Xu Hướng 12/2022 # Bài Giảng Quản Trị Thương Mại / 2023 # Top 12 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Bài Giảng Quản Trị Thương Mại / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Bài Giảng Quản Trị Thương Mại / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Published on

1. Bài giảng Quản trị thương mại MỤC LỤC MỤC LỤC………………………………………………………………………………………………………1 CHƯƠNG 1…………………………………………………………………………………………………….6 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ …………………………………………………………….6 KINH DOANH THƯƠNG MẠI……………………………………………………………………….6 1.1. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI………..6 1.1.1. Khái niệm, điều kiện ra đời của thương mại…………………………………………….6 1.1.2. Khái niệm, phân loại kinh doanh thương mại…………………………………………..8 1.2. MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI……………………………………………………………………………………………….9 1.2.1. Mục đích của kinh doanh thương mại………………………………………………………9 1.2.2. Vai trò của kinh doanh thương mại………………………………………………………..12 1.2.3. Chức năng của kinh doanh thương mại………………………………………………….15 1.2.4. Nhiệm vụ của kinh doanh thương mại……………………………………………………18 1.3. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI……………………..23 1.3.1. Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về loại hàng hóa và dịch vụ để lựa chọn kinh doanh và xây dựng chiến lược kinh doanh…………………………………23 1.3.2. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh………………24 1.3.3. Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ mua bán, dự trữ, bảo quản, vận chuyển, xúc tiến thương mại và các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng…………………..24 1.3.4. Quản trị vốn, phí, hàng hóa và nhân sự trong hoạt động kinh doanh……….26 1.3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔN HỌC ……………………………………………………………………………………………………………………..27 1.3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu môn học……………………………………………..27 1.3.2. Nhiệm vụ của môn học…………………………………………………………………………..30 1.3.3. Phương pháp nghiên cứu môn học…………………………………………………………30 CHƯƠNG 2…………………………………………………………………………………………………..32 CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI…………………32 2.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA…………………………………………32 2.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường………………………………………………………….32 1

2. Bài giảng Quản trị thương mại 2.1.2. Vai trò của thị trường……………………………………………………………………………34 2.2. CÁC HÌNH THÁI THị TRƯỜNG ……………………………………………………………36 2.2.1 Thị trường cạnh tranh hoàn hảo…………………………………………………………….36 2.2.2. Thị trường cạnh tranh độc quyền…………………………………………………………..38 2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG……………………………………..42 2.3.1. Nội dung nghiên cứu thị trường vĩ mô……………………………………………………43 2.3.2. Phương pháp chung nghiên cứu thị trường…………………………………………….47 2.4. KHÁI NIỆM VÀ BỘ PHẬN CẤU THÀNH CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG………..50 2.4.1. Khái niệm cơ chế thị trường…………………………………………………………………..50 2.4.2. Các bộ phận cấu thành cơ chế thị trường……………………………………………….51 2.4.3. Hệ số co giãn của cầu và của cung………………………………………………………….54 CHƯƠNG 3…………………………………………………………………………………………………..56 TỔ CHỨC CÁC MỐI QUAN HỆ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI………………………56 3.1. TỔ CHỨC CÁC MỐI QUAN HỆ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI………………..56 3.1.1. Quan hệ giao dịch thương mại……………………………………………………………….56 3.1.2. Hệ thống các mối quan hệ giao dịch thương mại……………………………………..57 3.2. TỔ CHỨC CÁC MỐI QUAN HỆ KINH TẾ TRONG THƯƠNG MẠI………61 3.2.1. Lập đơn hàng……………………………………………………………………………………….61 3.2.2. Quá trình ghép mối trong thương mại……………………………………………………62 3.3. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA CÁC MỐI QUAN HỆ GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ……………………………………………………………………………………………………………………..63 3.3.1. Hợp đồng thương mại……………………………………………………………………………63 3.3.2. Ký kết, nội dung hợp đồng và các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.65 3.3.3. Các biện pháp chế tài và các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm …………..70 3.3.4. Hợp đồng vô hiệu và các xử lý hợp đồng vô hiệu…………………………………….74 3.3.5. Thời hạn khiếu nại và khởi kiện ……………………………………………………………77 CHƯƠNG 4…………………………………………………………………………………………………..79 KINH DOANH DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI……………………………………….79 4.1. KHÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ VÀ ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM DỊCH VỤ…………79 4.1.1. Khái quát về dịch vụ……………………………………………………………………………..79 4.1.2. Đặc điểm của sản phẩm dịch vụ……………………………………………………………..80 4.2. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI…………………………………80 2

3. Bài giảng Quản trị thương mại 4.3. CÁC HÌNH THỨC DỊCH VỤ TRONG THƯƠNG MẠI……………………………81 4.3.1. Dịch vụ trong lĩnh vực lưu thông bổ sung (Dịch vụ mang tính chất sản xuất) ……………………………………………………………………………………………………………………..81 4.3.2. Dịch vụ trong lĩnh vực lưu thông thuần tuý (Dịch vụ thương mại thuần túy) ……………………………………………………………………………………………………………………..83 4.3.3. Dịch vụ trong quản lý kinh doanh (Tìm hiểu thêm ở Luật Thương mại Việt Nam năm 2005)……………………………………………………………………………………………..87 CHƯƠNG 5…………………………………………………………………………………………………..89 DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG ………………………………………………….89 NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG………………………………………………………………………89 5.1. DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI…………………………………………………………..89 5.1.1. Quá trình hình thành và phát triển doanh nghiệp thương mại ở nước ta….89 5.1.2. Các loại hình doanh nghiệp thương mại…………………………………………………96 5.2. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI ……….99 5.2.1. Các chức năng của doanh nghiệp thương mại…………………………………………99 5.2.2. Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế quốc dân……..102 5.3. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI ……………………………………………………………………………………………………………………103 5.3.1. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp thương mại…………………………………..103 5.3.2. Quản trị doanh nghiệp thương mại theo chức năng……………………………….106 5.4. CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÁC DNTM………………………………….109 5.4.1. Khái niệm và vai trò của chiến lược kinh doanh……………………………………109 5.4.2. Quy định xây dựng chiến lược kinh doanh……………………………………………110 5.5. HỆ THỐNG KẾ HOẠCH KINH DOANH – KỸ THUẬT – TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI ………………………………………………………………116 5.5.1. Nội dung, cơ cấu của kế hoạch kinh doanh – kỹ thuật – tài chính……………116 5.5.2. Phương pháp lập kế hoạch kinh doanh – kỹ thuật – tài chính ở doanh nghiệp thương mại………………………………………………………………………………………………….118 5.6. KẾ HOẠCH LƯU CHUYẾN HÀNG HÓA……………………………………………..119 5.6.1. Nội dung và cơ cấu của kế hoạch lưu chuyển hàng hóa………………………….119 5.6.2. Trình tự lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch lưu chuyển hàng hóa124 CHƯƠNG 6…………………………………………………………………………………………………127 3

4. Bài giảng Quản trị thương mại ……………………………………………………………………………………………………………………127 QUẢN TRỊ VỐN, CHI PHÍ VÀ HẠCH TOÁN KINH DOANH …………………….155 CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI………………………………………………………155 7.1. QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH……………………………………………………………155 7.1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh………………………………………………………………155 7.1.2. Phân loại vốn kinh doanh…………………………………………………………………….155 7.1.3. Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại ………………………………………..157 7.1.4. Vốn cố định của doanh nghiệp thương mại ………………………………………….159 7.1.5. Vấn đề sử dụng, bảo toàn vốn trong kinh doanh thương mại ………………..161 7.2. QUẢN TRỊ CHI PHÍ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI ……………………………………………………………………………………………………………………163 7.2.1. Khái niệm chi phí kinh doanh………………………………………………………………163 7.2.2. Phân loại chi phí kinh doanh………………………………………………………………..163 7.2.4. Chi phí lưu thông………………………………………………………………………………..166 7.2.5. Những biện pháp giảm chi phí kinh doanh …………………………………………..171 7.3. HẠCH TOÁN KINH DOANH Ở DNTM…………………………………………………172 7.3.1. Sự cần thiết của hạch toán kinh doanh ở DNTM…………………………………..172 7.3.2. Ý nghĩa và vai trò của hạch toán kinh doanh………………………………………..173 7.3.3. Đặc điểm của hạch toán kinh doanh trong thương mại………………………….174 7.3.4. Các nguyên tắc của hạch toán kinh doanh…………………………………………….175 7.4. CÁC MÔ HÌNH HẠCH TOÁN KINH DOANH………………………………………180 7.4.1. Mô hình hạch toán lợi nhuận định mức………………………………………………..180 CHƯƠNG 8…………………………………………………………………………………………………183 QUẢN TRỊ THƯƠNG MẠI CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO …………………………………183 ……………………………………………………………………………………………………………………183 8.2. TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP.185 8.3. QUÁ TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH MUA SẮM CỦA DOANH NGHIỆP ……..190 8.4. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHU CẦU VẬT TƯ, THIẾT BỊ CHO DOANH NGHIỆP……………………………………………………………………………………………………..191 8.4.1. Xác định nhu cầu vật tư cho sản xuất sản phẩm……………………………………192 8.4.2. Xác định nhu cầu vật tư cho các sản phẩm dở dang………………………………196 8.4.3. Xác định nhu cầu thiết bị của doanh nghiệp………………………………………….198 4

5. Bài giảng Quản trị thương mại CHƯƠNG 9…………………………………………………………………………………………………225 ……………………………………………………………………………………………………………………225 ……………………………………………………………………………………………………………………225 9.1.1. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ………………………………….225 9.1.2. Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp…………………..227 9.2. LỰA CHỌN KÊNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP…….230 9.3. CHIẾN LƯỢC TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP…………….234 9.3.2. Qui trình xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm………………………………….235 9.4. TỔ CHỨC CÁC HÌNH THỨC DỊCH VỤ TRONG QUÁ TRÌNH TIÊU THỤ SẢN PHẨM…………………………………………………………………………………………………241 9.4.1. Sách lược tiêu thụ sản phẩm………………………………………………………………..241 9.4.2. Những hình thức dịch vụ tiêu thụ sản phẩm………………………………………….242 5

6. Bài giảng Quản trị thương mại CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1. KHÁI NIỆM VỀ THƯƠNG MẠI VÀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.1.1. Khái niệm, điều kiện ra đời của thương mại 1.1.1.1. Khái niệm thương mại Thương mại là lĩnh vực trao đổi hàng hóa, lưu thông hàng hóa thông qua mua bán bằng tiền trên thị trường. Để tồn tại và phát triển, bất cứ một cá nhân, một gia đình, một tổ chức hay một quốc gia hoặc toàn xã hội đều luôn có và phải thoả mãn các nhu cầu đa dạng, phức tạp của mình. Người ta có thể lao động để tự thoả mãn nhu cầu. Nhưng cách thức đó không cho phép thoả mãn toàn diện với chất lượng cao nhu cầu của từng thành viên và không có hiệu quả đối với từng thành viên cũng như toàn xã hội. Trong điều kiện này, để thoả mãn nhu cầu riêng của từng thành viên cũng như nhu cầu chung của toàn xã hội, người ta phải thực hiện việc trao đổi hoạt động cho nhau – trao đổi kết quả lao động với nhau. Khi đưa sản phẩm ra trao đổi trong cộng đồng xã hội, người ta có thể thực hiện quá trình trao đổi sản phẩm bằng nhiều cách thức khác nhau. – Cho không: cung cấp sản phẩm cho các bộ phận thành viên để đáp ứng nhu cầu của họ mà không đòi hỏi sự hoàn trả ngược lại dưới bất kỳ hình thức nào. Ví dụ: Viện trợ nhân đạo, trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội,… – Cung ứng cho lợi ích xã hội: Cung cấp sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của toàn xã hội. Tất cả các thành viên trong xã hội đều có nghĩa vụ và trách nhiệm đóp góp (đóng thuế) để chi trả chúng. Ví dụ: Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu về tổ chức, quản lý điều khiển xã hội, an ninh, quốc phòng và các hàng hoá công cộng khác. 6

9. Bài giảng Quản trị thương mại + Kinh doanh thương mại đa dạng hóa (hỗn hợp) – Theo hình thức bán hàng: + Kinh doanh thương mại bán buôn + Kinh doanh thương mại bán lẻ + Kinh doanh thương mại cả bán buôn và bán lẻ – Theo phạm vi kinh doanh: + Kinh doanh thương mại trong nước + Kinh doanh thương mại quốc tế + Kinh doanh thương mại cả trong nước và quốc tế – Theo quyền sở hữu của đơn vị kinh doanh thương mại: + Kinh doanh thương mại của doanh nghiệp thương mại nhà nước + Kinh doanh thương mại của công ty trách nhiệm hữu hạn + Kinh doanh thương mại của công ty cổ phần + Kinh doanh thương mại của công ty liên doanh + Kinh doanh thương mại của công ty tư nhân, hộ gia đình + Kinh doanh thương mại của hợp tác xã thương mại + Kinh doanh thương mại của công ty 100% vốn của nước ngoài 1.2. MỤC ĐÍCH, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA KINH DOANH THƯƠNG MẠI 1.2.1. Mục đích của kinh doanh thương mại Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh thương mại là một dạng của lĩnh vực đầu tư tiền, của, công sức, tài năng… để thực hiện dịch vụ lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất hoặc nhập khẩu đến nơi tiêu dùng nhằm mục đích sinh lợi. Mục đích của kinh doanh thương mại bao gồm: + Lợi nhuận: là mục tiêu trước mắt, lâu dài và thường xuyên của kinh doanh thương mại cũng như các hoạt động kinh doanh khác và nó 9

10. Bài giảng Quản trị thương mại cũng là nguồn động lực của người hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận là khoản dôi ra khi so sánh giữa doanh thu và chi phí kinh doanh. Muốn có lợi nhuận thì doanh thu bán hàng và dịch vụ phải lớn hơn chi phí kinh doanh. Muốn có doanh thu bán hàng và dịch vụ lớn thì phải có thị trường, phải chiếm được khách hàng, phải bán được nhiều và nhanh hàng hóa và dịch vụ, và phải giảm được các khoản chi phí kinh doanh có thể và không cần thiết. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, có nhiều doanh nghiệp bán hàng hóa cùng loại thì việc thu hút khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp thương mại phải kinh doanh loại hàng hóa phù hợp với nhu cầu của khách hàng, hàng hóa được đưa đến đúng nơi, đúng thời gian khách hàng có nhu cầu và có dịch vụ thuận tiện, văn minh, được khách hàng chấp nhận. Mức độ đạt được về lợi nhuận và kỳ vọng về lợi nhuận phụ thuộc vào chất lượng của loại hàng hóa, khối lượng và giá cả hàng hóa bán được, lượng cung cầu của loại hàng hóa đó trên thị trường;chi phí kinh doanh và tốc độ tăng giảm của chi phí kinh doanh, tài kinh doanh, trường vốn kinh doanh của người quản trị doanh nghiệp và điều kiện của môi trường kinh doanh. Mức độ đạt được về lợi nhuận và kỳ vọng về lợi nhuận còn phụ thuộc vào sự độc đáo của mặt hàng kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường (độc quyền hay doanh nghiệp nhỏ) và sự mạo hiểm trong các thương vụ. + Vị thế: Doanh nghiệp kinh doanh thương mại trên thị trường đều theo đuổi mục tiêu phát triển doanh nghiệp từ nhỏ lên vừa và lên lớn, từ kinh doanh ở thị trường địa phương tiến tới kinh doanh ra thị trường cả nước và quốc tế hoặc doanh nghiệp tăng được thị phần hàng hóa của mình trên thị trường. Tỷ trọng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường càng cao gắn với quy mô của doanh nghiệp và phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp xác định vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, cạnh tranh trên thị trường đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh 10

11. Bài giảng Quản trị thương mại thương mại phải thu hút được ngày càng nhiều khách hàng và khách hàng tương lai; phải không ngừng mở rộng và phát triển được thị trường tức là tăng được thị phần của mình trên thị trường. Mục đích vị thế thực chất là mục tiên phát triển kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Từ chỗ chen được vào thị trường, tiến tới chiếm lĩnh thị trường và làm chủ được thị trường; đó chính là quá trình tăng cường vị thế của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Kỳ vọng về vị thế của doanh nghiệp trong kinh doanh phụ thuộc vào nguồn lực và tăng trưởng nguồn lực của doanh nghiệp; phụ thuộc vào chiến lược và sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp; phụ thuộc vào tài năng và trình độ quản lý của người lãnh đạo doanh nghiệp và phụ thuộc vào cơ chế quản lý kinh tế – thương mại của Nhà nước trong từng giai đoạn. + An toàn: Trong thị trường cạnh tranh, môi trường kinh doanh thường có những biến động to lớn và nhanh chóng mà nhiều dự đoán lạc quan nhất cũng không tính đến. Những biến động gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh thương mại của doanh nghiệp như mâu thuẫn về chính trị dẫn đến thay đổi thể chế, chiến tranh, bạo loạn; Những thay đổi về luật pháp; Những thay đổi về áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới; những biến động về xã hội, tự nhiên… Ngay trong môi trường tác nghiệp cũng luôn có những biến động gây bất lợi và rủi ro cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như sự thay đổi mặt hàng, giá cả, chính sách của người cung ứng; sự thay đổi về thị hiếu mặt hàng của khách hàng; sự xuất hiện những đối thủ tiềm ẩn có nguồn lực và kinh nghiệm kinh doanh mạnh hơn; sự xuất hiện nhiều mặt hàng thay thế có giá cả cạnh tranh và đặc biệt sự tiến bộ nhanh của các đổi thủ hiện hữu… Tất cả những biến động gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp khi mới đầu tư vào một thì trường để kinh doanh, đang tiếp tục kinh doanh và phát triển kinh doanh phải đặt ra mục tiêu an toàn trong kinh doanh. An toàn trong kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên 11

12. Bài giảng Quản trị thương mại cứu thị trường, lựa chọn thị trường có khả năng ít xảy ra những thay đổi bất lợi cho doanh nhiệp, thị trường có khả năng và tiềm năng phát triển, cũng như có thể dự báo được những xu hướng phát triển của nó. Trong môi trường kinh doanh, có thể vừa khai thác được những yếu tố có lợi cho kinh doanh, vừa bảo đảm an toàn trong kinh doanh có thể bảo toàn vốn và phát triển được vốn kinh doanh, có hệ số rủi ro là tối thiểu. Để bảo đảm an toàn trong kinh doanh, doanh nghiệp thương mại thường phải lập quỹ dự phòng tổn thất để tự bù đắp; phải chi phí để mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm; phải đa dạng hóa kinh doanh – ” trứng không bỏ hết vào một giỏ”. Mặc dù các quyết định trong kinh doanh phải rất nhanh nhạy, đúng thời điểm cần thiết để tranh thủ được cơ hội, người quản trị kinh doanh còn phải dám chịu mạo hiểm, nhưng việc cân nhắc mặt lợi và mặt hại, cái được và cái mất, với tầm nhìn xa trông rộng, với tài năng, kinh nghiệm và bản lĩnh của người ra quyết định luôn phải quán triệt mục tiêu an toàn để tránh những thiệt hại, rủi ro lớn có thể xảy ra trong các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp. 1.2.2. Vai trò của kinh doanh thương mại Kinh doanh thương mại có tác dụng nhiều mặt đối với lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực tiêu dùng của xã hội. + Kinh doanh thương mại là khâu trung gian giữa một bên là sản xuất, phân phối, một bên là tiêu dùng. Kinh doanh thương mại cung ứng những vật tư, hàng hóa cần thiết cho sản xuất một cách đầy đủ, kịp thời. đồng bộ, đúng số lượng, chất lượng, chính xác với quy mô ngày càng mở rộng. @ Đối với lĩnh vực sản xuất vật chất: Các doanh nghiệp có thể nhận được các yếu tố đầu vào là các loại vật tư kỹ thuật một cách thuận lợi và văn minh khi các doanh nghiêp thương mại tư liệu sản xuất phát triển. @ Đối với lĩnh vực tiêu dùng: Các cá nhân có thể dễ dàng thỏa mãn nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng trên thị trường một cách đầy đủ, kịp thời, 12

13. Bài giảng Quản trị thương mại thuận lợi và văn minh nhờ hàng loạt các quầy hàng, cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại cung ứng hàng hóa thuận lợi cho mọi người, mọi gia đình và nhu cầu của các tầng lớp dân cư, lứa tuổi, nghề nghiệp. + Kinh doanh thương mại có tác dụng lớn thúc đẩy việc áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ mới trong sản xuất; đồng thời, thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu tiêu dùng theo hướng văn minh, hiện đại. Sản xuất ra hàng hóa mà không được trao đổi, không được lưu thông thì sản xuất sẽ không phát triển được. Ngược lai, nếu trao đổi hàng hóa, lưu thông hàng hóa được mở rộng sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Kinh doanh thương mại là khâu nối liền giữa các quá trình sản xuất với quá trình sản xuất, giữa quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng. @ Đối với quá trình sản xuất: Thông qua việc cung ứng những loại máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, phụ tùng, hóa chất mới, hiện đại. Kinh doanh thương mại thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất sử dụng các loại vật tư kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, hiện đại, công nghệ nguồn để nâng cao năng suất lao động trong sản xuất và sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng cao, tiên tiến, hiện đại; đồng thời nó cũng chỉ mua những sản phẩm có đủ tiêu chuẩn chất lượng, giá thành hạ, phù hợp với xu hướng tiêu dùng của xã hội… @ Đối với quá trình tiêu dùng: Nhờ tiếp xúc với thị trường trong và ngoài nước, kinh doanh thương mại đưa cho giới tiêu dùng những hàng hóa tốt, đa dạng, độc đáo của các địa phương, các nước có nguồn tiềm năng và trình độ phát triển cao. Các sản phẩm độc đáo, tiên tiến và hiện đại có tác dụng kích thích nhu cầu, gợi mở nhu cầu, hướng giới tiêu dùng tới những hàng hóa có chất lượng cao, thuận tiện trong sử dụng và đa dạng hóa các nhu cầu theo hướng văn minh, hiện đại. Như vậy, kinh doanh thương mại có tác dụng to lớn thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ mới trong sản xuất, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng sản phẩm, thúc đẩy tiêu dùng xã hội theo hướng văn minh hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. 13

14. Bài giảng Quản trị thương mại + Kinh doanh thương mại thực hiện dự trữ các hàng hóa tư liệu sản xuất và hàng tiên dùng trong khâu lưu thông có tác dụng to lớn trong việc bảo đảm cung ứng các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng một cách thường xuyên, liên tục và kịp thời. Dự trữ hàng hóa ở khâu lưu thông tăng lên có tác dụng to lớn giảm bớt dự trữ ở doanh nghiệp sản xuất (dự trữ sản xuất), giảm bớt dự trữ ở khâu tiêu dùng. Dự trữ hàng hóa ở khâu lưu thông được chuyển nhanh, linh hoạt, một đơn vị kinh doanh thương mại (quầy hàng, cửa hàng, siêu thị, trung tâm thương mại…) có thể bảo đảm cung ứng hàng hóa thường xuyên cho nhiều doanh nghiệp sản xuất cũng như người tiêu dùng. Vì vậy tránh được ứ đọng ở các khâu dự trữ “chết”, góp phần tăng nhanh tốc độ của tái sản xuất xã hội. + Kinh doanh thương mại có tác dụng to lớn trong việc điều hòa cung – cầu hàng hóa. Thông qua việc thu mua hàng hóa và cung ứng hàng hóa, kinh doanh thương mại làm đắt hàng ở những nơi có nguồn hàng rẻ, nhiều, phong phú và làm rẻ các hàng hóa ở những nơi hàng hóa đắt, ít, nghèo nàn. Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, kinh doanh thương mại góp phần phân bổ lại lực lượng sản xuất xã hội, góp phần sử dụng các nguồn tiềm năng và khả năng tốt hơn, khai thác được tiềm năng và thế mạnh của doanh nghiệp, các vùng của đất nước một cách có hiệu quả và hợp lý. + Kinh doanh thương mại là một lĩnh vực dịch vụ quan trọng của sản xuất và đời sống xã hội. Phát triển lĩnh vực này có tác dụng to lớn trong việc tạo ra nhiều hoạt động dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất và đời sống xã hội. Kinh doanh thương mại hàng hóa tư liệu sản xuất là khâu bảo đảm các loại máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phụ tùng… cho sản xuất, một điều kiện không thể thiếu được các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Kinh doanh thương mại còn là thị trường và điều kiện không thể thiếu 14

15. Bài giảng Quản trị thương mại được để tiêu thụ các sản phẩm được các doanh nghiệp sản xuất chế tạo ra. Đây chính là điều kiện để doanh nghiệp sản xuất mở rộng sản xuất, tạo nhiều công ăn việc làm và mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm. Kinh doanh thương mại hàng hóa tiêu dùng cũng là một khâu dịch vụ đời sống xã hội. Việc bảo đảm cung ứng ngày càng nhiều những hàng hóa tốt, hiện đại, văn minh ở những nơi thuận tiện có tác dụng lớn đối với lĩnh vực tiêu dùng. Đặc biệt việc cung ứng những hàng hóa được chuẩn bị sẵn, bán hàng ở gần nơi dân cư sống có tác dụng tiết kiệm thời gian, tiết kiệm việc đi lại, góp phần giải phóng con người ra khỏi những công việc “không tên”, trong gia đình, trong doanh nghiệp, trong cơ quan, vừa nặng nề, vừa phiền phức, vừa mất nhiều thời gian và sức lực. Phát triển các hoạt động dịch vụ thương mại như đóng gói, chuẩn bị sẵn, đưa hàng đến tận nhà… giúp cho con người có nhiều thời gian nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí… góp phần tạo nên đời sống văn minh hiện đại. + Kinh doanh thương mại phát triển ra ngoài phạm vi quốc gia, tức là phát triển hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa (thương mại quốc tế) có tác dụng to lớn, tiếp thu nguồn lực từ bên ngoài và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất ở trong nước. Xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài đòi hỏi phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành, hàng hóa phải có mẫu mã đa dạng, phong phú, đạt tiêu chuẩn quốc tế, có nguồn hàng lớn và phải giao hàng đúng hạn, cũng như phải nghiên cứu áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, hóa chất, phụ tùng… là điều kiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 1.2.3. Chức năng của kinh doanh thương mại + Chức năng lưu thông hàng hóa từ nguồn hàng đến lĩnh vực tiêu dùng. 15

16. Bài giảng Quản trị thương mại Sản xuất ra sản phẩm là khâu đầu tiên, những sản phẩm mới chỉ là sản phẩm ở trạng thái khả năng, chỉ khi nào sản phẩm được đưa vào quá trình sử dụng (trong sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân) thì sản phẩm mới thực sự trở thành sản phẩm và quá trình sản xuất mới hoàn thành. Doanh nghiệp sản xuất có thể kiêm việc lưu thông sản phẩm hàng hóa của mình nếu thấy có lợi, nhưng việc lưu thông sản phẩm hàng hóa đòi hỏi phải hoạt động trên thị trường, phải có cơ sở vật chất để kinh doanh, phải có lao động, phải tốn thời gian và chi phí. Kinh doanh thương mại xuất hiện do phân công lao động xã hội, chuyên thực hiện việc trao đổi hàng hóa, lưu thông hàng hóa nên thông thạo thị trường, thực hiện được sự vận động hợp lý hàng hóa, lưu chuyển hàng hóa nhanh và tiết kiệm được chi phí lưu thông. Nếu doanh nghiệp sản xuất đảm nhận tất cả các khâu này thì doanh nghiệp sản xuất phải mở rộng hệ thống tiêu thụ sản phẩm; doanh nghiệp sản xuất sẽ phân tán vốn đầu tư, phân tán các nguồn lực ở cả hai khâu sản xuất và lưu thông, còn nếu doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ sản phẩm qua trung gian thì doanh nghiệp sản xuất sẽ không phải đầu tư nhiều vào khâu tiêu thụ sản phẩm; có thể dành các nguồn lực để tiếp tục tăng vòng quay của sản xuất; trong khi đó doanh nghiệp thương mại có điều kiện mở rộng lưu thông, thực hiện việc đưa hàng hóa đến đúng nơi, đúng thời gian, đúng đối tượng có nhu cầu và hạ được chi phí lưu thông hàng hóa. Thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa một cách chuyên nghiệp, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại tổ chức quá trình lưu thông một cách hợp lý, nhanh chóng, đảm bỏa thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về cả giá trị sử dụng và giá cả hợp lý. Doanh nghiệp thương mại là người cung ứng hàng hóa cho khách hàng, doanh nghiệp thương mại cũng phải quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa, phải biết hàng hóa được dùng như thế nào, dùng làm gì, đối tượng nào dùng, thời gian và địa điểm mua bán. Doanh nghiệp sản xuất và người tiêu dùng cần giá trị sử dụng của hàng hóa nhưng với giá cả phải chăng. Vì vậy, doanh nghiệp thương mại phải chú ý cả giá trị sử dụng của hàng hóa và 16

17. Bài giảng Quản trị thương mại chi phí lưu thông hàng hóa để hàng hóa có giá trị hợp lý, khách hàng có thể chấp nhận được. + Chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông. Quá trình sản xuất theo nghĩa rộng gồm có bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi (lưu thông) và tiêu dùng. Kinh doanh thương mại nằm ở khâu trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối, một bên là tiêu dùng sản phẩm. Tiêu dùng có hai loại: tiêu dùng sản xuất thì sản phẩm lại trở lại quá trình sản xuất, còn tiêu dùng cá nhân thì sản phẩm sẽ thõa mãn trong quá trình tiêu dùng cá nhân và thoát ra khỏi quá trình sản xuất xã hội. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, lưu thông sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất đến lingx vực tiêu dùng, các doanh nghiệp thương mại phải thực hiện việc phân loại, chọn lọc, đóng gói, vận chuyển, dự trữ, bảo quản sản phẩm, hướng dẫn sử dụng sản phẩm , sửa chữa, lắp ráp, bảo hành sản phẩm… Đây chính là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong quá trình lưu thông. Chức năng này nhằm hoàn thiện sản phẩm ở dạng tốt nhất để sản phẩm thích hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. Với chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp thương mại cũng phải hiểu biết tính chất kỹ thuật của sản phẩm, phải hiểu lĩnh vực sản xuất (nguồn hàng) và phải hiểu được công dụng của sản phẩm và nhu cầu của lĩnh vực tiêu dùng. Như vậy, kinh doanh thương mại có chức năng lưu thông hàng hóa là một chức năng kinh tế chủ yếu, nhưng gắn rất chặt chẽ với chức năng kỹ thuật sản phẩm, tức là chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, chỉ bị quá trình lưu thông che dấu đi thôi. Một mặt khác nữa, trong quá trình thực hiện lưu thông hàng hóa, do điều kiện nguồn hàng trong nước còn ít, chưa phát triển, các doanh nghiệp thương mại còn phải thực hiện việc tổ chức sản xuất, đầu tư, khai thác tạo nguồn hàng để tạo ra các sản phẩm thay thế hàng nhập ngoại có giá cả phải chăng để chủ động trong nguồn hàng và thích hợp với nhu cầu của khách hàng. + Chức năng dự trữ hàng hóa và điều hòa cung – cầu 17

18. Bài giảng Quản trị thương mại Chức năng của kinh doanh thương mại là mua hàng hóa vòa để cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng chất lượng, số lượng, ở những nơi thuận tiện cho khách hàng. Nhờ có hàng hóa dự trữ mà doanh nghiệp thương mại có thể thỏa mãn đầy đủ, kịp thời nhu cầu về hàng hóa của khách hàng. Nhờ có hệ thống mạng lưới rộng (kho trạm, cửa hàng, quầy hàng, siêu thị, đại lý…) mà doanh nghiệp thương mại có thể bảo đảm thuận lợi cho khách hàng mua những hàng hóa cần thiết, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa không phải đi quá xa. Để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và khả năng của khách hàng, doanh nghiệp thương mại phải mua những mặt hàng có chất lượng tốt, đúng yêu cầu của khách hàng, nhưng lại phải ở nơi có nguồn hàng phong phú, nhiều, rẻ, sau khi cộng với chi phí lưu thông đưa đến thị trường bán, khách hàng vẫn có thể chấp nhận được. Điều nay, một cách tự nhiên, kinh doanh thương mại thực hiện việc điều hòa cung cầu từ nơi có mặt hàng nhiều, phong phú, rẻ đến nơi mặt hàng đó ít, khan hiếm, đắt hoặc mua hàng khi thời vụ và bán hàng quanh năm, cung – cầu hàng hóa được điều hòa. Ngày nay, trong kinh doanh thương mại, nhờ phát triển các hoạt động dịch vụ mà khách hàng còn được phục vụ kịp thời, thuận lợi và văn minh. Nhờ chuyên môn hóa ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh, nhờ sự phát triển của khoa học – công nghệ mới trong vận chuyển, dự trữ, bảo quản hàng hóa và các máy móc thiết bị mới, các doanh nghiệp thương mại có khả năng hạ chi phí kinh doanh, lưu chuyển hàng hóa nhanh, mở rộng thị trường, cũng như không ngừng cải tiến và hợp lý hoạt động kinh doanh và vận động của hàng hóa. 1.2.4. Nhiệm vụ của kinh doanh thương mại + Nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách thỏa mãn đầy đủ, kịp thời và thuận lợi các nhu cầu hàng hóa – dịch vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Kinh doanh thương mại là buôn bán hàng hóa. Doanh nghiệp thương mại về thực chất cũng là doanh nghiệp dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. “Sản phẩm” mà doanh nghiệp tạo ra cho nền kinh tế quốc dân 18

19. Bài giảng Quản trị thương mại là các sản phẩm hàng hóa đến được nơi có nhu cầu sử dụng một cách đầy đủ, kịp thời và thuận lợi cho khách hàng (doanh nghiệp sản xuất hoặc người tiêu dùng). Vì thế, ngay khi lựa chọn nguồn hàng để mua, doanh nghiệp thương mại đã phải dựa vào nhu cầu khách hàng, đồng thời doanh nghiệp phải tính toán kỹ lỗ lãi, phải giảm chi phí kinh doanh, giảm chí phí lưu thông để nâng cao hiệu quả kinh doanh. Chỉ có nâng cao hiệu quả kinh doanh thì doanh nghiệp thương mại mới có điều kiện để mở rộng và phát triển kinh doanh, để có thể đứng vững trên thị trường. Trong điều kiện cạnh tranh, để thu hút được khách hàng và khách hàng tương lai, cũng như giữ được khách hàng truyền thống, doanh nghiệp thương mại phải tạo được nguồn hàng có chất lượng tốt, ổn định, giá cả phải chăng, phải bảo đảm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời và thuận lợi nhu cầu hàng hóa cho khách hàng và phải “bán cái mà thị trường cần chứ không phải bán cái mà mình có”. Hiệu quả kinh doanh được xác định bằng chênh lệch giữa doanh thu và chi phí kinh doanh. Kinh doanh có hiệu quả khi hiệu số này phải lớn hơn không. Người ta còn lấy lợi nhuận so với các yếu tố của kinh doanh để thấy hiệu quả tương đối. Lợi nhuận so với vốn kinh doanh (vốn lưu động, vốn cố định, vốn chủ sở hữu…), lợi nhuận so với chi phí kinh doanh, lời nhuận so với lãi tiền vay ngân hàng khi phải vay mượn các nguồn lực để kinh doanh và so với các năm trước đó để đánh giá việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả kinh doanh là yêu cầu khắt khe đối với các doanh nghiệp thương mại, nhưng đó cũng là điều kiện để doanh nghiệp đứng vững trên thị trương, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. + Cung ứng những hàng hóa có chất lượng tốt, đáp ứng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, về vệ sinh và về xã hội, môi trường, phù hợp với xu thế của tiêu dùng hiện đại, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng xã hội phát triển, thúc đẩy tiến bộ khoa học – công nghệ trong sản xuất với giá cả thích hợp. 19

20. Bài giảng Quản trị thương mại Kinh doanh thương mại gắn bó với sản xuất xã hội bằng các hoạt động cung ứng các yếu tố đầu vào cho sản xuất (cung ứng vật tư kỹ thuật) và tiêu thụ các sản phẩm sản xuất ra; đồng thời cung ứng hàng tiêu dùng cho lĩnh vực tiêu dùng xã hội. Bằng cách cung ứng những máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu mới, công nghệ nguồn tiên tiến, hiện đại có năng suất cao, giá trị sử dụng mới, tiết kiệm nguồn năng lượng… sẽ thúc đẩy sản xuất phải triển, cũng như cung ứng các hàng hóa tiêu dùng có chất lượng cao, có kỹ thuật tiên tiến, hiện đại hoặc được sản xuất bằng công nghệ bảo đảm vệ sinh, an toàn theo đúng các quy định về chất lượng, vệ sinh, an toàn và than thiện với môi trường sẽ hướng người tiêu dùng tới nhu cầu văn minh, hiện đại. Nhờ nối các quá trình sản xuất và tiêu dùng trong nước với nhau, trong nước với nước ngoài, kinh doanh thương mại phải thực hiện nhiệm vụ cung ứng các hàng hóa có chất lượng sản phẩm nhằm góp phần thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ tiên tiến hiện đại tỏng sản xuất, cũng như trong tiêu dùng. Đối với nước ta, những năm tới, với việc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành thương mại bằng lực lượng vật chất của mình phải là một khâu phục vụ một cách đắc lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng tạo ra những tiền đề để bảo đảm nguồn hàng hóa ngày càng đa dạng, phong phú, tiên tiến và hiện đại để mở rộng và phát triển không ngừng thị trường và quy mô của lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế quốc dân và với nước ngoài. + Phát triển các hoạt động dịch vụ khách hàng đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và văn minh. Theo quan niệm của kinh tế học thị trường hiện đại, kinh doanh thương mại cũng là một hoạt động dịch vụ. Hoạt động dịch vụ này bao gồm việc tiêu thụ hàng hóa cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và bán hàng cho các khách hàng. 20

21. Bài giảng Quản trị thương mại Phát triển các hoạt động dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thương mại là phát triển các hoạt động dịch vụ khách hàng trong kinh doanh thương mại là phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ việc mua bán, dự trữ, bảo quản, vận chuyển, bốc dỡ, phân loại, chọn lọc, đóng gói, hướng dẫn sử dụng, vận hành, lắp đặt, bảo hành… hàng hóa cho khách hàng nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất, đầy đủ nhất, kịp thời nhất, văn minh nhất cho các khách hàng. Thực chất đây là phát triển các dịch vụ của dịch vụ trong mua bán hàng hóa hoặc từ dịch vụ mua bán hàng hóa cần phải có hàng loạt các dịch vụ bổ sung để thỏa mãn các nhu cầu và yêu cầu đa dạng về hàng hóa của khách hàng. Ví dụ: chuẩn bị hàng hóa, đóng gói sẵn (chia nhỏ hoặc ghép thành lô hàng lớn), bốc dỡ và vận chuyển đến tận địa điểm người mua hàng yêu cầu hoặc chỉ cần khách hàng gọi điện thoại đến cửa hàng, nhà hàng sẽ mang hàng đến đúng địa chỉ, đúng thời điểm mà khách hàng yêu cầu. Như vậy có rất nhiều các hình thức dịch vụ đa dạng, phong phú và tùy theo đặc điểm, tính chất, trạng thái, khối lượng và giá trị của hàng hóa mà các doanh nghiệp thương mại tiến hàng các loại hình dịch vụ khác nhau. Phát triển các hoạt động dịch vụ khách hàng phải nhằm bảo đảm đưa hàng hóa đến khách hàng một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và văn minh; phải giảm tối đa sự chờ đợi, sự mất thời gian, công sức và phương tiện ở phía khách hàng. Lẽ đương nhiên thu nhập về dịch vụ bán hàng cho khách hàng có thể tính gộp vào doanh thu bán hàng hoặc tính riêng các khoản dịch vụ mà khách hàng yêu cầu để bảo đảm thu nhập về dịch vụ có thể duy trì và phát triển ngày càng nhiều dịch vụ phục vụ khách hàng. Ngày nay, trong hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ khách hàng là lĩnh vực cạnh tranh. Doanh nghiệp thương mại có phát triển và mở rộng được thị trường hay không, có thu hút được khách hàng tiềm năng hay không, có giữ được khách hàng truyền thống hay không, một 21

22. Bài giảng Quản trị thương mại phần quan trọng phụ thuộc vào các hoạt động dịch vụ khách hàng có kịp thời, thuận tiện, linh hoạt và văn minh hay không. + Giảm chi phí kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, tuân thủ luật pháp và chính sách xã hội. Giảm chi phí kinh doanh là giảm các khoản chi phí có thể và cần thiết phải giảm như: chi phí do mua hàng giá quá cao (hơn mức bình thường); các khoản chi phí lưu thông phải giảm như hao hụt trên định mức, tiền cước phí vận chuyển loanh quanh… Muốn tăng hiệu quả kinh doanh, tăng lợi nhuận thì đi đôi với việc tăng nhanh doanh số bán hàng và dịch vụ, mở rộng thị trường, tìm được nhiều khách hàng lớn, ổn định, cần phải giảm các khoản chi phí kinh doanh không cần thiết, các khoản chi tiêu lãng phí và các khoản chi có khả năng giảm bớt. Trong mối quan hệ giữa lợi nhuận, doanh thu và chi phí, muốn tối đa hóa lợi nhuận phải tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí. Nhưng nếu ta xét mối quan hệ giữa doanh thu và chi phí thì phải có chi mới có thu, chi phải đi trước, thu đi sau, phải biết chi mới có thu. Chi phải có mục đích, phải có kế hoạch, có định mức, định chuẩn. Chi phải có sự cân nhắc, phải tiết kiệm chi, đặc biệt các khoản chi phí có tính chất phô trương, hình thức, lãng phí, vô ích và chi không tạo ra thu. Trong toàn bộ các khoản chi phí, không phải khoản nào cũng giảm mà có khoản phải tăng lên. (Ví dụ: chi phí khoán lương theo doanh thu, chi thưởng khuyến khích mua nhanh bán nhanh). Giảm bớt chi phí kinh doanh là giảm chi phí cho một đơn vị hàng hóa trong một chu chuyển. Rõ rang, giảm chi phí kinh doanh là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh mà mọi bộ phận, tổ chức, cá nhân trong doanh nghiệp thương mại đều phải thực hiện. Bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên của kinh doanh thương mại. Do vốn kinh doanh, đặc biệt là vốn lưu động, là phạm trù giá trị nên chịu ảnh hưởng lớn của tỷ lệ lạm phát, quan hệ tỷ giá với các đồng tiền chuyển đổi và tỷ lệ lãi suất tiền vay, tiền gửi các 22

24. Bài giảng Quản trị thương mại Nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu thị trường về mặt hàng doanh nghiệp sẽ kinh doanh phải trên cơ sở doanh nghiệp có đủ trình độ chuyên môn về mặt hàng và doanh nghiệp nắm được khả năng nguồn hàng đã biết và có khả năng khai thác, đặt hàng, mua hàng để đáp ứng cho nhu cầu của khách hàng tốt hơn cách đáp ứng nhu cầu hiện tại. Việc nghiên cứu thị trường và xác định nhu cầu của khách hàng về loại hàng hóa doanh nghiệp lựa chọn kinh doanh không phải chỉ làm một lần mà cả trong quá trình tồn tại, phát triển kinh doanh. Doanh nghiệp thương mại cũng cần phải xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh nếu muốn tồn tại lâu dài và phát triển nhanh. Trong môi trường cạnh tranh, việc xác định đúng chiến lược kinh doanh và thực hiện kinh doanh theo chiến lược là nội dung quan trọng để dắt dẫn doanh nghiệp thương mại đứng vững và phát triển nhanh theo hướng đích đã chọn. 1.3.2. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh doanh Các nguồn lực mà doanh nghiệp thương mại phải huy động để đưa vào hoạt động kinh doanh là: vốn hữu hình, vốn vô hình và con người với tài năng, học vấn, kinh nghiệm, nghề nghiệp được đào tạo, trình độ quản lý… được huy động vào kinh doanh. Đây là nguồn tài sản quý hiếm của doanh nghiệp. Nguồn tài sản của doanh nghiệp cũng chỉ là có hạn. Do đó, việc sử dụng nguồn lực một cách hợp lý, có kết quả và hiệu quả mới là hoạt động quyết định của kinh doanh. Việc quyết định phương hướng, kế hoạch sử dụng nguồn lực do tập thể hội đồng quản trị doanh nghiệp có trách nhiệm, song về cơ bản phải do tài năng của giám đốc và hệ thống tham mưu chức năng giúp giám đốc, cũng như sự phát huy khả năng của mọi thành viên trong doanh nghiệp. 1.3.3. Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ mua bán, dự trữ, bảo quản, vận chuyển, xúc tiến thương mại và các hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng 24

28. Bài giảng Quản trị thương mại – kinh doanh. Để tiến hành sản xuất – kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải mua các sản phẩm đầu vào; đó là các yếu tố của quá trình sản xuất như: nguyên, nhiên vật liệu, máy móc, phụ tùng và sức lao động; đồng thời bán các thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Đây chính là hoạt động thương mại của doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh (thường gọi tắt là thương mại doanh nghiệp) hoặc hậu cần vật tư kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động thương mại của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào cơ chế quản lý thương mại của nền kinh tế quốc dân và những đặc thù của công nghệ sản xuất thành phẩm ở doanh nghiệp. Nghiên cứu thương mại của doanh nghiệp sản xuất để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, chính xác nhu cầu vật tư kỹ thuật cho sản xuất, đảm bảo cho sản xuất liên tục, góp phần hạ giá thành sản phẩm được sản xuất ra và tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả cao, đảm bảo cho doanh nghiệp tái sản xuất liên tục. Ba là, Các doanh nghiệp chuyên thực hiện mua hàng để bán hàng. Đây là hoạt động kinh doanh thương mại hàng hoá. Mua để bán hay còn gọi là buôn bán. Doanh nghiệp thương mại (DNTM) vừa là người mua hàng hoá, vừa là người bán hàng hoá cho người tiêu dùng. Như vậy, DNTM là người kinh doanh chuyên nghiệp. Nhờ các DNTM, hàng hoá được lưu thông rộng khắp trong nền kinh tế quốc dân, thị trường cũng được mở rộng, hàng hoá có thể đến tay người tiêu dùng thuận lợi. Là người kinh doanh, DNTM muốn kiếm được lợi nhuận phải tìm được thị trường, phải hiểu khách hàng cần hàng hoá gì, ở đâu, lúc nào, số lượng và giá cả. Chỉ có thể thoả mãn nhu cầu và yêu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp mới thực hiện được giá trị của hàng hoá, mới bù đắp được chi phí kinh doanh và thu lợi nhuận. Bốn là, Thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là mối quan hệ trao đổi hàng hoá – dịch vụ giữa 28

29. Bài giảng Quản trị thương mại một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới. Sự phát triển các quan hệ thương mại với nước ngoài làm cho thương mại trong từng quốc gia cũng trở nên phong phú và sống động hơn. Cạnh tranh quốc tế, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của khu vực và một mắt xích của thị trường toàn cầu. Xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá đang lôi cuốn các nước trên thế giới hội nhập từng bước vào các khối kinh tế khu vực và thế giới. Môn học Quản trị thương mại nghiên cứu một các tổng hợp bốn vấn đề trên và mối quan hệ tác động qua lại giữa các vấn đề này. Do đặc thù cùa lĩnh vực lưu thông hàng hóa so với hoạt động kinh doanh nói chung trong cơ chế thị trường, môn học này cần thiết phải nghiên cứu từ những vấn đề khái quát chung về thương mại và kinh doanh thương mại đến những vấn đề quản trị chủ yếu của doanh nghiệp thương mại, quản trị chức năng thương mại của các doanh nghiệp sản xuất. Ở đây, xác định phạm vi lưu thông hàng hoá – dịch vụ trong nước là chính, song trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập, giáo trình Quản trị kinh doanh thương mại cũng đề cập trong chừng mực nhất định đến thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế là một lĩnh vực riêng nhưng vẫn có sự đan xen với thương mại trong nước. Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của môn học Quản trị thương mại là: + Nghiên cứu những biểu hiện đặc thù của các quy luật kinh tế trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá – dịch vụ, đặc biệt là tính quy luật trong hoạt động kinh doanh thương mại. + Nghiên cứu các quy định của pháp luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và quản lý hoạt động kinh doanh thương mại trong mỗi thời kỳ. + Nghiên cứu những vấn đề về quản trị trong hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Từ đó nhằm giúp người học lựa chọn phương thức, giải pháp, biện pháp để áp dụng vào lĩnh vực kinh doanh thương mại cụ thể 29

30. Bài giảng Quản trị thương mại của mình có hiệu quả. 1.3.1.2. Phạm vi nghiên cứu môn học Phạm vi nghiên cứu của môn học Quản trị thương mại bao gồm cả những vấn đề mang tính vĩ mô và vi mô về kinh doanh thương mại. Ở tầm vĩ mô, môn học tập trung nghiên cứu những vấn đề về kinh doanh thương mại trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ở tầm vi mô, nghiên cứu toàn bộ các vấn đề cơ bản, có hệ thống đặt ra trong hoạt động kinh doanh thương mại của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, chỉ nghiên cứu xem xét những vấn đề lớn, có tầm quan trọng nhất, đặc thù nhất trong hoạt động kinh doanh thương mại. Những vấn đề khác, tuy rất quan trọng và cũng không thể thiếu được, nhưng đã có các môn học khác trình bày, môn học này sẽ không đề cập để tránh trùng lắp. Ví dụ: Quản trị chất lượng, Quản trị nhân sự, Quản trị Marketing,… 1.3.2. Nhiệm vụ của môn học Quản trị kinh doanh thương mại là một trong những môn học chủ yếu của chương trình đào tạo cử nhân thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh. Môn học này có nhiệm vụ: + Trang bị những kiến thức cơ bản, có hệ thống về quản trị kinh doanh thương mại trong nền kinh tế quốc dân và những vấn đề cơ bản về quản trị doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế trị trường, nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế mở theo xu hướng hội nhập với khu vực và quốc tế có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. + Nghiên cứu những thành tựu và những kinh nghiệm tiên tiến trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và quản trị kinh doanh trong và ngoài nước, tạo năng lực để giúp người học biết và lựa chọn những hình thức, phương pháp, biện pháp thích hợp phù hợp với điều kiện cụ thể của mình trong hoạt động kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay. 1.3.3. Phương pháp nghiên cứu môn học 30

31. Bài giảng Quản trị thương mại Quản trị kinh doanh thương mại là một môn khoa học kinh tế thuộc chuyên ngành quản trị kinh doanh. Nó thuộc nhóm môn học mang tính tổng hợp cả kinh tế vĩ mô và vi mô. Phương pháp nghiên cứu môn học này là: a) Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Môn học quản trị kinh doanh thương mại cũng như các môn khoa học kinh tế và quản trị khác đều dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin và kinh tế chính trị học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi nghiên cứu môn học này phải dựa trên phương pháp luận duy vật và nhìn nhận thực tế bằng phương pháp biện chứng, tránh duy tâm; nghiên cứu phải đặt trong điều kiện lịch sử cụ thể, có quá trình phát sinh, tồn tại, phát triển và trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, chi phối lẫn nhau. b) Phương pháp học lý luận kết hợp với nghiên cứu thực tế Học lý luận gắn liền với thực hành. Lý luận mang tính hệ thống, khái quát và logic. Khi học môn học này cần phải liên hệ thực tế thông qua các tài liệu, sách báo… viết về quản trị kinh doanh thương mại; các chính sách của Nhà nước trong thực tế kinh doanh thương mại. Thực tế phong phú, đa dạng, phức tạp và có tính cụ thể (thời gian, địa điểm) cũng như điều kiện vật chất. Vì vậy, cần phân tích thực tế để nhận thấy sự sâu sắc, khái quát của lý luận và củng cố lý luận đã được trang bị. 31

32. Bài giảng Quản trị thương mại CHƯƠNG 2 CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 2.1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA 2.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường Thị trường là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn bó chặt chẽ với khái niệm phân công lao động xã hội. Ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường. Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, khái niệm thị trường có nhiều biến đổi và ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn. Ban đầu thị trường quan niệm đơn giản là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá của các chủ thể kinh tế. Thị trường có tính không gian, thời gian, có mặt cả người mua, người bán và đối tượng được đem trao đổi. Thị trường được xem như các chợ của làng, của một địa phương. Khi sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, các mặt hàng trở nên phong phú, đa dạng với nhiều hình thức trao đổi phức tạp hơn thì cách hiểu thị trường như cũ không phản ánh đầy đủ bản chất của thị trường, đòi hỏi phải có quan niệm phù hợp hơn. Philip Kotler, trong các tác phẩm về Marketing của mình, quan niệm: “Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn đó”. Ở đây, Philip Kotler phân chia người bán hàng thành ngành sản xuất còn người mua thì họp thành thị trường. Theo định nghĩa hiện đại, “Thị trường là vĩnh vực trao đổi mà ở đó người mua và người bán cạnh tranh với nhau để xác định giá cả, số lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm của từng loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể.”… Như vậy, thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch vụ. Thị trường được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau. Việc phân loại thị trường có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Phân loại thị 32

35. Bài giảng Quản trị thương mại + Thị trường phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cung tự cấp để tạo thành thể thống nhất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhờ vào hoạt động trao đổi mua bán giữa các vùng, thị trường góp phần chuyển đổi kiểu tổ chức khép kín thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá liên kết với nhau, chuyển nền kinh tế tự nhiên thành nền kinh tế hàng hoá. + Bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hoá cho người tiêu dùng phù hợp với thị hiếu (sở thích) và sự tự do lựa chọn một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi với dịch vụ văn minh. + Thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đưa đến cho người tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân những sản phẩm mới. Nó kích thích sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới các hàng hoá chất lượng cao, văn minh và hiện đại. + Dự trữ các hàng hoá phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội, giảm bớt dự trữ ở các khâu tiêu dùng, bảo đảm việc điều hoà cung cầu. + Phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, văn minh. Giải phóng con người khỏi các công việc không tên trong gia đình, vừa nặng nề vừa mất nhiều thời gian. Con người được nhiều thời gian tự do hơn. + Thị trường còn là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm, chứng minh tính đúng đắn của các chủ trương, chính sách, biện pháp kinh tế của các cơ quan Nhà nước, của các tổ chức sản xuất kinh doanh. Thị trường còn phản ánh các quan hệ xã hội, hành vi giao tiếp của con người trong xã hội. * Đối với doanh nghiệp + Thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh doanh, vừa là mục tiêu vừa là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều phải hướng vào thị trường. + Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ vào kết quả điều tra, thu nhập thông tin thị trường để quyết định kinh doanh mặt hàng gì? cho ai? Bằng phương thức kinh doanh nào? 35

37. P = MC Bài giảng Quản trị thương mại Đường cầu mà mỗi công ty tham gia thị trường cạnh tranh hoàn hảo có đuợc với sản phẩm của mình được minh hoạ bên dưới: * Điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn + Điều kiện chung cho các loại hình doanh nghiệp: MR = MC + Hãng cạnh tranh hoàn hảo: Đường MR chính là đường cầu và chính là giá thị trường: P = MR  Kết kợp 2 điều kiện trên suy ra điều kiện để tối đa hoá lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo trong ngắn hạn: 37 D=MR Hình 2.1: Đường cầu thị trường và đường cầu cá nhân của công ty tham gia thị trường cạnh tranh hoàn hảo Hình 2.2: Minh họa điều kiện tối đa hoá lợi nhuận của hãng cạnh tranh hoàn hảo Q2 P Q P* MC 0 Q*Q1 D = MR E

40. Bài giảng Quản trị thương mại mức chi phí vượt quá mức ATC thấp nhất, họ ít hiệu quả hơn các công ty cạnh tranh hoàn hảo. Một thị trường độc quyền được đặc trưng bởi: + Một người bán duy nhất loại hàng hoá trên thị trường. + Sản phẩm của hãng độc quyền là độc nhất, hầu như không có hàng hoá thay thế gần giống. + Có những rào cản hiệu quả ngăn cản việc gia nhập thị trường. + Người bán toàn quyền định giá cả trên thị trường. + Đường cầu của hãng độc quyền là đường dốc xuống về phía phải, có độ dốc âm và tuân theo luật cầu. * Nguyên nhân dẫn đến độc quyền bao gồm: + Đạt được tính kinh tế của quy mô (còn gọi là độc quyền tự nhiên). + Có bằng phát minh sáng chế (bản quyền). + Kiểm soát các yếu tố đầu vào. + Do quy định của Chính phủ. Đường cầu của một công ty độc quyền là đường cầu thị trường (do công ty là công ty duy nhất trên thị trường). Do đường cầu thị trường là 40 Hình 2.5: So sánh mức giá và sản lượng của công ty cạnh tranh hoàn hảo so với mức giá và sản lượng của công ty cạnh tranh độc quyền

41. Bài giảng Quản trị thương mại đường cong có độ dốc xuống dưới, doanh thu cận biên sẽ ít hơn giá của hàng hoá. So sánh đường cầu của hãng cạnh tranh hoàn hảo và hãng độc quyền có thể thấy sự khác biệt về độ dốc của đường cầu và đường MR của công ty: 41 Hình 2.6.1: Đường cầu công ty cạnh tranh hoàn hảo Hình 2.6.2: Đường cầu công ty độc quyền Hình 2.6.3: Thặng dư trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo Hình 2.6.4: Thặng dư trong thị trường độc quyền

42. Bài giảng Quản trị thương mại Các công ty hoạt động trong các thị trường không phải thị trường cạnh tranh hoàn hảo có thể tăng mức lợi nhuận bằng việc phân biệt giá cả (price discrimination), một thực tế trong đó mức giá cao hơn được tính với những khách hàng có cầu không co giãn nhất với sản phẩm. Khi các quốc gia thực hiện sự phân biệt giá cả bằng việc tính mức giá khác nhau cho các quốc gia khác nhau, họ thường bị buộc tội là bán phá giá (dumping) tại các quốc gia có mức giá thấp. Lợi dụng bán phá giá (Predatory dumping) xảy ra khi một quốc gia ban đầu tính một mức giá thấp nhằm triệt bỏ những người cạnh tranh trong nước bạn và sau đó tăng giá khi ngành kinh doanh trong nước bạn bị thiệt hại. Trong khi người ta thường khẳng định về việc lợi dụng bán phá giá, bằng chứng cho điều này là tương đối không thuyết phục. Sản xuất độc quyền bên cạnh những ưu điểm nhất định như tập trung được vốn để đầu tư, phát triển sản xuất, phát triển khoa học kỹ thuật và cải tiến công nghệ; đồng thời cũng mang lại nhiều bất lợi cho người tiêu dùng và xã hội. Nhà độc quyền ít có động cơ sản xuất hàng hoá với mức chi phí thấp nhất do họ không bị đe doạ bởi áp lực cạnh tranh. Ngoài ra, khi các công ty mở rộng các nguồn tài nguyên để dành độc sự độc quyền bằng cách thuê luật sư, người vận động hành lang… với nỗ lực nhằm nhận được quyền độc quyền do chính phủ cấp cho. Những hoạt động tìm kiếm địa tô này không mang lại lợi ích cho xã hội nói chung và làm lãng phí các nguồn tài nguyên khỏi hoạt động sản xuất. 2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG Theo Hiệp hội Markeitng Hoa Kỳ (gọi tắt là AMA): “Nghiên cứu thị trường là chức năng để liên hệ giữa người tiêu dùng với các nhà marketing thông qua các thông tin nhằm phát hiện các cơ hội và các vấn đề của thị trường, tổng hợp sàng lọc và đánh giá tính hiệu quả của hoạt động marketing của tổ chức.” Nói cách khác: Nghiên cứu thị trường là quá trình thiết kế, tổng hợp, phân tích và báo cáo các thông tin thị trường nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể của tổ chức. 42

Bài Giảng Quản Trị Chất Lượng / 2023

Published on

Môn học Quản Trị Chất Lượng Giảng viên: Nguyễn Hữu Thủy – Đại Học Kinh Tế Huế

2. b). Các biện pháp và các công cụ quan trọng nhằm quản trị và nâng cao chất lượng. c). Các hệ thống quản lý chất lượng : TQM, ISO 9000, ISO 14000, HACCP, GMP. II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN VỀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG Trong giai đoạn sản xuất chưa phát triển, lượng sản phẩm sản xuất chưa nhiều, thường trong phạm vi một gia đình. Người mua và người bán thường biết rõ nhau nên việc người bán làm ra sản phẩm có chất lượng để bán cho khách hàng gần như là việc đương nhiên vì nếu không họ sẽ không bán được hàng. Điều nầy cũng có nghĩa là nhu cầu của khách hàng luôn được thỏa mãn một cách tốt nhất. Công nghiệp phát triển, các vấn đề kỹ thuật và tổ chức ngày càng phức tạp đòi hỏi sự ra đời một số người chuyên trách về hoạch định và quản trị chất lượng sản phẩm . Sự xuất hiện các công ty lớn làm nảy sinh các loại nhân viên mới như: -Các chuyên viên kỹ thuật giải quyết các trục trặc về kỹ thuật -Các chuyên viên chất lượng phụ trách việc tìm ra các nguyên nhân hạ thấp chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn hóa, dự báo phế phẩm và phân tích nguyên nhân hàng hóa bị trả lại. Họ sử dụng thống kê trong kiểm tra chất lượng sản phẩm . Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm trong giai đoạn nầy thường được thực hiện chủ yếu trong khâu sản xuất và tập trung vào thành phẩm nhằm loại bỏ những sản phẩm không đạt yêu cầu về chất lượng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không thể nào kiểm tra được hết một cách chính xác các sản phẩm. Rất nhiều trường hợp người ta loại bỏ nhầm các sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng, mặt khác, cũng rất nhiều trường hợp, người ta không phát hiện ra các sản phẩm kém chất lượng và đưa nó ra tiêu thụ ngoài thị trường. Thực tế nầy khiến cho các nhà quản trị chất lượng phải mở rộng việc kiểm tra chất lượng ra toàn bộ quá trinh sản xuất – kiểm soát chất lượng. Phương châm chiến lược ở đây là phải tìm ra các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng , giải quyết tốt các điều kiện cho sản xuất từ gốc mới có kết quả cuối cùng là chất lượng sản phẩm. Người ta phải kiểm soát được các yếu tố : – Con người (Men) – Phương pháp sản xuất, qui trình kỹ thuật (Methods) – Nguyên vật liệu (Materials) – Thiết bị sản xuất (Machines) 2

4. thống quản lý của doanh nghiệp để làm tăng uy tín về chất lượng của sản phẩm. Kiểm tra chất lượng trong quản trị chất lượng toàn diện còn mở rộng ra ở nhà cung ứng nguyên vật liệu nhập vào và ở nhà phân phối đối với sản phẩm bán ra. III. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG VIỆC QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG Đúc kết kinh nghiệm sau nhiều năm áp dụng các chiến lược quản trị chất lượng khác nhau, người ta rút ra các bài học sau : 1-Quan niệm về chất lượng Quan niệm thế nào là một sản phẩm có chất lượng ? Quan niệm thế nào là một công việc có chất lượng ? Sự chính xác về tư duy là hoàn toàn cần thiết trong mọi công việc, các quan niệm về chất lượng nên được hiểu một cách chính xác, trình bày rõ ràng để tránh những lầm lẫn đáng tiếc có thể xảy ra. 2-Chất lượng có thể đo được không ? Đo bằng cách nào? Thông thường người ta hay phạm sai lầm là cho rằng chất lượng không thể đo dược, không thể nắm bắt được một cách rõ ràng. Điều nầy khiến cho nhiều người cảm thấy bất lực trước các vấn đề về chất lượng. Trong thực tế, chất lượng có thể đo, lượng hóa bằng tiền : đó là toàn bộ các chi phí nảy sinh do sử dụng không hợp lý các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn. Chất lượng còn tính đến cả các chi phí đầu tư để đạt mục tiêu chất lượng của doanh nghiệp nữa. 3-Làm chất lượng có tốn kém nhiều không ? Nhiều người cho rằng muốn nâng cao chất lượng sản phẩm phải đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, đổi mới trang thiết bị..Điều nầy cần thiết nhưng chưa thực sự hoàn toàn đúng trong hoàn cảnh nước ta hiện nay. Chất lượng sản phẩm, bên cạnh việc gắn liền với thiết bị, máy móc, còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp thực hiện dịch vụ, cách tổ chức sản xuất, cách làm marketing, cách hướng dẫn tiêu dùng.v.v. Đầu tư cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ tốn thêm chi phí, nhưng sẽ được thu hồi nhanh chóng. Đầìu tư quan trọng nhất cho chất lượng chính là đầu tư cho giáo dục, vì – như nhiều nhà khoa học quan niệm – chất lượng bắt đầu bằng giáo dục và cũng kết thúc chính bằng giáo dục. 4-Ai chịu trách nhiệm về chất lượng? Người ta thường cho rằng chính công nhân gắn liền với sản xuất là người chịu trách nhiệm về chất lượng. Thực ra, công nhân và những người chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm chỉ chịu trách nhiệm về chất lượng trong khâu 4

5. sản xuất . Họ chỉ có quyền loại bỏ những sản phẩm có khuyết tật nhưng hoàn toàn bất lực trước những sai sót về thiết kế, thẩm định, nghiên cứu thị trường. Trách nhiệm về chất lượng, quan niệm một cách đúng đắn nhất, phải thuộc về tất cả mọi người trong doanh nghiệp, trong đó lãnh đạo chịu trách nhiệm trước tiên và lớn nhất. Các nhà kinh tế Pháp quan niệm rằng lãnh đạo phải chịu trách nhiệm đến 50% về những tổn thất do chất lượng kém gây ra, 50% còn lại chia đều cho người trực tiếp thực hiện và giáo dục. Trong khi đó, các nhà kinh tế Mỹ cho rằng : – 15-20% do lỗi trực tiếp sản xuất – 80-85% do lỗi của hệ thống quản lý không hoàn hảo. CHƯƠNG 2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG I. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 1.1 Khái niệm Khi nêu câu hỏi ” Bạn quan niệm thế nào là chất lượng sản phẩm “, người ta thường nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau tùy theo đối tượng được hỏi là ai. Các câu trả lời thường thấy như : – Đó là những gì họ được thỏa mãn tương đương với số tiền họ chi trả. – Đó là những gì họ muốn được thỏa mãn nhiều hơn so với số tiền họ chi – Sản phẩm phải đạt hoặc vượt trình độ của khu vực, hay tương đương hoặc vượt trình độ thế giới. Đối với câu hỏi thế nào là một công việc có chất lượng, ta cũng nhận được những câu trả lời khác nhau như thế. Một số định nghĩa về chất lượng thường gặp : *. “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” (European Organization for Quality Control) *. “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B. Crosby) *. “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn” (ISO 8402) (thực thể trong định nghĩa trên được hiểu là sản phẩm theo nghĩa rộng). 5

6. Trên thực tế, nhu cầu có thể thay đổi theo thời gian, vì thế, cần xem xét định kỳ các yêu cầu chất lượng để có thể bảo đảm lúc nào sản phẩm của doanh nghiệp làm ra cũng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Các nhu cầu thường được chuyển thành các đặc tính với các tiêu chuẩn nhất định. Nhu cầu có thể bao gồm tính năng sử dụng, tính dễ sử dụng, tính sẵn sàng, độ tin cậy, tính thuận tiện và dễ dàng trong sửa chữa, tính an toàn, thẩm mỹ, các tác động đến môi trường. Các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản phẩm để bán lại trên thị trường cho người tiêu dùng nhằm thu được lợi nhuận, vì thế, quan niệm của người tiêu dùng về chất lượng phải được nắm bắt đầy đủ và kịp thời. Dưới quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm phải thể hiện các khía cạnh sau : + Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó. + Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí. Người tiêu dùng không chấp nhận mua một sản phẩm với bất kỳ giá nào. + Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương. Phong tục, tập quán của một cộng đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ mà thông thường người ta xem là có chất lượng. + Chất lượng sản phẩm có thể được hiểu như sau :”Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định. Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu. Sự phù hợp nầy phải được thể hiện trên cả 3 phương diện , mà ta có thể gọi tóm tắt là 3P, đó là : *. Performance hay Perfectibility : hiệu năng, khả năng hoàn thiện *. Price : giá thỏa mãn nhu cầu *. Punctuallity : đúng thời điểm 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Các yếu tố ảnh hưởng có thể chia thành hai nhóm : các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong. 1.2.1.-Nhóm các yếu tố bên ngoài : 1.2.1.1. Nhu cầu của nền kinh tế: Chất lượng sản phẩm luôn bị chi phối, ràng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của nền kinh tế . Tác độüng nầy thể hiện như sau a.- Đòi hỏi của thị trường : Thay đổi theo từng loại thị trường, các đối tượng sử dụng, sự biến đổi của thị trường. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải nhạy cảm với thị 6

7. trường để tạo nguồn sinh lực cho quá trình hình thành và phát triển các loại sản phẩm. Điều cần chú ý là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hóa nhu cầu của thị trường để có các chiến lược và sách lược đúng đắn. b.- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất : Đó là khả năng kinh tế (tài nguyên, tích lũy, đầu tư..) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và các kỹ năng cần thiết) có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mức chất lượng tối ưu hay không. Việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế. c.- Chính sách kinh tế: Hướng đầu tư, hướng phát triển các loại sản phẩm và mức thỏa mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. 1.2.1.2.Sự phát triển của khoa học-kỹ thuật : Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là sự ứng dụng các thành tựu của nó vào sản xuất. Kết quả chính của việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất là tạo ra sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả. Các hướng chủ yếu của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay là : – Sáng tạo vật liệu mới hay vật liệu thay thế. – Cải tiến hay đổi mới công nghệ. – Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới. 1.2.1.3. Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế : Chất lượng sản phẩm chịu tác động, chi phối bởi các cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội như : – Kế hoạch hóa phát triển kinh tế – Giá cả – Chính sách đầu tư – Tổ chức quản lý về chất lượng 1.2.2.-Nhóm yếu tố bên trong Trong nội bộ doanh nghiệp, các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm có thể được biểu thị bằng qui tắc 4M, đó là : – Men : con người, lực lượng lao động trong doanh nghiêp. – Methods : phương pháp quản trị, công nghệ, trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp. 7

8. – Machines : khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp – Materials : vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên vật liệu của doanh nghiệp. Trong 4 yếu tố trên, con người được xem là yếu tố quan trọng nhất. 1.3 Chi phí chất lượng (Chi phí ẩn của sản xuất – Shadow Costs of Production – SCP); chi phí cho cái không chất lượng) Để sản xuất một sản phẩm có chất lượng , chi phí để đạt được chất lượng đó phải được quản lý một cách hiệu quả. Những chi phí đó chính là thước đo sự cố gắng về chất lượng. Sự cân bằng giữa hai nhân tố chất lượng và chi phí là mục tiêu chủ yếu của một ban lãnh đạo có trách nhiệm. Theo ISO 8402, chi phi chất lượng là toàn bộ chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo chất lượng thỏa mãn cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn. Theo tính chất, mục đích của chi phí, chúng ta có thể phân chia chi phí chất lượng thành 3 nhóm : + Chi phí sai hỏng, bao gồm chi phí sai hỏng bên trong và chi phí sai hỏng bên ngoài. + Chi phí thẩm định + Chi phí phòng ngừa 1.3.1.-Chi phí sai hỏng 1.3.1.1. Chi phí sai hỏng bên trong Sai hỏng bên trong bao gồm : a. Lãng phí : Tiến hành những công việc không cần thiết, do nhầm lẫn, tổ chức kém, chọn vật liệu sai,v.v. Ở các nhà máy, xí nghiệp, sự lãng phí trong các hoạt động thường ngày thường bị bỏ qua hay ít được quan tâm đúng mức nên thường khó tránh khỏi. Tuy loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau, nhưng có 7 loại lãng phí phổ biến thường gặp : + Lãng phí do sản xuất thừa: Lãng phí do sản xuất thừa phát sinh khi hàng hóa được sản xuất vượt quá nhu cầu của thị trường khiến cho lượng tồn kho nhiều, nghĩa là : – Cần mặt bằng lớn để bảo quản – Có nguy cơ lỗi thời cao – Phải sửa chữa nhiều hơn nếu có vấn đề về chất lượng. – Nguyên vật liệu, sản phẩm xuống cấp. – Phát sinh thêm những công việc giấy tờ. 8

9. Sản xuất trước thời biểu mà không do khách hàng yêu cầu cũng sinh lãng phí kiểu nầy. Hậu quả là cần nhiều nguyên liệu hơn, tốn tiền trả công cho những công việc không cần thiết, tăng lượng tồn kho, tăng khối lượng công việc, tăng diện tích cần dùng và tăng thêm nhiều nguy cơ khác. + Lãng phí thời gian: Lãng phí thời gian cũng rất thường gặp trong nhà máy và nhiều nơi khác nhưng rất nhiều khi chúng ta lại xem thường chúng. Người ta thường chia làm 2 loại chậm trễ : Bình thường và bất thường. Chậm trễ bình thường : chủ yếu xuất hiện trong qui trình sản xuất và ít được nhận thấy. Ví dụ công nhân phải chờ đợi khi máy hoàn thành một chu kỳ sản xuất, trong khi thay đổi công cụ hay cơ cấu lại sản phẩm. Chậm trễ bất thường : nảy sinh đột xuất và thường dễ nhận thấy hơn loại trên. Ví dụ, đợi ai đó, đợi vì máy hỏng, nguyên vật liệu đến chậm. Các nguyên nhân của lãng phí thời gian là : – Hoạch định kém, tổ chức kém. – Không đào tạo hợp lý – Thiếu kiểm tra – Lười biếng – Thiếu kỹ luật Nếu có ý thức hơn và hiểu biết hơn về lãng phí kiểu nầy và tổ chức hành động ngay để thay đổi sẽ giúp chúng ta cải tiến được các kỹ năng giám sát và quản lý. Bằng cách sắp xếp tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng một lúc, chúng ta có thể giảm được thời gian chờ đợi. + Lãng phí khi vận chuyển: Trong thực tế, sự vận chuyển hay di chuyển mọi thứ một cách không cần thiết, xử lý lập lại các chi tiết sản phẩm…cũng là lãng phí do vận chuyển. + Lãng phí trong quá trình chế tạo: Lãng phí trong quá trình chế tạo nảy sinh từ chính phương pháp chế tạo và thường tồn tại trong quá trình hoặc trong việc thiết kế sản phẩm và nó có thể được xóa bỏ hoặc giảm thiểu bằng cách tái thiết kế sản phẩm, cải tiến qui trình. Ví dụ : – Thông qua việc cải tiến thiết kế sản phẩm, máy chữ điện tử có ít bộ phận hơn máy chữ cơ học. – Hệ thống mã vạch dùng để đẩy mạnh thông tin và máy thu ngân tự động dùng để xử lý các giao dịch tài chính. + Lãng phí kho: Hàng tồn kho quá mức sẽ làm nảy sinh các thiệt hại sau : – Tăng chi phí. – Hàng hóa bị lỗi thời 9

11. 1.3.1.2. Sai hỏng bên ngoài Sai hỏng bên ngoài bao gồm : + Sửa chữa sản phẩm đã bị trả lại hoặc còn nằm ở hiện trường + Các khiếu nại bảo hành những sản phẩm sai hỏng được thay thế khi còn bảo hành. + Khiếu nại : mọi công việc và chi phí do phải xử lý và phục vụ các khiếu nại của khách hàng. + Hàng bị trả lại : chi phí để xử lý và điều tra nghiên cứu các sản phẩm bị bác bỏ hoặc phải thu về, bao gồm cả chi phí chuyên chở. + Trách nhiệm pháp lý : kết quả của việc kiện tụng về trách nhiệm pháp lý đối với sản phẩm và các yêu sách khác, có thể bao gồm cả việc thay đổi hợp đồng. 1.3.2.-Chi phí thẩm định Những chi phí nầy gắn liền với việc đánh giá các vật liệu đã mua, các quá trình, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm…để đảm bảo là phù hợp với các đặc thù kỹ thuật. Công việc đánh giá bao gồm : + Kiểm tra và thử tính năng các vật liệu nhập về, quá trình chuẩn bị sản xuất , các sản phẩm loạt đầu, các quá trình vận hành, các sản phẩm trung gian và các sản phẩm cuối cùng, bao gồm cả việc đánh giá đặc tính sản phẩm so với các đặc thù kỹ thuật đã thỏa thuận, kể cả việc kiểm tra lại. + Thẩm tra chất lượng : kiểm nghiệm hệ thống thống chất lượng xem có vận hành như ý muốn không. + Thiết bị kiểm tra: kiểm định và bảo dưỡng các thiết bị dùng trong hoạt động kiểm tra. + Phân loại người bán : nhận định và đánh giá các cơ sở cung ứng. 1.3.3.-Chi phí phòng ngừa Những chi phí nầy gắn liền với việc thiết kế, thực hiện và duy trì hệ thống quản lý chất lượng tổng hợp. Chi phí phòng ngừa được đưa vào kế hoạch và phải gánh chịu trước khi đi vào sản xuất thực sự. Công việc phòng ngừa bao gồm : + Những yêu cầu đối với sản phẩm : xác định các yêu cầu và sắp xếp thành đặc thù cho các vật liệu nhập về, các quá trình sản xuất, các sản phẩm trung gian, các sản phẩm hoàn chỉnh. + Hoạch định chất lượng : đặt ra những kế hoạch về chất lượng, về độ tin cậy, vận hành sản xuất và giám sát, kiểm tra và các kế hoạch đặc biệt khác cần thiết để đạt tới mục tiêu chất lượng. + Bảo đảm chất lượng : thiết lập và duy trì hệ thống chất lượng từ đầu đến cuối. + Thiết bị kiểm tra : thiết kế, triển khai và mua sắm thiết bị dùng trong công tác kiểm tra. 11

13. – Nâng cao chất lượng sản phẩm còn là biện pháp hữu hiệu kết hợp các lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội , và người lao động. 1.5 Đánh giá chất lượng Chất lượng sản phẩm được hình thành từ các chỉ tiêu, các đặc trưng. Mỗi chỉ tiêu, mỗi đặc trưng có vai trò và tầm quan trọng khác nhau đối với sự hình thành chất lượng . Ta biểu thị khái niệm nầy bằng trọng số (hay quyền số), ký hiệu là v. Nếu gọi Ci : giá trị các chỉ tiêu, đặc trưng thứ i của sản phẩm (i = 1…n) Coi : giá trị các chỉ tiêu, đặc trưng thứ i của yêu cầu, của mẩu chuẩn. Chất lượng sản phẩm (Qs) sẽ là hàm số của các biến số trên : Qs = f (Ci, Coi,Vi ) Trong thực tế, khó xác định Qs, người ta đề nghị đo chất lượng bằng một chỉ tiêu gián tiếp : hệ số chất lượng . *Trường hợp một sản phẩm (hay một doanh nghiệp) * Vi : tầm quan trọng của chỉ tiêu, đặc trưng thứ i của sản phẩm (doanh nghiệp) (i=1….n) *Trường hợp có S sản phẩm (doanh nghiệp) Kaj : Hệ số chất lượng của sản phẩm (doanh nghiệp )thứ j βj : trọng số của sản phẩm (doanh nghiệp) thứ j Ngoài ra, người ta còn xác định hệ số chất lượng nhu cầu hoặc mẩu chuẩn: 13

14. Khi ta so sánh hệ số chất lượng (Ka) với hệ số chất lượng của nhu cầu (mẩu chuẩn) thì ta được mức chất lượng (MQ) Nếu đánh giá mức chất lượng bằng cách cho điểm thì giá trị của Coi thường là số điểm tối đa trong thang điểm. MQlà mức phù hợp của sản phẩm so với nhu cầu người tiêu dùng, MQ càng lớn, chất lượng sản phẩm càng cao. Mặt khác cũng có trường hợp ta cần phải đánh giá mức chất lượng của toàn thể sản phẩm trong một doanh nghiệp hay mức chất lượng của tonà công ty gồm nhiều doanh nghiệp thành viên. Khi đó mức chất lượng MQS của S sản phẩm hay S công ty là : βj : trọng số biểu thị % doanh số của sản phẩm (doanh nghiệp) thứ j so với toàn bộ sản phẩm (doanh nghiệp) Gj : doanh số của sản phẩm (doanh nghiệp) thứ j Mặt khác, cũng có thể trong sản phẩm còn chứa đựng những thuộc tính công dụng khác mà ngưòi tiêu dùng do hoàn cảnh nào đó chưa sử dụng hết, hoặc cũng có thể có những thuộc tính công dụng khác của sản phẩm quá cao so với nhu cầu hay hoàn toàn không thích hợp trong điều kiện hiện có của người tiêu dùng. Phần chưa khai thác hết hoặc phần không phù hợp của sản phẩm được biểu thị bằng % và qui đổi ra tiền, đó là chi phí ẩn trong sản xuất kinh doanh (shadow cost of production, SCP). Chi phí ẩn được tính như sau : 14

16. “Chất lượng toàn phần của sản phẩm là mối tương quan giữa lượng nhu cầu thực tế được thỏa mãn (Ltt) và tổng chi phí để sản xuất và sử dụng nó (Gnc)” Trong sản xuất kinh doanh , khi mà chất lượng sản phẩm trở thành sự sống còn của các doanh nghiệp thì QT với tư cách là đại lượng cuối cùng quyết định chất lượng sản phẩm, và mục tiêu của quản trị chất lượng là đạt tới giá trị cực đại của QT. TC và QT là sự phối hợp hài hòa giữa chất lượng , giá trị sử dụng và giá trị. Hai chỉ tiêu TC và QT về bản chất khoa học không khác nhau. Khi thiết kế sản phẩm các nhà sản xuất đều mong muốn sản phẩm của mình đạt lợi ích tối đa khi sử dụng, nghĩa là người tiêu dùng bỏ ra một đồng có thể thu được lợi ích cao hơn bao nhiêu so với sản phẩm cùng loại, và đúng như thiết kế. Nhưng trong thực tế nhiều khi không đạt được điều đó, lợi ích mà người tiêu dùng thu được nhỏ hơn dự tính trong thiết kế. Người ta dùng chỉ tiêu hệ số hiệu quả sử dụng (ký hiệu là η) để đánh giá. Hệ số hiệu quả sử dụng của sản phẩm là tỉ số giữa QT so với TC, tức là tỉ số giữa lượng nhu cầu thực tế được thỏa mãn so với lượng nhu cầu có khả năng thỏa mãn của sản phẩm: Từ giá trị của η, người ta có thể suy ra SCP của sản phẩm như sau : Bất kỳ nhà kinh doanh nào khi tham gia thị trường đều quan tâm đến vấn đề cạnh tranh giá cả là chủ yếu hay chất lượng là chủ yếu. Về đại thể, giá cả là một chỉ tiêu quan trọng trong cạnh tranh, dù cho chất lượng sản phẩm có hoàn hảo bao nhiêu đi nữa. Ngày nay, các nhà kinh doanh không những chỉ quan tâm đến giá bán, giá mua sản phẩm mà còn phải quan tâm rất lớn đến những chi phí trong quá trình sử dụng chúng. Đối với người tiêu dùng, chi phí để thỏa mãn nhu cầu (Gnc) gồm giá mua và những chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm. 16

17. Trong hình 2.2, chi phí sản xuất tỉ lệ thuận với chất lượng còn chi phí tiêu dùng tỉ lệ nghịch với chất lượng. Giao điểm của 2 đường chi phí theo quan niệm cũ là điểm tối ưu về chất lượng và chi phí trong kinh doanh. Ngược lại trong hình 2.3, chi phí sản xuất tỉ lệ nghịch với chất lượng, hay như người ta thường nói “nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm”, thực chất đây là một nghịch lý nhưng đó lại là xu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải tìm cách thực hiện cho được nghịch lý trên. Cạnh tranh trong môi trường kinh doanh ngày càng gay gắt trên qui mô toàn cầu khiến các doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh theo xu thế nâng cao chất lượng giảm giá thành sản phẩm . Suy cho cùng, cạnh tranh về giá cả cũng chính là cạnh tranh về chất lượng vậy III. CHẤT LƯỢNG KINH TẾ QUỐC DÂN CỦA SẢN PHẨM Chất lượng kinh tế của sản phẩm thể hiện thông qua cơ cấu mặt hàng và mặt hàng sản phẩm. Cơ cấu mặt hàng là số lượng các loại sản phẩm kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu mặt hàng được thể hiện trong bảng phân loại sản phẩm của nhà nước, của một ngành hay một tỉnh. Để xây dựng và dự báo cơ cấu mặt hàng cần tiến hành dự báo nhu cầu trong tương lai căn cứ vào : – Xu thế phát triển tiêu dùng của xã hội. – Sự phát triển khoa học kỹ thuật. – Đăc điểm tiêu dùng của từng vùng. 17

20. Chất lượng tối ưu là một khái niệm mang tinh tương đối, nó phụ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng cụ thể của từng nước, từng vùng, từng kênh phân phối khác nhau. Trong thực tiễn, các nhà kinh doanh phải biết vận dụng khjái niêm nầy trong sản xuất và kinh doanh để thu được lợi nhuận cao nhất thông qua việc thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng. V. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG (TÍNH HỮU DỤNG) CỦA SẢN PHẨM Khi muốn tung một sản phẩm mới vào thị trường, trước hết nhà sản xuất phải hoạch định trình độ chất lượng , dự kiến mức chất lượng , tiên đoán chất lượng kinh tế của sản phẩm. Sau đó sản xuất thử và thử nghiệm trên thương trường. Khi đã biết khá chính xác hệ số hiệu quả sử dụng của sản phẩm có khả năng cạnh tranh và nằm trong phạm vi chất lượng tối ưu, các nhà sản xuất mới tiến hành sản xuất hàng loạt sản phẩm đó. Mặt khác, khi mua một sản phẩm,người tiêu dùng bao giờ cũng quan tâm đến lợi ích hay tính hữu dụng, hay giá trị sử dụng mà họ mong muốn thu được khi sử dụng sản phẩm 5.1 Khái niệm Theo Karl Mark, công dụng của một vật làm cho vật đó trở thành một giá trị sử dụng. Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào công dụng của nó, nhưng chính công dụng ấy lại phụ thuộc vào nhu cầu xã hội. Nếu không có nhu cầu về một giá trị sử dụng thì mặc dù sản phẩm có công dụng cũng không có giá trị sử dụng. Giới hạn của giá trị sử dụng chính là nhu cầu tồn tại về nó. Ngày nay, ngưòi ta nhận thức rằng thuộc tính công dụng không phải là yếu tố duy nhất tạo nên giá trị sử dụng của sản phẩm . Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, thực chất họ muốn mua cái gì đó hơn là chính bản thân sản phẩm. Theo P.A.Samuelson : “Giá trị sử dụng là một khái niệm trừu tượng để chỉ tính thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc một sự thỏa mãn do tiêu dùng hàng hóa mà có.” Giá trị sử dụng là sự cảm nhận của một cá nhân về sự thỏa mãn nhu cầu và sự thích thú của mình thông qua việc sử dụng một sản phẩm vật chất hay một dịch vụ. Giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào : + Thuộc tính công dụng của sản phẩm, được tạo ra bởi chất thể của sản phẩm, do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm qui định. Thuộc tính công dụng được gọi là phần cứng của sản phẩm. + Thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng , là những gì mà người tiêu dùng cảm thấy có nơi sản phẩm, được tạo ra nhờ dịch vụ bán và sau khi bán. Thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng được gọi là phần mềm của sản phẩm. Nhiều khi người tiêu dùng mua sản phẩm không đơn thuần vì những đặc tính kỹ thuật và khả năng phục vụ của sản phẩm mà có thể vì nó làm cho người mua có cảm giác sang trọng phù hợp với địa vị xã hội của họ hay một cảm giác nào đó mang lại cho khách hàng sự thích thú nào đó của riêng họ. 20

21. Thực tế kinh doanh cho thấy thuộc tính được thụ cảm bởi người tiêu dùng là một bộ phận quan trọng cấu thành nên giá trị sử dụng của sản phẩm và là yếu tố phải đặc biệt chú ý khi đưa sản phẩm của mình tham gia thị trường. Giá trị sử dụng của sản phẩm còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng hàng cung so với cầu, sức mua, ý muốn sẳn sàng mua…Nếu cung nhỏ hơn cầu, phần mềm của sản phẩm tăng lên. Các nhà đầu cơ thường lợi dụng cách nầy để tăng giá sản phẩm trong thị thị trường độc quyền để thu lợi bất chính. Nếu cung lớn hơn cầu, phần mềm của sản phẩm giảm đi, đồng thời giá trị sử dụng cũng giảm theo. Tóm lại : Công dụng của sản phẩm + sự thích thú, sự thụ cảm của người tiêu dùng Giá trị sử dụng của sản phẩm Chúng ta nhận thấy rằng : các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm nói lên khả năng có thể thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm trong khi đó giá trị sử dụng của sản phẩm chính là mức cụ thể đáp ứng nhu cầu trong tiêu dùng. Qua các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm chúng ta có thể nhận biết được : -Công dụng cơ bản của sản phẩm -Các đặc điểm về kết cấu hình dáng, kích thước, điều kiện sử dụng -Các thông số kỹ thuật của sản phẩm -Các chỉ tiêu kinh tế của sản phẩm Trong khi đó, các thuộc tính của sản phẩm (cả phần cứng và phần mềm) cho chúng ta biết được : -Lĩnh vực đại thể các nhu cầu được thỏa mãn. -Lĩnh vực cụ thể và mức cụ thể các nhu cầu được thỏa mãn -Các thuộc tính của sản phẩm được thụ cảm bởi người tiêu dùng -Chi phí để thỏa mãn nhu cầu. Người tiêu dùng lúc nào cũng mong muốn đạt được lợi ích (giá trị sử dụng) tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu. Giá trị sử dụng (GS) được đánh giá bởi lượng hàng bán được, do đó ta có thể nói giá trị sử dụng là một hàm số của lượng hàng bán ra. GS = f (X1 , X2 … XS) Trong đó X1 , X2 , XS là lượng hàng tiêu thụ được của các loại sản phẩm thư 1, 2, và thứ s. 5.2 Tính biên tế (cận biên) của giá trị sử dụng Như trên chúng ta đã biết, giá trị sử dụng của sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng hàng cung so với cầu, sức mua, ý muốn sẳn sàng 21

22. chúng tôi chúng ta tăng khối lượng tiêu thụ một món hàng trong một thời điểm nào đó thì những khoái cảm và lợi ích đối với chúng ta sẽ giảm dần cho đến một giới hạn mà ở đó nếu ta tiêu thụ thêm một đơn vị nữa thì giá trị sử dụng của sản phẩm đó đối với chúng ta sẽ bằng không. Giả sử ta đang đi đường hôm trời nắng to, nóng bức, ta có 5 chai nước và mỗi chai sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng là 4 đơn vị giá trị sử dụng. Nếu 5 chai nước nầy được cung cấp cho một người tiêu dùng, ta quan sát được như sau : Uống chai thứ nhất, người tiêu dùng thu được lợi ích là 4. Chai thứ hai lợi ích người tiêu dùng thu dược sẽ nhỏ hơn quả thứ nhất vì thích thú của họ giảm đi. Tương tự khi ta uống chai thứ 3, 4, 5, lợi ích thu được sẽ càng nhỏ dần. Số quả táo Tổng lợi ích thu được Lợi ích biên tế Chai thứ 1 4 4 Chai thứ 2 7 3 Chai thứ 3 9 2 Chai thứ 4 10 1 Chai thứ 5 10 0 Bảng 2.2: Quan hệ giữa lượng sản phẩm sử dụng, tổng lợi ích và lợi ích biên tế. Giá trị sử dụng biên tế là phần tăng thêm giá trị sử dụng của một sản phẩm khi tiêu thụ vượt qua ngưỡng nhu cầu, khi lượng tiêu thụ càng vượt xa ngưỡng nhu cầu thì lợi ích biên tế của sản phẩm càng giảm xuống, đến bằng không. Một cách tổng quát, nếu ngưỡng nhu cầu về táo của một người tiêu dùng nào đó là N + 1 quả, ta có : Số chai nước tiêu thụ Tổng lợi ích thu được Lợi ích biên tế N 4N N+1 4N + 4 4 N+2 4N + 7 3 N+3 4N + 9 2 22

23. N+4 4N + 10 1 N+5 4N + 10 0 Bảng 2.3. Tổng lợi ích thu được. lợi ích biên tế và số lượng táo tiêu thụ. Khái niệm giá trị sử dụng biên tế giúp ta giải thích được tại sao bánh mì là thứ làm cho ta sống lại rẻ, trong khi kim cương chỉ là thứ trang sức bề ngoài lại đắt tiền đến thế. Nếu tình huống xảy ra cho một người đi lạc trong rừng, không thể tìm ra thức ăn thì lúc đó ta sẽ nhận ra giá trị sử dụng biên tế của bánh mì và của kim cương đối với người đó sẽ thay đổi. Ý nghĩa thực tế của khái niệm tính biên tế của giá trị sử dụng có thể là: *. Khi một doanh nghiệp đưa hàng hóa vào tiêu thụ trong một khu vực nào đó cần phải dự báo kỹ về khả năng cạnh tranh của mình so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác, đồng thời cũng phải tính toán lượng hàng hóa cần thiết trong một thời hạn nhất định. Nếu tung vào thị trường đó quá nhiều sản phẩm sẽ gây nên việc ứ đọng vốn, só sản phẩm vượt quá ngưỡng nhu cầu, sẽ xuất hiện giá trị sử dụng biên tế, làm giảm lợi ích phần mềm của sản phẩm. *. Khi trưng bày hàng hóa để thu hút sự chú ý của khách hàng cũng phải chú ý đến hiện tượng biên tế. Phải trưng bày khoa học và vừa đủ, tránh vì ý muốn khoe khoang hàng hóa mà có thể gây nên hiện tượng biên tế của giá trị sử dụng, làm giảm lợi ích phần mềm của sản phẩm và giảm sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng. 5.3 Hệ số hữu dụng tương đối của sản phẩm Trong những điều kiện xác định, người ta có thể đo mức độ thỏa mãn của sản phẩm đối với người tiêu dùng thông qua khái niệm hệ số hữu dụng tương đối của sản phẩm . Hệ số hữu dụng tương đôïi (ω ) là sự so sánh tương quan giữa giá trị sử dụng được khai thác trong thực tế (GS) và giá trị sử dụng tiềm ẩn trong sản phẩm (TG). Thông thường (TG) lớn hơn (GS) nên giá trị của (ω) biến đổi từ 0 đến 1. Giá trị của ω phụ thuộc vào 3 yếu tố sau : 5.3.1.-Hệ số tương quan (ω1) Hệ số tương quan biểu thị tương quan giữa lượng hàng mua vào (hoăc sản xuất ra) (LG) so với lượng hàng bán được (NG) 23

24. Dựa vào số liệu thống kê của các bộ phận chuyên môn, người ta có thể tính được (ω1) một cách dễ dàng. 5.3.2.-Hệ số sử dụng kỹ thuật (ω2) Hệ số sử dụng kỹ thuật (ω2) là sự tương quan giữa khả năng kỹ thuật của giá trị sử dụng được sản xuất ra (PT) so với các thông số kỹ thuật tương ứng của sản phẩm được người tiêu dùng khai thác được trong thực tế (PS). Hoặc có thể tính : 5.3.3. Hao mòn vô hình của sản phẩm Trong tình hình bùng nổ khoa học kỹ thuật hiện nay, chu kỳ đổi mới sản phẩm và công nghệ ngày càng ngắn dần và khi tính hệ số hưữ dụng tương đối của sản phẩm chúng ta cần phải tính đến tính lạc hậu của sản phẩm. Dựa vào ω ta có thể tính được chi phí ẩn (SCP) như sau : SCP = 1 – ω 24

26. 1.2.1.-Chấp nhận việc tiếp cận từ đầu với khách hàng và nắm chắc yêu cầu của họ. Phải nhận dạng một cách rõ ràng điều gì khách hàng yêu cầu và loại đảm bảo mà họ đòi hỏi. Khách hàng nhiều khi chỉ nêu yêu cầu một cách mơ hồ, hoặc chỉ thể hiện một ước muốn được thỏa mãn nhu cầu từ sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Các nhà sản xuất cùng với bộ phận Marketing của họ phải làm sao nắm bắt được một cách rõ ràng, cụ thể những đòi hỏi của khách hàng và từ đó cụ thể hóa chúng thành những đặc trưng của sản phẩm hay dịch vụ mà doanh nghiệp dự định cung cấp cho khách hàng. Ngày nay, người ta không thể nào làm theo kiểu cũ là cứ sản xuất rồi sau đó sẽ tìm cách làm cho khách hàng vừa lòng với sản phẩm hoặc dịch vụ của mình sau. 1.2.2.-Khách hàng là trên hết. Triết lý nầy phải được mọi người trong doanh nghiệp chấp nhận và cùng nhau nổ lực hết sức mình để thực hiện nó. Điều nầy có nghĩa là mọi nhân viên, bao gồm cả bộ phận bán hàng và hậu mãi, cũng như các nhà cung cấp của doanh nghiệp và các hệ thống phân phối đều có trách nhiệm đối với chất lượng. Việc đảm bảo chất lượng chỉ có thể thành công nếu mọi người cùng nhau tích cực thực hiện nó. Toàn bộ công ty, thông qua các tổ nhóm chất lượng, phải cùng nhau phối hợp công tác thật ăn ý tất cả vì mục tiêu đảm bảo chất lượng của doanh nghiệp. 1.2.3.-Cải tiến liên tục chất lượng bằng cách thực hiện vòng tròn Deming (PDCA). Yêu cầu và mong đợi của khách hàng thay đổi không ngừng và có xu thế tăng lên dần, do đó, cho dù doanh nghiệp thực hành triết lý khách hàng trên hết, có các biện pháp nghiên cứu thị trường phù hợp, tổ chức thiết kế sản phẩm có chất lượng và thực hiện đảm bảo chất lượng cũng không hoàn thiện một cách hoàn toàn. Chính vì thế, doanh nghiệp phải cải tiến chất lượng liên tục để có thể lúc nào cũng thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách đầy đủ nhất. Việc áp dụng liên tục, không ngừng vòng tròn Deming sẽ giúp doanh nghiệp cải tiến chất lượng sản phẩm liên tục theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn chất lượng sản phẩm . 1.2.4.-Nhà sản xuất và nhà phân phối có trách nhiệm đảm bảo chất lượng. Khi một doanh nghiệp đưa sản phẩm hoặc dịch vụ vào tiêu thụ trong thị trường, họ phải chịu trách nhiệm đảm bảo chất lượng của các sản phẩm của họ làm ra. 1.2.5.-Quá trình kế tiếp chính là khách hàng của quá trình trước. Trong phạm vi nhà máy, doanh nghiệp, chúng ta phải triệt để thực hiện triết lý trên, vì khi ta quan niệm và chấp nhận công đoạn kế tiếp chính là khách hàng của mình thì trách nhiệm đảm bảo chất lượng phải được thực thi một cách 26

27. nghiêm túc. Đến lượt công đoạn sau từ địa vị khách hàng trở thành nhà cung ứng cho công đoạn kế tiếp họ cũng sẽ thực hiện nguyên lý giao cho khách hàng sản phẩm có chất lượng tốt nhất và cứ thế, mọi chi tiết, mọi cơ phận của sản phẩm hoàn chỉnh sẽ không có khuyết tật và sản phẩm cuối cùng cũng sẽ là sản phẩm không có khuyết tật. Đảm bảo chất lượng bao gồm mọi việc từ lập kế hoạch sản xuất cho đến khi làm ra sản phẩm , bảo dưỡng, sữa chữa và tiêu hủy. Vì thế cần xác định rõ ràng các công việc cần làm ở mỗi giai đoạn để đảm bảo chất lượng trong suốt đời sống sản phẩm, bao gồm cả việc đảm bảo các chức năng sản phẩm được sử dụng có hiệu năng cao và cần thường xuyên kiểm tra lại những gì đã thực hiện được. 1.3 Phạm vi đảm bảo chất lượng Phạm vi đảm bảo chất lượng có thể bao gồm các công việc như sau : 1.-Thiết kế chất lượng : quyết định chất lượng cần thiết cho sản phẩm bao gồm cả việc xét duyệt thiết kế sản phẩm và loại trừ các chi tiết không cần thiết. 2.-Kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất và kiểm soát tồn kho. 3.-Tiêu chuẩn hóa 4.-Phân tích và kiểm soát các quá trình sản xuất 5.-Kiểm tra và xử lý các sản phẩm có khuyết tật 6.-Giám sát các khiếu nại và kiểm tra chất lượng. 7.-Quản lý thiết bị và lắp đặt nhằm đảm bảo các biện pháp an toàn lao động và thủ tục, phương pháp đo lường. 8.-Quản lý nguồn nhân lực : phân công, giáo dục, huấn luyện và đào tạo. 9.-Quản lý các tài nguyên bên ngoài 10.-Phát triển công nghệ : phát triển sản phẩm mới, quản lý nghiên cứu và phát triển và quản lý công nghệ. 11.- Chẩn đoán và giám sát : thanh tra các hoạt động kiểm soát chất lượng và giám sát các nguyên công kiểm soát chất lượng . Ngày nay, quan điểm về đảm bảo chất lượng đã thay đổi, người ta coi một sản phẩm được làm ra phải phù hợp với các đặc tính và phải kiểm tra cách thức chế tạo ra sản phẩm, theo dỏi chúng được dùng như thế nào đồng thời phải có dịch vụ hậu mãi thích hợp. Đảm bảo chất lượng còn được mở rộng ra đến độ tin cậy của sản phẩm vì trừ một số sản phẩm khi thiết kế đã chú ý đến việc đề ra các biện pháp tiêu hủy, nói chung sản phẩm nào cũng đòi hỏi sử dụng lâu bền. 1.4 Các xu hướng đảm bảo chất lượng (các hình thức, cách thức) Theo dòng phát triển, lịch sử đảm bảo chất lượng trãi qua các giai đoạn sau 1.4.1. Đảm bảo chất lượng dựa trên sự kiểm tra (KCS): 27

29. phòng kiểm tra kỹ thuật, phòng cung ứng, bộ phận sản xuất, bộ phận kinh doanh.v.v. đều phải tham gia vào việc quản lý chất lượng sản phẩm . Tuy nhiên việc quản trị quá trình sản xuất cũng có những hạn chế và chỉ có quản trị quá trình sản xuất thì không thể đảm bảo chất lượng được. Cách làm nầy không thể đảm bảo việc khai thác sản phẩm trong những điều kiện khác nhau, không thể tránh việc sử dụng sai sản phẩm, không xử lý kịp thời được các hỏng hóc xảy ra. Mặt khác, người ta cũng không thể giải quyết triệt để được các vấn đề phát sinh trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế sản phẩm với chỉ đơn độc bộ phận sản xuất. 1.4.3. Đảm bảo chất lượng trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, trong đó chú ý đặc biệt đảm bảo chất lượng ngay từ giai đoạn nghiên cứu triển khai sản phẩm. Áp dụng đảm bảo chất lượng trong suốt chu kỳ sống sản phẩm nghĩa là người ta phải chú ý đến mọi giai đoạn trong việc tạo ra sản phẩm , từ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất cho đến tiêu thụ, sử dụng, khai thác và thậm chí trong việc tiêu hủy sản phẩm. Ở mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm đều phải tiến hành đánh giá chặt chẽ các chỉ tiêu và áp dụng các biện pháp đảm bảo chất lượng sản phẩm. Trước khi sản xuất cần phải phân tích chất lượng, thử nghiệm độ tin cậy trong những điều kiện khác nhau. Như vậy, đảm bảo chất lượng và độ tin cậy đã có sẳn trong chính quá trình nghiên cứu triển khai và chuẩn bị sản xuất sản phẩm mới. 1.5 Các biện pháp đảm bảo chất lượng 1.5.1.-Trong quá trình thiết kế sản phẩm Một thiết kế có chất lượng, chắc chắn, phù hợp với điều kiện sản xuất sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Để đảm bảo chất lượng trong khâu thiết kế, nhà sản xuất phải đảm bảo việc thu thập đầy đủ, chính xác các yêu cầu của khách hàng. Muốn thế, bản thân quá trình thu thập thông tin về nhu cầu khách hàng phải được đảm bảo chất lượng. Các yêu cầu nầy phải được chuyển thành các đặc tính của sản phẩm để làm sao thỏa mãn được khách hàng nhiều nhất với chi phí hợp lý. 1.5.2.-Trong quá trình sản xuất Sau khi có được các thiết kế đảm bảo chất lượng, trong quá trình sản xuất phải đảm bảo việc khai thác một cách hiệu quả nhất các thiết bị, dây chuyền công nghệ đã lựa chọn để sản xuất ra các sản phẩm có những tính năng kỹ thuật phù hợp với thiết kế, đaøm bảo mức chất lượng của sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường. 1.5.3.-Trong quá trình sử dụng sản phẩm 1.5.3.1.-Thỏa mãn các khiếu nại khi cung cấp sản phẩm chất lượng thấp. Khi nhà sản xuất cung cấp sản phẩm có chất lượng thấp, thông thường khách hàng chỉ khiếu nại đối với sản phẩm đắt tiền, còn những sản phẩm rẻ tiền 29

30. đôi khi người tiêu dùng bỏ qua. Vì thế, những thông tin về chất lượng thấp của sản phẩm nào đó không đến được nhà sản xuất khi người tiên dùng lẳng lặng tìm mua sản phẩm tương tự của hảng khác. Các nhà sản xuất phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để có thể thu thập được những khiếu nại, những điểm không hài lòng của khách hàng. ngay cả đối với những sản phẩm rẻ tiền. Tuy nhiên, việc giải quyết những phiền hà, khiếu nại của khách hàng có hiệu quả hay không, triệt để hay không tùy thuộc vào thái độ và cách tổ chức của nhà sản xuất. Các nhà sản xuất có trách nhiệm thường xuyên triển khai những biện pháp đáng tin cậy để đảm bảo nghe được những ý kiến phản hồi của khách hàng. Họ luôn luôn cố gắng thỏa mãn một cách đầy đủ nhất mọi yêu cầu của khách hàng và luôn luôn coi khách hàng là luôn luôn đúng. 1.5.3.2.-Ấn định thời gian bảo hành: Bảo hành là một hoạt động cần thiết và quan trọng để đảm bảo chất lượng trong quá trình sử dụng. Ấn định thời gian bảo hành chính xác và hợp lý sẽ khiến cho người tiêu dùng thỏa mãn nhiều hơn. Song thông thường mọi khách hàng đều biết rằng một phần chi phí cho việc bảo hành đã được tính trong giá cả sản phẩm. Do đó. có thể nói rằng bảo hành, bảo dưỡng kỹ thuật là sự thỏa thuận giữa người kinh doanh và người tiêu dùng. Thuận lợi cho người tiêu dùng càng nhiều thì uy tín của nhà kinh doanh và lợi nhuận của họ càng cao. 1.5.3.3.-Lập các trạm bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ và cung cấp phụ tùng thay thế. Đây là việc không kém phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng của sản phẩm khi sử dụng. Độ tin cậy, tuổi thọ của sản phẩm chỉ được xác định trong quá trình tiêu dùng. Không thể sản xuất ra các sản phẩm có trục trặc trong quá trình khai thác, sử dụng, vì vậy cần thiết phải lập các trạm bảo dưỡng và sửa chữa định kỳ và thường xuyên ở mọi nơi để: – Đảm bảo uy tín cho chính nhà sản xuất. – Đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng. – Thu thập các thông tin thị trường. 1.5.3.4.-Cung cấp tài liệu hướng dẫn sử dụng: Việc sử dụng không đúng, vận hành trong những điều kiện bất thường, kiểm tra bảo dưỡng định kỳ không đầy đủ có thể làm nảy sinh những trục trặc trong quá trình sử dụng, thậm chí có thể làm hư hỏng sản phẩm. Đối với các sản phẩm có thời gian sử dụng dài cần phải có tài liệu hướng dẫn sử dụng. hướng dẫn kiểm tra định kỳ thật chi tiết. Đây là trách nhiệm của nhà sản xuất. Tài liệu cần in cả bằng tiếng địa phương và nêu rõ quyền lợi mà người tiêu dùng được thụ hưởng khi sử dụng sản phẩm và trách nhiệm của nhà sản xuất khi phát sinh những trục trặc. 1.6 Các biện pháp ngăn ngừa lặp lại sai, lỗi 30

32. Công nghệ được thể hiện trong 4 thành phần sau : 2.2.1.-Phần Thiết bị (Machines): Bao gồm máy móc, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng. Đây là phần cứng của công nghệ, giúp cải thiện năng lực cơ bắp, hoặc tăng trí lực con người. Thiếu thiết bị thì không có công nghệ, nhưng nếu đồng nhất công nghệ với thiết bị sẽ là một sai lầm to lớn. 2.2.2..-Phần con người (Men) Bao gồm đội ngũ nhân viên vận hành, điều khiển, quản trị dây chuyền thiết bị. Phần nầy phụ thuộc vào trình độ học vấn, tay nghề, kỹ năng và kinh nghiệm, trực cảm của nhân viên… 2.2.3.-Phần tài liệu, thông tin (Document, Information): Bao gồm bản thuyết minh, mô tả sáng chế, bí quyết, tài liệu hướng dẫn sử dụng, các đặc tính kỹ thuật. 2.2.4.-Phần quản trị (Methods, Management): Bao gồm cách tổ chức thực hiện, tuyển dụng, cách kiểm tra… Bốn phần trên liên hệ mật thiết với nhau, trong đó con người đóng vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, người ta còn quan tâm đến các yếu tố khác như : hàm lượng hiện đại của thiết bị và hàm lượng trí thức trong công nghệ. Việc đổi mới công nghệ thường bắt đầu bằng công nghệ có hàm lượng cao về lao động tiến đến những công nghệ có hàm lượng cao về vốn nguyên liệu, thiết bị, và cuối cùng vươn tới những công nghệ có hàm lượng trí thức cao. Sự chuyển dịch cơ cấu công nghệ của Nhật Bản trong vài thập kỹ gần đây thể hiện như sau : 32

34. + Thông báo với các thành viên trong nhóm về nội dung và mục đích của chương trình. + Xác định vai trò của các thành viên trong việc thực hiện chương trình cải tiến chất lượng. + Đề bạt nhóm trưởng. chúng tôi đoạn 3 : Đo lường chất lượng. Mục đích : Xác định mức độ đo lường chất lượng, phát hiện những sai sót về đo lường, hiệu chỉnh và nêu các biện pháp để đo lường chất lượng. Biện pháp : + Cần xác định xí nghiệp đang ở trình độ nào về mặt chất lượng. + Thiết lập những cách đo lường chất lượng thích hợp đối với từng khu vực hoạt động. chúng tôi đoạn 4: Giá của chất lượng (SCP, chi phí cho cái không chất lượng). Mục đích : Xác định các yếu tố cấu thành giá của chất lượng và sử dụng nó như là một công cụ của quản trị. Biện pháp: Cần phải thông tin cho bộ phận chuyên trách chất lượng các yếu tố cấu thành giá của chất lượng một cách chi tiết. Giá của chất lượng càng cao thì càng phải áp dụng các biện pháp sửa chữa. chúng tôi đoạn 5 : Nhận thức được chất lượng. Mục đích : Làm cho các thành viên nhận thức và quan tâm thường xuyên đến chất lượng, coi chất lượng là niềm tự hào, danh dự của chính đơn vị mình, của chính mình. Biện pháp : + Các thông tin về chất lượng phải được công khai hóa một cách thường xuyên nhằm kích thích các thành viên nhận thức được cái giá phải trả do không có chất lượng. Các hoạt động thông tin, thuyết phục nhằm làm cho các thành viên nhận thức và quan tâm đến chất lượng cần phải tiến hành thường xuyên và liên tục, từ lãnh đạo đến mọi thành viên. chúng tôi đoạn 6 : Hành động sửa chữa. Mục đích : Vạch ra những phương pháp cho phép giải quyết dứt điểm những sai sót về chất lượng đã phát hiện được. Biện pháp : Theo kinh nghiệm của một số nước, người ta lập ra 3 cấp hoạt động thường xuyên cho việc sửa chữa các sai sót như sau : – Hàng ngày ở các bộ phận sản xuất Hàng tuần, ở cấp lãnh đạo sản xuất và lãnh đạo chất lượng ở các phân xưởng. 34

35. – Hàng tháng ở cấp Tổng giám đốc và các cấp có thẩm quyền khác. chúng tôi đoạn 7 : Phát động phong trào cải tiến chất lượng. Mục đích : Xem xét lại mọi hoạt động chất lượng, phát động chính thức phong trào ‘Chương trình không lỗi” (ZD – Zero Defects). Biện pháp : + Làm cho mọi người hiểu rõ khái niệm ZD và những lợi, hại của việc làm đúng ngay từ đầu. + Phát hiện những thành viên tích cực ở các bộ phận. + Kích thích bằìng mọi hình thức để tăng dần số người tự nguyện tham gia phong trào ZD + Nghiên cứu và đề xuất chính sách của xí nghiệp về việc đánh giá và công nhận công lao động của các thành viên trong phong trào ZD. 2.3.8. Giai đoạn 8 : Đào tạo, huấn luyện về chất lượng. Mục đích : Xác định loại hình đào tạo, huấn luyện cần thiết cho mỗi thành viên để họ biết phải làm gì và có thể tham gia tích cực vào phong trào cải tiến chất lượng. Biện Pháp : + Việc đào tạo, huấn luyện về chất lượng được thực hiện đối với tất cả các thành viên, từ cấp cao đến cấp thấp. + Mỗi giai đoạn của phong trào cải tiến chất lượng có một nội dung huấn luyện bổ ích và áp dụng ở chính ngay giai đoạn đó. + Các lớp huấn luyện phải linh hoạt, nhẹ nhàng không chiếm quá nhiều thời gian tác nghiệp, sản xuất. 2.3.9. Giai đoạn 9 : Ngày làm việc không lỗi – Ngày ZD Mục đích : Tạo ra một sự kiện để mọi thành viên tự ý thức được những sự thay đổi về chất lượng đã xảy ra. Biện pháp : + Không nên kéo dài quá 1 ngày để tổ chức ngày làm việc không lỗi. + Ngày làm việc không lỗi phải được tổ chức kỹ càng cả về nội dung lẫn hình thức. 2.3.10. Giai đoạn 10 : Định ra các mục tiêu. Mục đích : Thúc đẩy các cá nhân, các nhóm xác định những mục tiêu cải tiến cho bản thân họ và cho cả nhóm. Biện pháp : Sau ngày ZD, người phụ trách từng đơn vị có nhiệm vụ tạo điều kiện cho từng cá nhân tự đặt ra những mục tiêu cụ thể, khả thi mà họ sẽ phấn đấu đạt 35

37. CHƯƠNG 4 KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG BẰNG THỐNG KÊ . (SQC: Statistical Quality Control) I. KHÁI NIỆM SQC là việc áp dụng phương pháp thống kê để thu thập, trình bày, phân tích các dữ liệu một cách đúng đắn, chính xác và kịp thời nhằm theo dõi, kiểm soát, cải tiến quá trình hoạt động của một đơn vị, một tổ chức bằng cách giảm tính biến động của nó. Kiểm soát chất lượng là thiết yếu vì không có một quá trình hoạt động nào có thể cho ra những sản phẩm giống hệt nhau. Sự biến động này do nhiều nguyên nhân khác nhau: – Loại thứ nhất: Do biến đổi ngẫu nhiên vốn có của quá trình, chúng phụ thuộc máy móc, thiết bị, công nghệ và cách đo. Biến đổi do những nguyên nhân này là điều tự nhiên, bình thường, không cần phải điều chỉnh, sửa sai. – Loại thứ hai: Do những nguyên nhân không ngẫu nhiên, những nguyên nhân đặc biệt, bất thường mà nhà quản trị có thể nhận dạng và cần phải tìm ra để sửa chữa nhằm ngăn ngừa những sai sót tiếp tục phát sinh. Nguyên nhân loại này có thể do thiết bị điều chỉnh không đúng, nguyên vật liệu có sai sót, máy móc bị hư, công nhân thao tác không đúng… Việc áp dụng SQC giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề như: – Tập hợp số liệu dễ dàng. – Xác định được vấn đề. – Phỏng đoán và nhận biết các nguyên nhân. – Loại bỏ nguyên nhân – Ngăn ngừa các sai lỗi. – Xác định hiệu quả của cải tiến. Trong xu thế hiện nay việc nghiên cứu, ứng dụng các công cụ SQC là điều kiện cần thiết giúp các nhà doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập thị trường thế giới. II. CÔNG CỤ SQC (SQC: Statistical Quality Control) Theo TCVN ISO 9004-4 : 1996 phù hợp với ISO 9004 – 4 :1994, các công cụ SQC phổ biến nhất thường được sử dụng để cải tiến chất lượng bao gồm 11 công cụ được chia làm 3 nhóm như sau: Công cụ Ứng dụng 37

39. Mẫu thu thập dữ liệu là biểu mẫu để thu thập và ghi chép dữ liệu. Nó thúc đẩy việc thu thập dữ liệu một cách nhất quán và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích. 2.1.2. Tác dụng: Mẫu thu thập dữ liệu được sử dụng để thu thập dữ liệu một cách có hệ thống để đạt được bức tranh rõ ràng về thực tế. Có thể sử dụng mẫu thu thập dữ liệu để: – Kiểm tra lý do sản phẩm bị trả lại. – Kiểm tra vị trí các khuyết tật. – Tìm nguyên nhân gây ra khuyết tật. – Kiểm tra sự phân bố của dây chuyền sản xuất. – Phúc tra công việc kiểm tra cuối cùng. 2.1.3. Cách sử dụng: – Bước 1: Xây dựng mục tiêu cụ thể về việc thu thập những dữ liệu này (các vấn đề phải xử lý). – Bước 2: Xác định các dữ liệu cần có để đạt được mục đích (xử lý vấn đề). – Bước 3 : Xác định cách phân tích dữ liệu và người phân tích (công cụ thống kê). – Bước 4: Xây dựng một biểu mẫu để ghi chép dữ liệu, cung cấp các thông tin về: + Người thu thập dữ liệu. + Địa điểm, thời gian và cách thức thu thập dữ liệu. – Buớc 5: Thử nghiệm trước biểu mẫu này bằng việc thu thập và lưu trữ một số dữ liệu. – Bước 6: Xem xét lại và sửa đổi biểu mẫu nếu thấy cần thiết. 2.1.4. Ví dụ: Một số – Bảng mẫu thu thập số liệu Nguyên nhân sai lỗi Loại sai lỗi Mất trang Bản chụp bị mờ Mất hình Trang không xếp theo thứ tự Tổng số Kẹt máy Độ ẩm Bộ phận điều chỉnh đậm nhạt 39

41. Máy 1 A o o x ox ooo Oxx o o o x x x ooox ** ooo x** oxx oo oo oo o xx* B o x x oo xx o oooo ooxx Oooxx o o o o o o x x * oooo oox* ooo oox ooo x** oo xx * oo oo oo x ooo oxx ox Máy 2 C o o x ox oo * o o o o o o x oooo oox oo o* oo oo o o¨ D o o x ox oo Ooo∆* o o o * ooo * oo ∆ oo ∆ ¨ o* * ¨ oo x xxo Người thu thập dữ liệu : Thời gian thu thập : từ ngày … … … … … đến ngày … … … … … Địa điểm : Cách thu thập : Hình 4.3. Mẫu thu thập dữ liệu nguyên nhân gây hỏng sản phẩm. Ký hiệu dùng trong mẫu : o: vết xước bề mặt. x: các vết nứt rạn. : Chưa hoàn chỉnh * : sai hình dáng. : các khuyết tật khác. S: sáng. 41

Bài Giảng: Văn Hóa Chính Trị / 2023

Published on

Kết cấu của chuyên đề gồm: 1. Văn hóa và Văn hóa chính trị 2. Phân loại và chức năng của Văn hóa chính trị 3. Văn hóa chính trị và Xây dựng văn hóa chính trị ở Việt Nam

1. TS. Bùi Việt Hương Viện Chính trị học

2. Kết cấu của chuyên đề 1. Văn hóa và văn hóa chính trị 2. Phân loại và chức năng của văn hóa chính trị 3. Văn hóa chính trị và xây dựng văn hóa chính trị ở Việt Nam

3. 1.Văn hóa và văn hóa chính trị  1.1. Tiếp cận giá trị đối với văn hoá và văn hoá chính trị  1.2. Tiếp cận hành vi đối với văn hoá và văn hoá chính trị

4. 1.1. Tiếp cận giá trị đối với văn hoá và văn hoá chính trị (1)  Hai loại hình văn hoá: – Văn hoá vật thể – Văn hoá phi vật thể  văn hóa là một hệ thống ý nghĩa và niềm tin với những biểu tượng và những bảng giá trị đặc biệt được chia sẻ bởi các thành viên trong cộng đồng.

5. Văn hóa chính trị  Văn hoá chính trị là tổng hợp những giá trị được hình thành trong thực tiễn chính trị, thể hiện ở sự hiểu biết về chính trị, ở lý tưởng, niềm tin, và cách thức tham gia vào đời sống chính trị theo chuẩn mực đã thành truyền thống mà mọi người được tiếp nhận từ gia đình và xã hội

6.  Cấu trúc: – Tri thức chính trị – Hệ tư tưởng chính trị – Lý tưởng và niềm tin chính trị – Các truyền thống chính trị – Chuẩn mực chính trị

7. Cái gì đứng đằng sau và chi phối cách suy nghĩ Và hành xử của mọi người trong xã hội?

8. 1.2. Tiếp cận hành vi đối với văn hoá và văn hoá chính trị – L. Pye, S.Verba: văn hóa chính trị được hiểu là những thái độ, giá trị, niềm tin được cộng đồng chia sẻ và những mẫu hình hành vi của các cá nhân khi họ tham gia vào đời sống chính trị một loại thái độ đối với HTCT và thái độ đối với vai trò của mình trong HTCT đó. Xác lập các giới hạn đối với hoạt động của HTCT (nguyên tắc, khuôn khổ chính thức, không chính thức).

9. Cấu trúc: 3 phương diện  Nhận thức: những hiểu biết về HTCT và vai trò của các thành phần tham dự vào HTCT tâm lý chính trị, đinh hướng về cấu trúc chính quyền.  Cảm xúc: tình cảm của dân chúng đối với HTCT, những người tham gia vào HTCT và các hoạt động và các giá trị mà hệ thống ấy đại diện hoặc theo đuổi.  Đánh giá: quan hệ cá nhân của con người đối với HTCT, từ đó, định hình mức độ tham gia vào hệ thống ấy.

10. Người dân có ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống chính trị ? Chính quyền nên được điều hành như thế nào? Nên làm những gì?

11. 2. Phân loại và chức năng của văn hóa chính trị  2.1. Phân loại văn hóa chính trị  2.2. Chức năng của văn hóa chính trị

12. 2.1. Phân loại văn hóa chính trị  VHCT của cá nhân: – Văn hoá chính trị tham gia – Văn hoá chính trị thần phục – Văn hoá chính trị thờ ơ  VHCT của tổ chức: – VHCT đồng thuận và VHCT xung đột – VHCT của giới tinh hoa và VHCT của quần chúng

13.  Văn hoá chính trị quốc gia: 3 cấp độ – Hệ thống: quan điểm về giá trị của các nhà lãnh đạo, của công dân và của các tổ chức – Quá trình: khuynh hướng tham gia vào các quá trình chính trị của công dân – Chính sách: những chính sách công dân mong đợi từ chính phủ, mục tiêu chính sách, cách thức đạt được chính sách.

14. 2.2. Chức năng của văn hóa chính trị  Chức năng giáo dục: – Điều chỉnh hành vi, giáo dục các giá trị – Xác lập, lan truyền các giá trị, chuẩn mực mới – Cung cấp sự hiểu biết về CT, HTCT, vai trò của mình trong hệ thống tổ chức quyền lực. Trang bị tri thức, kĩ năng, năng lực hoạt động CT  Giao tiếp và liên kết cộng đồng: – Liên kết cộng đồng dựa trên các giá trị, chuẩn mực – Duy trì và truyền dẫn giá trị

15.  Điều chỉnh hành vi của các công dân, các nhà chính trị khi họ tham gia vào đời sống chính trị – Xác định định hướng chính trị của Đảng cầm quyền, quy định tính chất, nội dung, hoạt động chính trị – Điều tiết xu hướng vận động của nền chính trị và xã hội, điều chỉnh các quan hệ chính trị Điều chỉnh hành vi theo các chuẩn mực, giá trị chung. Cân nhắc trước khi đưa ra các quyết định chính trị

16. VĂN HÓA CHÍNH TRỊ Hệ thống chính trị Cách giải quyết vấn đề Quá trình Vấn đề chính trị

17. 3. ĐẶC ĐIỂM CỦA VHCT VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VHCT HIỆN NAY 3.1. Đặc điểm của văn hóa chính trị Việt Nam 3.2. Xây dựng văn hóa chính trị ở Việt Nam

18. Phông văn hóa  Địa chính trị  Tính gián đoạn chính trị  Chiến tranh liên miên: phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ  các kết cấu kinh tế – xã hội thường bị gián đoạn, khó đạt đến điểm đỉnh của sự phát triển chín muồi.  Quá trình tiếp xúc và tiếp biến văn hóa khu vực và hiện đại hóa văn hóa dân tộc

19. 3.1. Một số đặc điểm của văn hóa chính trị Việt Nam  Hình thành và phát triển trong quá trình hình thành ý thức dân tộc, quốc gia  chịu ảnh hưởng của nền chính trị lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng  Chịu ảnh hưởng của nhiều xu hướng khác nhau  Khoảng cách giữa các mẫu hình và giá trị văn hoá chính trị chuẩn mực với các hành vi chính trị thực tế

20.  Văn hóa chính trị cá nhân – Nhận thức về chính trị – Tình cảm của dân chúng – Mức độ tham gia – Mức độ hài lòng của người dân đối với các chính sách  Văn hóa chính trị tổ chức – Tính minh bạch – Trách nhiệm xã hội – Trách nhiệm giải trình  Văn hoá chính trị quốc gia – Hệ thống – Quá trình – Chính sách

21. 3.2. Một số vấn đề đặt ra đối với văn hóa chính trị Việt Nam hiện nay  Đo lường một nền văn hóa chính trị lành mạnh – Tự hào về nhiều phương diện của quốc gia mình – Tin tưởng vào sự công minh của các cơ quan công quyền – Tự do phát ngôn về chính trị – Hưởng ứng tích cực các cuộc bầu cử – Khoan dung với ý kiến khác – Tự tin tham gia, hợp tác và tin cậy trong đời sống chính trị – xã hội, trong xã hội dân sự.

22. 3.3. Một số định hướng và giải pháp xây dựng văn hoá chính trị Việt Nam hiện nay  3.3.1. Một số định hướng  3.3.2. Một số giải pháp

23. 3.3.1.Một số định hướng  Hoàn thiện các chuẩn mực, giá trị văn hóa chính trị và con người chính trị.  Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.  Hoàn thiện thể chế pháp lý và thiết chế văn hóa

24. Văn hóa chính trị đến từ đâu? GIA ĐÌNH CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG BẠN BÈ KINH TẾ NHÀ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ CÁC NHÓM ĐỒNG ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TOÀN CẦU

25. Văn hóa chính trị thay đổi khi nào?  Tác động của các sự kiện: chiến tranh, xâm lược, khủng hoảng kinh tế  Tác động của nền chính trị và các chính trị gia  Thay đổi xã hội và kinh tế, sự xuất hiện các giai cấp hoặc nhóm mới  Tác động của thời gian và sự tiếp biến văn hóa

26. 3.3.2. Một số giải pháp xây dựng VHCT  Xã hội hóa chính trị: thẩm thấu các giá trị VHCT, trang bị thông tin, chuẩn mực, quan điểm, giá trị xã hội, biết về HTCT và vai trò trong hệ thống đó. Đào tạo các cá nhân về các giá trị chính trị, gắn kết cá nhân với hệ thống, dự đoán hành vi của người khác. Ủng hộ hệ thống chính trị, giúp duy trì và chính đáng hóa HTCT và chính phủ cầm quyền.  Giáo dục VHCT cho các cá nhân, các tổ chức: văn hóa chính trị là việc nâng nền dân chủ lên cấp độ văn hóa

27. Tổng hợp Bài giảng tại: http://caocaplyluan.blogspot.com

Vai Trò Và Cơ Chế Quản Trị Doanh Nghiệp Tại Các Ngân Hàng Thương Mại / 2023

Vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) có đặc thù là kinh doanh tiền tệ, hoạt động kinh doanh của NHTM tiềm ẩn nhiều rủi ro và có tác động mạnh đến nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, đối với NHTM vấn đề quản trị doanh nghiệp (QTDN) có vai trò hết sức quan trọng.

Những năm gần đây, với sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng, khủng hoảng, suy thoái trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng diễn ra trên diện rộng, vấn đề QTDN tại các NHTM càng trở nên “nóng” hơn trên các diễn đàn trong nước và quốc tế.

Thực tế cho thấy, chỉ những ngân hàng nào thực sự hiểu rõ và để cao vai trò QTDN mới có thể phát triển vững mạnh trong khủng hoảng, bởi những lợi ích của nó mang lại.

Thứ nhất, nâng cao uy tín của ngân hàng. Thông qua cơ chế công khai, minh bạch thông tin, NHTM có QTDN hiệu quả sẽ được các chủ thể tham gia thị trường tin tưởng, tín nhiệm.

Vì vậy, cơ chế công khai thông tin, một mặt sẽ giúp các NHTM có hệ thống quản trị tốt nhanh chóng nhận được sự tín nhiệm, đánh giá cao của thị trường, mặt khác chính công khai thông tin sẽ buộc các NHTM phải nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị để có thể chiếm lĩnh được lòng tin, sự tín nhiệm của thị trường.

Nếu các NHTM không hoạt động hiệu quả, việc công khai thông tin sẽ làm cho họ bị thị trường đào thải. Vì vậy, cơ chế công khai thông tin – một trong những cơ chế quan trọng hàng đầu trong QTDN là một động lực quan trọng để các NHTM nâng cao uy tín.

Thứ hai, tạo động lực để hoạt động quản lý NHTM hiệu quả. Với một cơ chế phân định trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng, đảm bảo tính độc lập về chức năng nhiệm vụ, chế độ đãi ngộ phù hợp vừa tạo động lực để hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành làm việc tận tâm, vừa tăng cường tính tuân thủ, giảm thiểu sai phạm, gian lận trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Từ đó, các hoạt động quản lý được tăng cường và nâng cao hiệu quả, đảm bảo mục tiêu được xác định.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho ngân hàng. Đối với NHTM, huy động vốn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng do phần lớn vốn kinh doanh của ngân hàng dựa vào vốn huy động.

Thứ tư, giảm chi phí vốn, tăng giá trị tài sản của ngân hàng. Với đặc thù hoạt động chủ yếu của NHTM là “đi vay và cho vay”, trong đó lãi suất là thước đo cơ bản “giá” các khoản nợ và tài sản của ngân hàng. Các NHTM có QTDN tốt, có tín nhiệm với thị trường có thể huy động vốn với lãi suất thấp do người gửi tiền đánh giá tính an toàn của khoản tiền gửi cao.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả kinh doanh của NHTM. QTDN với một hệ thống giải trình đầy đủ, kịp thời là cơ sở để các vấn đề về hoạt động của ngân hàng được truyền đạt thông suốt đến các cấp quản trị, điều hành trong toàn hệ thống, từ đó cải thiện quá trình ra quyết định và có biện pháp ứng phó kịp thời và hiệu quả với các biến cố.

Bên cạnh đó, với hoạt động hiệu quả của kiểm soát nội bộ, kiểm soát của thị trường và kiểm soát rủi ro sẽ hỗ trợ cho ngân hàng kiểm soát rủi ro, tối đa hóa lợi nhuận trong phạm vi rủi ro có thể chấp nhận.

Cơ chế quản trị doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại

Cơ chế QTDN tại ngân hàng gồm 2 nhóm cơ bản là cơ chế nội bộ và cơ chế bên ngoài.

– Cơ chế thực hiện quyền của chủ sở hữu bao gồm: Cơ chế tham dự và thông qua nghị quyết tại các cuộc họp hội đồng các thành viên chủ sở hữu; Cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động của chủ sở hữu; Cơ chế tiếp nhận thông tin của HĐQT, Ban điều hành; Cơ chế công khai, minh bạch thông tin.

Phần lớn các quyền của chủ sở hữu được thực hiện thông qua cơ chế biểu quyết tại cuộc họp HĐQT. Việc quyết định các vấn đề thuộc quyền của chủ sở hữu được thực hiện thông qua biểu quyết, trong đó quyền biểu quyết của chủ sở hữu căn cứ theo tỷ lệ vốn góp tại ngân hàng.

– Hoạt động của HĐQT cần tuân thủ các cơ chế sau: Tuyển chọn HĐQT; Họp, thông qua nghị quyết của HĐQT; Kiểm soát ban điều hành của HĐQT; giải trình của HĐQT với chủ sở hữu.

Để thực hiện tốt chức năng của mình, Chủ tịch và các thành viên HĐQT phải có trình độ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng và lĩnh vực quản trị, có khả năng chịu áp lực và sẵn sàng đối mặt với các thử thách trong quản lý.

Mỗi ngân hàng phải có số lượng và cơ cấu thành phần HĐQT phù hợp. Thông thường, cơ cấu và số lượng thành viên HĐQT chịu chi phối bởi quy định pháp lý mỗi quốc gia và quy mô, đặc điểm hoạt động của mỗi ngân hàng.

HĐQT tổ chức họp theo triệu tập của Chủ tịch HĐQT theo định kỳ hoặc bất thường để thông qua các quyết định thuộc thẩm quyền của HĐQT. Các quyết định được thông qua khi có đa số thành viên HĐQT có mặt trong cuộc họp có ý kiến tán thành.

Bên cạnh đó, HĐQT thực hiện kiểm soát hoạt động của Ban điều hành thông qua thiết lập bộ máy giám sát trực thuộc HĐQT: các Ủy ban trực thuộc, hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ.

Theo định kỳ, HĐQT phải thực hiện báo cáo, giải trình về hoạt động và tình tình tài chính của ngân hàng trong kỳ với chủ sở hữu và có trách nhiệm cung cấp thông tin, giải trình khi chủ sở hữu yêu cầu.

– Cơ chế hoạt động của Ban kiểm soát: Theo mô hình QTDN 2 cấp, Ban kiểm soát do chủ sở hữu thành lập, trả thù lao, thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của HĐQT, Ban điều hành nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu.

Để thực hiện chức năng của mình, Ban kiểm soát chịu trách nhiệm giám sát độc lập hoạt động của HĐQT, Ban điều hành. Số lượng thành viên Ban kiểm soát tùy vào đặc điểm và tính phức tạp trong hoạt động của từng ngân hàng.

Để đảm bảo tính độc lập, thành viên Ban kiểm soát không được phép đồng thời là thành viên HĐQT hoặc thành viên Ban điều hành. Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của HĐQT, ban điều hành với chủ sở hữu.

– Hoạt động của Ban điều hành bao gồm các cơ chế: Tuyển chọn ban điều hành; Giám sát của ban điều hành đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Giải trình của Ban điều hành với HĐQT và chủ sở hữu. Theo đó, HĐQT chịu trách nhiệm tuyển chọn và bổ nhiệm Tổng giám đốc, thành viên Ban điều hành và các nhân sự quản lý cấp cao khác của ngân hàng.

Tùy thuộc vào chính sách quản trị, quy mô và độ phức tạp trong quản trị, điều hành mà quy mô của Ban điều hành ở mỗi ngân hàng không hoàn toàn giống nhau. Ban điều hành có trách nhiệm triển khai các chủ trương, chính sách đã được HĐQT phê duyệt và giám sát hiệu quả hoạt động của nó.

Trong thẩm quyền của mình, Ban điều hành bổ nhiệm các cán bộ quản lý, điều hành dưới quyền nhằm tạo mạng lưới quản lý, giám sát và báo cáo một cách hiệu quả. Đồng thời, Ban điều hành có thể cứ các đại diện của mình trực tiếp tổ chức việc kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh hàng ngày.

Ban điều hành với đại diện là Tổng giám đốc có trách nhiệm giải trình, cung cấp các thông tin về hoạt động của ban điều hành, hiệu quả kinh doanh, tình hình tài chính của ngân hàng theo định kỳ và khi có yêu cầu…

Cơ chế bên ngoài

Bên cạch việc tuân thủ các cơ chế nôi bộ, để đảm bảo an toàn, phát triển triển bền vững trong kinh doanh đòi hỏi đặt ra đối với các NHTM cần quan tâm đến các cơ chế bên ngoài như: Giám sát của cơ quan giám sát ngân hàng; giám sát của thị trường; giám sát của kiểm toán độc lập.

Cơ chế kiểm soát của cơ quan giám sát một mặt tạo động lực để các NHTM tuân thủ quy định pháp luật, hoàn thiện quy chế nội bộ trong hoạt động quản trị, mặt khác, cơ quan giám sát có thể kịp phát hiện sớm các yếu kém trong QTDN của các NHTM và có biện pháp can thiệp kịp thời để tránh để lại các tác động xấu cho bản thân ngân hàng và hệ thống tài chính của quốc gia.

Trong điều kiện công khai, minh bạch hóa thông tin, thị trường là một kênh giám sát rất hiệu quả. Trên cơ sở các thông tin về hoạt động của ngân hàng được công khai, các chủ thể tham gia thị trường có thể đánh giá hiệu quả QTDN tại ngân hàng và họ sẽ có cách ứng xử với sự đánh giá của họ.

Vì vậy, thông qua hành vi của các chủ thể tham gia thị trường, chủ sở hữu, các nhà quản trị có thể đánh giá được hiệu quả quản trị nội bộ, từ đó có các điều chỉnh, thay đổi thích hợp.

Các báo cáo độc lập của kiểm toán độc lập sẽ xác định một cách đầy đủ, khách quan năng lực tài chính của ngân hàng. Vì vậy, nó phản ánh hiệu quả quản trị của NHTM. Các thông tin của báo cáo kiểm toán độc lập là cơ sở tin cậy để các NHTM đánh giá lại và có các ứng xử phù hợp để nâng cao hiệu quả QTDN.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Giảng Quản Trị Thương Mại / 2023 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!