năm 1992 (Tuyên bố Rio de Janeiro) cũng khẳng định:”Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”[2]. Cộng đồng quốc tế thừa nhận đây là quyền quan trọng hàng đầu, là mục tiêu hoạt động BVMT và các quốc gia đều ghi nhận quyền này trong các văn bản pháp luật của mình. Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế đó, nhất là với tư cách quốc gia ký hai tuyên bố trên, có trách nhiệm biến quyền được sống trong môi trường trong lành thành nguyên tắc pháp lý và thực tế nó đã là nguyên tắc trong pháp luật môi trường Việt Nam. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận một cách tổng quát: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật”. Quyền này được thực hiện thông qua những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như quyền được bồi thường thiệt hại, quyền tự do tín ngưỡng, quyền khiếu nại tố cáo,…

Lời nói đầu của Luật BVMT năm 1993 đề cập: “Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc BVMT nhằm bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần BVMT khu vực và toàn cầu”. Nguyên tắc này cũng được đề cập một cách gián tiếp tại khoản 2, Điều 3 Luật BVMT năm 2005: “BVMT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình cá nhân”. Đến Luật BVMT năm 2014, nguyên tắc này được quy định ở khoản 2 Điều 4: “BVMT gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với BĐKH để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành”. Đây không chỉ là nguyên tắc mà là mục đích của pháp luật về môi trường, tất cả những quy định của pháp luật về môi trường đều nhằm thể hiện nguyên tắc này.

2. Chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậuở Việt Nam

Quyền con người được sống trong một môi trường trong lành là quyền tự nhiên của con người, là quyền tạo hóa ban tặng cho con người. Nhà nước phải ghi nhận vì xuất phát từ hiện trạng môi trường đáng báo động hiện nay, tạo cơ sở pháp lý để người dân bảo vệ quyền được sống trong một môi trường trong lành (khi nó bị xâm phạm) thông qua các hoạt động như: biểu tình, mít-tinh, gây sức ép với Nhà nước, khiếu nại, yêu cầu bồi thường thiệt hại,… Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ, phục hồi môi trường, đảm bảo cho người dân được sống trong một môi trường trong lành. Có nghĩa là khi Nhà nước đã ghi nhận quyền này thì Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo quyền đó được thực hiện trên thực tế.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, có hai phương thức để công chúng tiếp cận thông tin về môi trường nói chung, thông tin về BĐKH nói riêng:

– Thứ hai, bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về BĐKHgắn với xây dựng quy hoạch BVMT.

Một là, các cơ quan nhà nước, các cơ sở sản xuất kinh doanh… chủ động công khai thông tin theo quy định và mọi người dân đều có thể tiếp cận những thông tin này. Đây là phương thức chủ yếu ở Việt Nam hiện nay. Đối với phương thức này, pháp luật quy định rõ những thông tin buộc phải công khai, hình thức công khai, người có trách nhiệm phải công khai[7]. Ưu điểm của phương thức này là công chúng có thể dễ dàng tiếp cận thông tin mà không phải qua những thủ tục phức tạp, tốn kém nhưng nó cũng có hạn chế là nội dung và chất lượng thông tin lại tùy thuộc vào các cơ quan nhà nước, Nhà nước công bố cái gì, dân biết cái đó.

Hai là,người dân chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước, các cơ sở sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin về môi trường như quyền yêu cầu cung cấp thông tin môi trường của tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, của đại diện cộng đồng dân cư[8]. Phương thức tiếp cận thông tin này hiện chưa phải là kênh tiếp cận thông tin quan trọng vì pháp luật Việt Nam giới hạn thông tin mà người dân được chủ động yêu cầu cung cấp, thủ tục yêu cầu cung cấp phức tạp (phải thông qua người đại diện cộng đồng dân cư hoặc những tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp)[9] …

– Thứ ba, bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về BĐKHgắn với xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; các dự án đầu tư.

Trên thực tế, những quy định về quyền tiếp cận thông tin về môi trường chủ yếu ở góc độ xác định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước, quyền tự do thông tin mang tính nguyên tắc, hơn là tính thực tiễn. Chất lượng thông tin cung cấp nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Do đó, theo chúng tôi, cần quy định rõ việc tiếp cận thông tin về môi trường là quyền của người dân, quy định rõ các loại thông tin về môi trường người dân được phép tiếp cận, cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin về môi trường của người dân.

Quy hoạch BVMT giúp có một tầm nhìn dài hạn và tổng thể về BVMT, gắn kết thực sự giữa BVMT với phát triển kinh tế – xã hội; chủ động triển khai công tác BVMT, gắn BVMT với phát triển kinh tế, an sinh xã hội và là cơ sở điều chỉnh hoặc xây dựng các quy hoạch phát triển khác, đặc biệt là phát triển bền vững. Quy hoạch BVMT phải được xây dựng phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược BVMT quốc gia bảo đảm phát triển bền vững; quy hoạch sử dụng đất; bảo đảm nguyên tắc BVMT.

– Thứ tư, bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về BĐKHgắn với quản lý phát thải khí nhà kính, thu hồi năng lượng từ chất thải, trong sản xuất và tiêu thụ thân thiện môi trường, trong phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược thì báo cáo đánh giá môi trường chiến lược phải thể hiện các nội dung ứng phó với BĐKH (tương tự như thế đối với dự án đầu tư thuộc đối tượng phải đánh giá tác động môi trường). Việc tích hợp nội dung ứng phó với BĐKH trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, dự án đầu tư phải dựa trên cơ sở đánh giá tác động qua lại giữa các hoạt động của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với môi trường, BĐKH và xây dựng hệ thống giải pháp BVMT, ứng phó với BĐKH.

Trên thực tế, việc tham vấn ý kiến trong các báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường còn được đánh giá là “hình thức”. Các ý kiến được tham vấn có giá trị tham khảo đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc quyết định triển khai hay không thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực hay dự án đầu tư chứ không có tính chất quyết định, dẫn đến tranh chấp phát sinh. Do đó, theo chúng tôi, cần quy định rõ cách thức, đối tượng, thủ tục và giá trị của tham vấn trong thực hiện hoạt động đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường.

– Thứ năm, bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về BĐKHgắn với hoạt động khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Cho đến nay, chúng ta chưa biết hết nguyên nhân của BĐKH, nhưng một trong những nguyên nhân chính đã được thừa nhận rộng rãi là do con người phát thải quá nhiều khí nhà kính vào bầu khí quyển, vượt quá khả năng hấp thụ những khí này của trái đất, dẫn đến làm gia tăng lượng khí nhà kính trong bầu khí quyển so với tỷ lệ tự nhiên vốn có, làm gia tăng hiện tượng hiệu ứng nhà kính và làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên. Con người có quyền phát thải khí nhà kính nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của bản thân với quy mô nhỏ; nhưng đến mức nào đó, thì việc kiểm soát và quản lý phát thải khí nhà kính từ các hoạt động của con người là điều cần thiết. Việc quản lý phát thải khí nhà kính bao gồm xây dựng hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính; thực hiện các hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội; quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các – bon rừng, bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái; kiểm tra, thanh tra việc tuân thủ các quy định về kiểm kê và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính; hình thành và phát triển thị trường tín chỉ các – bon trong nước và tham gia thị trường tín chỉ các – bon thế giới; hợp tác quốc tế về giảm nhẹ khí nhà kính[14].

Để giảm lượng khí nhà kính phát thải vào bầu khí quyển, cần hạn chế sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên có nguồn gốc hóa thạch (tài nguyên không thể phục hồi như dầu lửa, than đá, khí đốt,…), phát triển năng lượng tái tạo (là năng lượng được khai thác từ nước, gió, ánh sáng mặt trời, địa nhiệt, sóng biển, nhiên liệu sinh học và các nguồn tài nguyên năng lượng có khả năng tái tạo khác), khuyến khích sản xuất và tiêu thụ thân thiện môi trường, thu hồi năng lượng từ chất thải, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ ứng phó với BĐKH. Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ về ứng phó với BĐKH được ưu tiên như: phát triển ngành và liên ngành khoa học về quản lý, đánh giá, giám sát và dự báo tác động của BĐKH đối với phát triển kinh tế – xã hội, môi trường, sức khỏe cộng đồng; hoạt động điều tra, nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng, phát triển và chuyển giao công nghệ hiện đại trong giảm nhẹ khí nhà kính, thích ứng với BĐKH; tăng cường sức cạnh tranh của các ngành kinh tế, sản xuất trọng điểm, phát triển nền kinh tế các – bon thấp và tăng trưởng xanh. Cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm thực hiện hoặc tham gia hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ nhằm ứng phó với BĐKH[15].

Do nguồn lực về kinh tế còn hạn chế nên nguồn lực cho hoạt động BVMT nói chung và nguồn tài chính hỗ trợ trong phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ để tìm ra những nguồn nguyên liệu sạch, công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam còn chưa tương thích. Giải quyết bài toán BĐKH phải bao gồm cả các biện pháp về chính trị, tuyên truyền giáo dục, kinh tế, khoa học công nghệ và cả pháp lý. Trên thực tế, ở Việt Nam, việc áp dụng biện pháp tuyên truyền giáo dục là phổ biến hơn các biện pháp khác. Do đó, theo chúng tôi, Nhà nước cần dành khoản chi thích hợp cho hoạt động phòng ngừa, ứng phó với BĐKH; có nhiều quy định ưu đãi về tài chính cho những chủ thể đầu tư tốt các giải pháp tiên tiến trong hoạt động phát thải.

Hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên một mặt tác động đến sự suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mặt khác gây tác động xấu đến môi trường, gia tăng BĐKH. Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng các nhu cầu của con người mà tài nguyên thiên nhiên được chia thành: tài nguyên vĩnh viễn (tài nguyên vô tận); tài nguyên có thể phục hồi (tài nguyên có khả năng tái tạo); tài nguyên không thể phục hồi (tài nguyên không có khả năng tái tạo)… Khai thác tài nguyên không thể phục hồi và sử dụng chúng trong các hoạt động sản xuất của con người làm gia tăng lượng khí nhà kính; khai thác tài nguyên rừng làm giảm hấp thụ khí nhà kính; trong khi khai thác tài nguyên vĩnh viễn đang là sự lựa chọn của các quốc gia trong tương lai. Do đó, khai thác bền vững các nguồn tài nguyên là hướng tiếp cận giảm thiểu BĐKH. Đối với tài nguyên vĩnh viễn, cần triệt để khai thác. Đối với tài nguyên có thể phục hồi, khai thác trong giới hạn sự phục hồi. Đối với tài nguyên không thể phục hồi, phải khai thác tiết kiệm.

Luật BVMT năm 2014 quy định hoạt động BVMT trong điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Theo đó, “các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học phải được điều tra, đánh giá thực trạng, khả năng tái sinh, giá trị kinh tế để làm căn cứ lập quy hoạch sử dụng hợp lý; xác định giới hạn cho phép khai thác, mức thuế tài nguyên, phí BVMT, ký quỹ phục hồi môi trường, bồi hoàn đa dạng sinh học, bồi thường thiệt hại về môi trường, các biện pháp khác để bảo vệ tài nguyên và môi trường”[16]. Luật BVMT 2014 cũng quy định về BVMT trong điều tra cơ bản, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; BVMT trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản[17]. Các quy định cụ thể được đề cập trong các văn bản pháp luật về tài nguyên thiên nhiên[18] liên qua đến các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Về nguyên tắc, khi khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các chủ thể phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Tuy nhiên, dù có hay không có giấy phép thì khi khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, các chủ thể vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về BVMT.

[1] Xem: Các Công ước quốc tế về BVMT, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 11.

[2] Xem: Các công ước quốc tế về BVMT, Tlđd, trang 31.

[3] Chương IV, bao gồm 9 điều (từ Điều 39 đến Điều 48).

[4] [4] Xem Điều 46 Luật BVMT năm 2014.

[6] Khoản 1, 3 Điều 46 Luật BVMT năm 2014.

[7] Điều 131 Luật BVMT năm 2014.

[8] Điều 145, 146 Luật BVMT năm 2014.

[10] Xem các Điều 8 đến Điều 12 Luật BVMT năm 2014.

[11] Khoản 8 Điều 15, Điều 21 Luật BVMT năm 2014.

[12] Điểm c khoản 3 Điều 10 Nghị định số 18/2023/NĐ-CP ngày 14/02/2023 của Chính phủ quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch BVMT.

[13] Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 18/2023/NĐ-CP.

[14] Điều 41 Luật BVMT năm 2014.

[15] Điều 43, 44, 45 Luật BVMT năm 2014.

[16] Khoản 1 Điều 35 Luật BVMT năm 2014.

(Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 4(308) – tháng 2/2023)

[17] Điều 38 Luật BVMT năm 2014.

[18] Như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Tài nguyên nước, Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản, Luật Đa dạng sinh học…

[19] Khoản 6 Điều 3 Luật BVMT năm 2004 ghi: “Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác”.

Xây Dựng Chính Sách, Pháp Luật Và Triển Khai Các Hành Động Ứng Phó Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam

Tóm tắt: Trước nguy cơ biến đổi khí hậu toàn cầu và Việt Nam là một trong những nước phải chịu ảnh hưởng lớn, Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc ứng phó. Điều 63 Hiến pháp 2013 xác định trách nhiệm của Nhà nước chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu còn được thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch phát triển một số ngành, lĩnh vực thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược. Mặc dù vậy, chúng ta vẫn cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về ứng phó biến đổi khí hậu. Các chính sách, pháp luật này có thể thiết kế theo cách vừa có văn bản pháp luật khung, vừa có các quy định chuyên ngành về biến đổi khí hậu, đồng thời, quan trọng hơn là triển khai những hành động thực tế để thực hiện chính sách, pháp luật.

Từ khóa: Ứng phó biến đổi khí hậu, chính sách, pháp luật về ứng phó biến đổi khí hậu.

Abstract: In the face of the threat of the global climate change, to which Vietnam is one of the countries most affected, Vietnam’s government is very interested in adaptation solutions. The Article 63 of the Constitution of 2013 defines the responsibility of the Government in proactively preventing and combating natural disasters and adapting to the climate changes. The government adaptation to the climate change are also reflected in the socio-economic development strategies, master plans and plans and in master plans of developments of a number of sectors, areas subject to the elaboration of environmental assessment reports. However, it still needs to be continued to improve the climate change policy and legal regulations. These policies and laws can be designed in a way that is both framework legislation and specialized legislation on the climate change, and, more importantly, the implementation of actions plans of the current policy, laws.

Keywords: Climate change adaptation, policy and legislation on climate change adaptation

Thực Trạng Biến Đối Khí Hậu Và Giải Pháp Chống Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam

Theo Thông báo 278/TB-VPCP năm 2023 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại phiên họp lần thứ VIII của Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu thì:

Thực trạng Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là vấn đề toàn cầu, có tác động mạnh mẽ đến phát triển và an ninh trên toàn thế giới. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Trong thời gian qua, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan do tác động của BĐKH đã không ngừng gia tăng cả về tần suất và phạm vi ảnh hưởng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việt Nam vừa phải ứng phó với thiên tai và BĐKH, vừa phải thực hiện các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Những hoạt động phát triển kinh tế nhằm thu lại lợi ích trước mắt, thiếu suy xét đến hậu quả lâu dài đã tạo ra những tác động kép đến nhiều vùng, địa phương trên cả nước: hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, sạt lở đất, ô nhiễm môi trường, thiếu nước sinh hoạt. Những tác động tiêu cực này sẽ còn trầm trọng hơn nếu không quyết tâm thay đổi, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cách nghĩ, cách làm trong thời gian tới.

Thời gian qua, Ủy ban quốc gia về BĐKH đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai có trọng tâm, trọng điểm và điều phối xử lý nhiều vấn đề liên ngành, liên vùng trong công tác ứng phó với BĐKH. Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH đã được xây dựng và phê duyệt thể hiện sự chủ động, tích cực của Việt Nam thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế. Vai trò, vị trí của Việt Nam về ứng phó với BĐKH trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.

Tuy nhiên, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam còn nhiều tồn tại, hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH chưa đồng bộ, chưa được rà soát, điều chỉnh kịp thời phù hợp với tình hình mới trong nước và quốc tế. Tỷ lệ hoàn thành thực hiện các cam kết với các đối tác phát triển về xây dựng chính sách thuộc Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH (SP-RCC) vẫn còn thấp. Chưa đánh giá đầy đủ thực trạng mọi hoạt động về BĐKH trên cả nước, chưa quan tâm đánh giá các tác động phi BĐKH như sạt lở đất, sụt lún … một cách đúng mức; cơ sở dữ liệu quốc gia về BĐKH còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu. Năng lượng sạch, năng lượng tái tạo vẫn chưa được quan tâm phát triển và sử dụng.

Công tác ứng phó với BĐKH nhìn chung còn bị động, rời rạc, mang tính đơn lẻ và ngắn hạn, chưa huy động được toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân cùng tham gia. Việc lồng ghép BĐKH vào trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch còn lúng túng, chưa đi vào thực chất. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong công tác ứng phó với BĐKH chưa chặt chẽ, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp, làm giảm hiệu quả đầu tư; thiếu các cơ chế, quy định cụ thể về chế độ báo cáo, chia sẻ thông tin thường xuyên của các bộ, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương. Nguồn lực dành cho các hoạt động ứng phó với BĐKH còn hạn chế; công tác vận động ODA chưa được thực hiện một cách căn cơ, bài bản, chưa sử dụng một cách có hiệu quả sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế. Trong thời gian tới, cần thiết phải thay đổi cách nghĩ, cách làm, phải có cơ chế, chính sách, các giải pháp mang tính đột phá, có trọng tâm, trọng điểm nhằm khuyến khích, thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, lĩnh vực tư nhân đáp ứng được yêu cầu ứng phó với BĐKH

Nhiệm ụ giải pháp phòng chống biến đổi khí hậu

– Tiếp tục nâng cao nhận thức về BĐKH cho các cấp, các ngành và người dân về BĐKH; thay đổi cách nghĩ, cách làm để tận dụng thời cơ, giảm thiểu nguy cơ và các tác động tiêu cực của BĐKH; chú trọng tuyên truyền, giáo dục, lựa chọn áp dụng kinh nghiệm truyền thống của nhân dân, của các địa phương; tổng kết, đánh giá và áp dụng các kinh nghiệm ứng phó với BĐKH của quốc tế vào thực tiễn ở Việt Nam.

– Đẩy mạnh rà soát, chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, khung khổ pháp lý về ứng phó với BĐKH. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra tình hình triển khai thực hiện chính sách, pháp luật về BĐKH, đánh giá các mục tiêu, chỉ tiêu về ứng phó với BĐKH.

– Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng thích ứng cao với BĐKH và phát thải ít các-bon; đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển năng lượng, các công nghệ và giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên trong khu vực.

– Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường huy động nguồn lực hỗ trợ hoạt động ứng phó với BĐKH tại Việt Nam; ưu tiên nguồn vốn ODA cho các công trình, dự án quan trọng.

Rubi

Biến Đổi Khí Hậu Là Gì Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÀ GÌ? BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM

BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÀ GÌ? BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM

Biến đổi khí hậu là gì? Biến đổi khí hậu là những biến đổi xảy ra trong môi trường vật lý hoặc sinh học. Tình trạng này gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, hoạt động kinh tế, sức khỏe và đời sống xã hội của con người.

Nguyên nhân khách quan bao gồm: Những biến đổi tự nhiên từ sự thay đổi quỹ đạo trái đất, hoạt động của mặt trời, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển.

Thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu khiến thời tiết cũng biến chuyển theo hướng cực đoan và ngày càng khắc nghiệt. Dự báo của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu IPCC chỉ ra rằng: Thế giới sẽ còn phải đón nhận những hiện tượng khắc nghiệt của thời tiết khốc liệt hơn nữa.

Mực nước biển tăng cao: Sự nóng lên của trái đất cũng ảnh hưởng tới nhiệt độ của nước biển. Nước biển đang dần ấm lên, thậm chí cả những vùng biển sâu nhất.

Hiện tượng băng tan ở hai cực và Greenland: Trong những năm trở lại đây, vùng biển Bắc Cực nóng lên nhanh gấp 2 lần mức nóng trung bình trên toàn cầu, diện tích của biển Bắc Cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang dần thu hẹp lại.

Nền nhiệt độ liên tục thay đổi: Mỗi năm nền nhiệt độ trung bình lại cao hơn năm trước. Trong thế kỉ 21, nhiệt độ trung bình toàn cầu tính trên mặt đất và mặt biển đã tăng khoảng 0,74oC.

Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên.

14 biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu ở việt nam Quá trình công nghiệp hóa làm gia tăng lượng khí thải vào bầu khí quyển nhanh chóng. Kéo theo đó là tình trạng biến đổi khí quyển, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, hạn hán, nước biển dâng cao… Do đó để để giảm tác động của biến đổi khí hậu hãy thực hiện những biện pháp sau: Cập nhật thông tin về biến đổi khí hậu Mỗi người cần tham khảo, tìm hiểu về các chính sách, kế hoạch ứng phó khi xảy ra biến đổi khí hậu của quốc gia, địa phương… trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhờ vậy mà có thêm cơ sở, động lực thuyết phục người khác cùng thực hiện tốt giảm thiểu sự biến đổi khí hậu,. Hạn chế sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch Nhiên liệu hóa thạch bao gồm: Than, dầu đốt, khí thiên nhiên. Những loại này khi sử dụng là nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, hiện nay chưa có biện pháp nào có thể thay thế nguồn nhiên liệu này. Vì thế để phòng ngừa biến đổi khí hậu, cách tốt nhất là hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, trước khi con người tìm ra nguồn nhiên liệu thay thế.

Xây dựng cầu thang điều chỉnh nhiệt, tăng cười hệ thống chống ồn… để tiết kiệm được nguyên liệu và giảm tối đa khí thải phát tán.

Những công trình cầu đường cần được đầu tư thỏa đáng.

Giảm tiêu thụ Giảm tiêu thụ không chỉ giúp tiết kiệm chi tiêu mà còn là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu. Bởi lẽ, việc ày giúp giảm các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên nhân bất thường. Chẳng hạn như sử dụng nhiều các loại bao bì, nhất là loại được sản xuất từ nhựa plastics sẽ gây hiệu ứng ô nhiễm trắng… Bổ sung rau, hoa quả trong chế độ ăn Ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho cơ thể. Do đó cần bổ sung các loại rau, củ quả vào trong chế độ ăn uống. Đứng trên góc độ bảo vệ môi trường thì ngành chăn nuôi thải ra bầu khí quyển nhiều loại khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất. Đây chính là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, việc bổ sung nhiều rau, hoa quả trong khẩu phần ăn sẽ khuyến khích việc gieo trồng, canh tác hữu cơ. Đó là không dùng thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học sẽ giúp bảo vệ môi trường. Ngăn chặn nạn chặt phá rừng Hiện nay, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp do nạn chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép. Việc này khiến cho lượng CO2 thải vào môi trường tăng cao, gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề về khí hậu, môi trường khác như mưa lũ, băng tan… Vì thế, biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu hiệu quả là cần ngăn chặn được nạn chặt phá rừng bừa bãi.

Tìm kiếm nguồn năng lượng mới Sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch tạo ra lượng khí thải lớn gây hiệu ứng nhà kính. Chính vì thế, để khắc phục biến đổi khí hậu thì cần phải tìm kiếm nguồn năng lượng mới thay thế. Đây là thách thức to lớn của con người. Một vài nguồn năng lượng thay thế như:

Năng lượng gió, nhiệt, năng lượng sóng, năng lượng mặt trời

Ethanol từ cây trồng

Nhiên liệu sinh học

Hydro từ quá trình thủy phân nước

Tham gia trồng cây, bảo vệ rừng Cây xanh giúp phủ xanh đồi trọc, hấp thụ khí CO2. Chúng góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn và khắc phục biến đổi khí hậu hiệu quả. Vì vậy, hãy chung tay cùng tham gia trồng cây, bảo vệ rừng. Đồng thời tuyên truyền để mọi người cùng có ý thức hơn trong việc bảo vệ và trồng cây gây rừng.

Kỹ thuật phong bế mặt trời, kỹ thuật địa chất.

Kỹ thuật phát tán hạt sulfate vào không khí làm lạnh bầu khí quyển.

Lắp đặt rất nhiều gương nhỏ để làm lệch ánh sáng mặt trời.

Bao phủ vỏ trái đất bằng những màng phản chiếu khúc xạ ánh sáng trở lại mặt trời.

Tạo ra các đại dương chứa sắt.

Các biện pháp tăng cường dưỡng chất cho cây trồng hấp thụ CO2 nhiều hơn./.

Biến Đổi Khí Hậu Là Gì? Biện Pháp Khắc Phục Biến Đổi Khí Hậu Tại Việt Nam

Biến đổi khí hậu là những biến đổi xảy ra trong môi trường vật lý hoặc sinh học. Tình trạng này gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên, hoạt động kinh tế, sức khỏe và đời sống xã hội của con người.

Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan bao gồm: Những biến đổi tự nhiên từ sự thay đổi quỹ đạo trái đất, hoạt động của mặt trời, sự thay đổi vị trí và quy mô của các châu lục, sự biến đổi của các dòng hải lưu và sự lưu chuyển trong nội bộ hệ thống khí quyển.

Thời tiết ngày càng trở nên khắc nghiệt: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu khiến thời tiết cũng biến chuyển theo hướng cực đoan và ngày càng khắc nghiệt. Dự báo của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu IPCC chỉ ra rằng: Thế giới sẽ còn phải đón nhận những hiện tượng khắc nghiệt của thời tiết khốc liệt hơn nữa.

Mực nước biển tăng cao: Sự nóng lên của trái đất cũng ảnh hưởng tới nhiệt độ của nước biển. Nước biển đang dần ấm lên, thậm chí cả những vùng biển sâu nhất.

Hiện tượng băng tan ở hai cực và Greenland: Trong những năm trở lại đây, vùng biển Bắc Cực nóng lên nhanh gấp 2 lần mức nóng trung bình trên toàn cầu, diện tích của biển Bắc Cực được bao phủ bởi băng trong mỗi mùa hè đang dần thu hẹp lại.

Nền nhiệt độ liên tục thay đổi: Mỗi năm nền nhiệt độ trung bình lại cao hơn năm trước. Trong thế kỉ 21, nhiệt độ trung bình toàn cầu tính trên mặt đất và mặt biển đã tăng khoảng 0,74oC.

Nồng độ carbon dioxide trong khí quyển đang tăng lên.

14 biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu ở việt nam

Quá trình công nghiệp hóa làm gia tăng lượng khí thải vào bầu khí quyển nhanh chóng. Kéo theo đó là tình trạng biến đổi khí quyển, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên, hạn hán, nước biển dâng cao… Do đó để để giảm tác động của biến đổi khí hậu hãy thực hiện những biện pháp sau:

Cập nhật thông tin về biến đổi khí hậu

Mỗi người cần tham khảo, tìm hiểu về các chính sách, kế hoạch ứng phó khi xảy ra biến đổi khí hậu của quốc gia, địa phương… trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhờ vậy mà có thêm cơ sở, động lực thuyết phục người khác cùng thực hiện tốt giảm thiểu sự biến đổi khí hậu,.

Hạn chế sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch

Nhiên liệu hóa thạch bao gồm: Than, dầu đốt, khí thiên nhiên. Những loại này khi sử dụng là nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính. Tuy nhiên, hiện nay chưa có biện pháp nào có thể thay thế nguồn nhiên liệu này. Vì thế để phòng ngừa biến đổi khí hậu, cách tốt nhất là hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, trước khi con người tìm ra nguồn nhiên liệu thay thế.

Nhà ở chiếm gần đến 1/3 lượng phát tán khí thải gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính trên toàn cầu. Do đó, cải tạo nâng cấp hạ xây dựng là hết sức cần thiết trong phòng ngừa biến đổi khí hậu.

Cụ thể như:

Xây dựng cầu thang điều chỉnh nhiệt, tăng cười hệ thống chống ồn… để tiết kiệm được nguyên liệu và giảm tối đa khí thải phát tán.

Những công trình cầu đường cần được đầu tư thỏa đáng.

Giảm tiêu thụ không chỉ giúp tiết kiệm chi tiêu mà còn là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu. Bởi lẽ, việc ày giúp giảm các loại khí thải gây hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu, các hiện tượng thiên nhân bất thường.

Chẳng hạn như sử dụng nhiều các loại bao bì, nhất là loại được sản xuất từ nhựa plastics sẽ gây hiệu ứng ô nhiễm trắng…

Bổ sung rau, hoa quả trong chế độ ăn

Ăn quá nhiều thịt sẽ không tốt cho cơ thể. Do đó cần bổ sung các loại rau, củ quả vào trong chế độ ăn uống. Đứng trên góc độ bảo vệ môi trường thì ngành chăn nuôi thải ra bầu khí quyển nhiều loại khí gây hiệu ứng nhà kính lớn nhất. Đây chính là nguyên nhân gây biến đổi khí hậu.

Ben cạnh đó, việc bổ sung nhiều rau, hoa quả trong khẩu phần ăn sẽ khuyến khích việc gieo trồng, canh tác hữu cơ. Đó là không dùng thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học sẽ giúp bảo vệ môi trường.

Ngăn chặn nạn chặt phá rừng

Hiện nay diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp do nạn chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép. Việc này khiến cho lượng CO2 thải vào môi trường tăng cao, gây hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Kéo theo đó là hàng loạt các vấn đề về khí hậu, môi trường khác như mưa lũ, băng tan… Vì thế, biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu hiệu quả là cần ngăn chặn được nạn chặt phá rừng bừa bãi.

Dân số tăng lên nhu cầu về lương thực thực phẩm, nhu yếu phẩm, quần áo, giày dép… tăng lên. Kéo theo sẽ tạo ra nguồn phát tán gây ra tình trạng hiệu ứng nhà kính lớn, đặc biệt là ở những nước đang pháp triển.

Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh 1 – 2 con là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu khả thi và bền vững nhất trong tương lai.

Làm việc gần nhà là biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu nghe có vẻ vô lý nhưng thực tế thì lại không như vậy. Giả sử đi làm xa lượng CO2 do phương tiện thải ra không khí là rất lớn. Do đó, có thể làm việc gần nhà không dùng xe mà có thể đi bộ hoặc xe đạp giúp bảo vệ môi trường, nâng cao sức khỏe.

Tiết kiệm điện là một trong những biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu. Các gia đình nên sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện như bóng đèn compact, pin nạp. Ban ngày thì nên sử dụng ánh sáng tự nhiên thay vì sử dụng điện.

Khi không sử dụng các thiết bị điện hãy rút hẳn phích điện. Khi đi ra ngoài hoặc không dùng thì cần tắt đèn. Bật điều hòa thì chỉ để mức 25 – 26 độ C.

Thay vì việc sử dụng các hóa chất tổng hợp khó tiêu hủy, hãy dùng những chất có nguồn gốc xuất xứ từ thực vật hoặc thay bằng các giải pháp sinh học.

Hạn chế sử dụng túi nilon khi mua sắm

Túi nilon không chỉ gây biến đổi khí hậu ngay từ việc sản xuất mà kể cả việc sử dụng. Quá trình sản xuất túi nilon cần sử dụng khí đốt, dầu mỏ, kim loại nặng, chất hóa dẻo, phẩm màu… Đây là những chất cực kì có hại đối với sức khỏe con người và môi trường.

Bên cạnh đó, túi nilon rất khó phân hủy ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người.

Tìm kiếm nguồn năng lượng mới

Sử dụng nguồn năng lượng hóa thạch tạo ra lượng khí thải lớn gây hiệu ứng nhà kính. Chính vì thế, để khắc phục biến đổi khí hậu thì cần phải tìm kiếm nguồn năng lượng mới thay thế. Đây là thách thức to lớn của con người.

Một vài nguồn năng lượng thay thế như:

Năng lượng gió, nhiệt, năng lượng sóng, năng lượng mặt trời

Ethanol từ cây trồng

Nhiên liệu sinh học

Hydro từ quá trình thủy phân nước

Tham gia trồng cây, bảo vệ rừng

Cây xanh giúp phủ xanh đồi trọc, hấp thụ khí CO2. Chúng góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn và khắc phục biến đổi khí hậu hiệu quả.

VÌ vậy, hãy chung tay cùng tham gia trồng cây, bảo vệ rừng. Đồng thời tuyên truyền để mọi người cùng có ý thức hơn trong việc bảo vệ và trồng cây gây rừng.

Để có thể hạn chế biến đổi khí hậu, các nhà khoa học đang nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm mới. Chẳng hạn như:

Kỹ thuật phong bế mặt trời, kỹ thuật địa chất.

Kỹ thuật phát tán hạt sulfate vào không khí làm lạnh bầu khí quyển.

Lắp đặt rất nhiều gương nhỏ để làm lệch ánh sáng mặt trời.

Bao phủ vỏ trái đất bằng những màng phản chiếu khúc xạ ánh sáng trở lại mặt trời.

Tạo ra các đại dương chứa sắt.

Các biện pháp tăng cường dưỡng chất cho cây trồng hấp thụ CO2 nhiều hơn.

Nguyên Nhân Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam Và Giải Pháp Ứng Phó

Biến đổi khí hậu cũng đang gây lo lắng đến sức khỏe và sinh hoạt của con người trên trái đất. Những biểu hiện cụ thể của biến đổi khí hậu như thay đổi thời thiết, nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, … đều đang đe dọa đến sinh hoạt và cả sức khỏe của người dân. Tại Việt Nam, biến đổi khí hậu cũng đang ảnh hưởng trực tiếp đến nên kinh tế, cuộc sống hàng ngày của mỗi người. Khí hậu ngày càng nóng lên khiến diện tích đất trồng bị thu hẹp, tác động không nhỏ đến con người. Để giải quyết được hiện tượng này, cần nắm rõ nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam cũng như mức độ tác động để đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất.

2 nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Theo ước tính, lượng kí CO2 trong không khí hiện nay đã chạm ngưỡng 387 ppm và vẫn đang tiếp tục tăng cao. Chính lượng khí thải này đã góp phần khiến không khí nóng lên, điều kiện khí hậu tự nhiên thay đổi theo hướng tiêu cực.

Ngoài những nguyên nhân đến từ con người thì thiên nhiên cũng biến đôi khá nhiều. Những thay đổi về nguyên lý hoạt động tự nhiên, đổi quỹ đạo trái đất, … cũng gây nên biến đổi khí hậu. Cùng với đó, quá trình kiến tạo, thay đổi phương hướng của tự nhiên cũng là một nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam không thể không nhắc tới.

Biểu hiện của hiện tượng biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu được biểu hiện khá rõ nét thông qua những thay đổi bất thường của thời tiết. Những biểu hiện rõ thường thấy nhất phải kể đến việc: nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, thiên tai tăng cao, …

Hiện tượng nóng lên toàn cầu Nước biển dâng bất thường Xuất hiện các hiện tượng thời tiết cực đoan

Các hiện tượng khí hâu cực đoạn ngày càng diễn ra phúc tạp. Lượng mưa trong các năm gần đây ngày càng trái quy luật. Đồng thời, những cơn mưa lớn xuất hiện phổ biến hơn gây nên thiệt hại về cả người và của. Nơi mưa ngập, lũ lụt, nơi hạn hán kéo dài là tình trạng thưởng xuyên xảy ra trong những năm gần đây. Rất nhiều thiên tai, lốc xoáy, bão tố, … với sức công phá lớn xuất hiện ngày càng nhiều, gây nên ảnh hưởng vô cùng lớn.

Những hậu quả của biến đổi khí hậu

Đánh mất sự đa dạng sinh học, phá hủy hệ sinh thái tự nhiên

Ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, an toàn của con người

Các hiện tượng thời tiết cực đoan, nước biển dâng gây nên rất nhiều những bất tiện trong sinh hoạt. Không chỉ vậy, thiên tai còn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nên đói nghèo, đe dọa tính mạng. Rất nhiều nhà cửa, hoa màu, lương thực đã bị cuốn bay theo những con bão.

Các nhà khoa học cũng khẳng định thiên tai là một trong những nguyên nhân khiến bùng phát và lây lan dịch bệnh. Sau những con bão, triều cường, không khí ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi để các loại vi khuẩn gây bệnh, virut truyền nhiễm sinh sôi, phát triển nhanh chóng hơn. Cùng với đó, khí hậu nóng ẩm là điều kiện phát bệnh hoàn hảo nhất.

Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam như thế nào ?

Với rất nhiều nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam, nước ta đang là một trong những quốc gia hứng chịu nhiều hậu quả từ biến đổi khí hậu. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa lại sở hữu đường bờ biển dài, những năm gần đây số cơn bão lớn Việt Nam phải gánh chịu đã gia tăng đột biến. Tình trạng nước biển dâng, xâm nhập mặn cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các vựa lúa của đồng bằng sông Cửu Long.

Biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến thiên nhiên mà còn gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và kinh tế phát triển của Việt Nam. Theo ước tính, trung bình mỗi năm có khoảng 10 cơn bão lớn nhỏ đổ bộ vào nước ta. Biến đổi khí hậu đang khiến không ít người rơi vào cảnh mất nhà, cửa, mất đất canh tác, bệnh tật, …

Một số giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Nắm rõ nguyên nhân biến đổi khí hậu ở Việt Nam sẽ giúp đưa ra những giải pháp triệt để và lâu dài để giải quyết thực trạng này. Rất nhiều hiệp ước, công ước chung đã được Việt Nam ký kết và tham gia nhằm tìm kiếm giải pháp cho vấn đề biến đổi khí hậu. Những công ước này đều hoạt động trên cơ sở bền vững, hiệu quả, tạo nên hiệu quả phòng ngừa lâu dài.

Hạn chế xả khí thải công nghiệp chưa qua xử lý ra môi trường.

Thực hiện tốt công tác phủ xanh đồi trọc, bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp

Ngăn chặn triệt để hành vi chặt phá rừng bừa bãi

Ứng dụng các công nghệ xanh trong sản xuất, hạn chế các chất thải, rác thải công nghiệp khó phân hủy.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bảo Đảm Quyền Con Người Trong Chính Sách, Pháp Luật Về Biến Đổi Khí Hậu Ở Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!