Xu Hướng 2/2023 # Áp Dụng Sản Xuất Sạch Hơn Trong Công Nghiệp: Bài Toán Chưa Lời Giải # Top 3 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Áp Dụng Sản Xuất Sạch Hơn Trong Công Nghiệp: Bài Toán Chưa Lời Giải # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Áp Dụng Sản Xuất Sạch Hơn Trong Công Nghiệp: Bài Toán Chưa Lời Giải được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp: Bài toán chưa lời giải

Chủ nhật, ngày 31/07/2011

Hiện nay, các chi phí đầu vào như nguyên nhiên liệu, công lao động gia tăng liên tục trong khi môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (DN) ngày càng khốc liệt trước yêu cầu ngày càng cao của khách hàng về chất lượng và giá thành sản phẩm.

Vì vậy, chọn lựa giải pháp sản xuất sạch hơn chính là cách để DN đạt được mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiện có rất ít DN trên địa bàn tỉnh áp dụng sản xuất sạch hơn, vì thế mô hình này cần được nhân rộng trong thời gian tới.

Hiện nay, các chi phí đầu vào như nguyên nhiên liệu, công lao động gia tăng liên tục trong khi môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (DN) ngày càng khốc liệt trước yêu cầu ngày càng cao của khách hàng về chất lượng và giá thành sản phẩm.

Vì vậy, chọn lựa giải pháp sản xuất sạch hơn chính là cách để DN đạt được mục tiêu nâng cao năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững. Tuy nhiên, hiện có rất ít DN trên địa bàn tỉnh áp dụng sản xuất sạch hơn, vì thế mô hình này cần được nhân rộng trong thời gian tới.

Những mô hình Sản xuất sạch hơn hiệu quả

Đi đầu trong việc áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn được kể đến đó là DN ngành Than. Trong chiến lược phát triển của ngành này đến năm 2015 tầm nhìn 2025 cũng đã xác định: “Phát triển ngành than trở thành một ngành kinh tế – kỹ thuật hiện đại có hiệu quả và giá trị gia tăng cao, phát triển hài hoà với cộng đồng và thân thiện với môi trường”.

Từ mục tiêu đó, nhiều đơn vị của ngành Than đã không ngừng tìm kiếm các giải pháp, đổi mới công nghệ từ khai thác đến sàng tuyển mà điển hình là Công ty Tuyển than Cửa Ông. Trong nhiều năm qua, Công ty Tuyển than Cửa Ông đã hoàn thiện việc thiết kế chế tạo các tuyến băng trong dự án cải tạo công nghệ tuyển than một, xây dựng phương án sản xuất 500.000 tấn/năm loại than cám xít cấp hạt 0-0,25mm từ đá thải của ba nhà máy tuyển; thiết kế và hoàn thiện công nghệ các dự án đầu tư chuyển than cục xô vào toa xe phía tuyển than một, “Cải tạo hệ thống bùn nước tuyển than một”… Ðặc biệt, Công ty đã đầu tư 123 tỷ đồng đưa dự án GAP vào hoạt động, góp phần tăng cường xử lý bùn nước qua sàng tuyển, vừa tận thu hàng trăm nghìn tấn than bùn mỗi năm, vừa thu hồi lại nguồn nước tuần hoàn để rửa than. Công ty cũng đã nghiên cứu đổi mới công nghệ và hệ thống dây chuyền thiết bị sản xuất thay thế hệ thống xử lý bùn nước với 12 bể lắng sang hệ thống phân cấp thuỷ lực bằng xoáy lốc huyền phù để tuyển than cục với kích thước 50mm, hệ thống sàng Ghesa bằng hệ thống sàng rung nhằm tăng tỷ lệ thu hồi cám đá -15…

Một doanh nghiệp khác ngoài ngành than đó là Công ty Cơ khí Quang Trung (Uông Bí) cũng rất quan tâm đến việc sản xuất sạch hơn, chủ động áp dụng và duy trì sản xuất sạch hơn hơn 10 năm nay. Cơ khí Quang Trung đã thực hiện đồng loạt nhiều giải pháp như: Xây dựng các bức tường có tác dụng làm giảm thiểu tiếng ồn, xưởng đúc ly tâm có hệ thống béc phun sương mù làm giảm nhiệt độ trong những ngày luyện kim, xưởng tiện được lắp đặt hệ thống ống hút bụi để đưa chất thải về bể lắng lọc xử lý. Các công đoạn vận hành máy móc cũng được thực hiện hợp lý, tránh được những hao phí không cần thiết khi sử dụng nguyên, nhiên liệu. Nhờ nỗ lực duy trì sản xuất sạch hơn mà Công ty tuân thủ đầy đủ các quy định của ngành chức năng, đảm bảo các tiêu chí về môi trường, tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và giảm chi phí đầu vào của sản phẩm.

Cần hướng đến sản xuất công nghiệp sạch hơn

Việc áp dụng sản xuất sạch hơn không chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất của DN, mang lại hiệu quả “kép” đối với DN. Tuy nhiên, theo Sở Công thương, trên địa bàn tỉnh hiện có khoảng 4.000 DN và cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó, chỉ một số ít DN lớn đầu tư thiết bị công nghệ sạch, các DN còn lại đa số là DN vừa và nhỏ, thiết bị và quy trình sản xuất còn lạc hậu. Cũng theo nhận định của Sở này, việc áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đang gặp không ít rào cản như: Thiếu sự quan tâm và cam kết của các cơ sở công nghiệp với chiến lược sản xuất sạch hơn; thiếu các chuyên gia về sản xuất sạch hơn cho các ngành công nghiệp khác nhau; thiếu nguồn tài chính để đầu tư cho các công nghệ mới, sạch hơn; thiếu một cơ chế chính sách khuyến khích công bằng và thoả đáng, có DN bỏ ra hàng tỷ đồng để đầu tư cho sản xuất sạch hơn trong khi các DN khác xả các chất ô nhiễm ra môi trường chỉ bị xử phạt nhẹ…

Bên cạnh đó, Sở này cũng khẳng định, trong quá trình sản xuất, nếu DN không có biện pháp xử lý các chất thải một cách hiệu quả và triệt để thì môi trường xung quanh khu vực sản xuất sẽ bị tổn hại, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như khả năng tồn tại lâu dài của DN. Để việc áp dụng sản xuất sạch hơn thực sự mang lại hiệu quả, khi mới áp dụng không nên thực hiện ngay ở phạm vi rộng mà nên chọn một mảng, một dây chuyền đang có sự lãng phí lớn, bất hợp lý trong sử dụng, phát thải lớn để tiếp cận dần với sản xuất sạch hơn. Ngoài ra, cần xem đây là công việc quan trọng, luôn duy trì và gắn kết với định hướng phát triển, mạnh dạn thay đổi về công nghệ khi đã có đánh giá, khảo sát chắc chắn.

Theo “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 7-9-2009, đến năm 2020 sẽ có 90% cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích từ việc áp dụng sản xuất sạch hơn, 50% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn, 90% DN vừa và lớn có đầu mối chuyên trách về sản xuất sạch hơn, các đơn vị áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được 8-13% mức tiêu thụ năng lượng. sản xuất sạch hơn đã thực sự mang lại hiệu quả “kép” đối với nhiều DN sản xuất công nghiệp, nhưng hiện nay, trên địa bàn tỉnh, số cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn rất hạn chế. Việc triển khai áp dụng sản xuất sạch hơn vẫn thiếu nhiều giải pháp cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc, đi cùng với tư duy tăng trưởng bằng mọi giá, thiếu chú ý đến chất lượng.

Do đó, để sản xuất sạch hơn được nhân rộng, ngoài việc hỗ trợ cho DN, hoàn thiện hệ thống pháp luật thì vấn đề tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức cho DN, cộng đồng về bảo vệ môi trường và thúc đẩy mở rộng sản xuất sạch hơn cần được thực hiện đồng bộ và liên tục.

Áp Dụng Công Nghệ Tiết Kiệm Năng Lượng Trong Sản Xuất Công Nghiệp

Các ngành công nghiệp nặng đang từng bước áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm tiết kiệm năng lượng, qua đó góp phần không nhỏ trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường ở Việt Nam.

Theo Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã được phê duyệt, đến năm 2030 nước ta cơ bản phải đạt được mức tiết kiệm tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc từ 8-10%, tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6%. Hiện nay, ngành công nghiệp tiêu thụ khoảng 50% tổng năng lượng quốc gia. Do đó, vai trò của tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp là vô cùng lớn.

Từ đó, cơ bản các Tập đoàn, Tổng công ty đã đề ra những phương án, giải pháp, từng bước triển khai hiệu quả các biện pháp giúp tiết kiệm năng lượng, tăng hiệu quả sản xuất, góp phần quan trọng vào hoàn thành mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra.

Nhà máy lọc hóa dầu

Đi đầu trong việc nghiên cứu tìm tòi các giải pháp giúp tiết kiệm năng lượng là Nhà máy Lọc dầu Dung Quất thuộc quản lý của Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn, đơn vị trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Trong đó, các giải pháp đã được triển khai hiệu quả nơi đây có thể kể đến việc thay thế các loại đèn truyền thống (sợi đốt, huỳnh quang, hơi natri cao áp) bằng đèn LED. Tổng số tiền tiết kiệm mỗi năm cho đơn vị này là 900 triệu đồng.

Nhiều sáng kiến về tiết kiệm năng lượng đang được áp dụng ở nhà máy Dung Quất

Một sáng kiến khác là kiểm soát lượng hơi nước thất thoát, giúp nhà máy Dung Quất thu lời hơn 3 triệu USD/năm.

Nhiều sáng kiến trong số 23 giải pháp được đưa ra đã giúp chỉ số EII (Energy Intensive Index – chỉ số tăng cường hiệu quả năng lượng) của nhà máy đã giảm từ 118% của năm 2014 xuống còn 103,6% và chỉ số tiêu thụ năng lượng nội bộ giảm từ 7,55% xuống còn 7,05% trong cùng khoảng thời gian.

Nhà máy luyện gang thép

Theo đánh giá của Tổ chức năng lượng quốc tế (IEA) sản xuất gang thép là một trong những ngành tiêu thụ năng lượng lớn, chiếm trên 15% tổng năng lượng sử dụng trong các ngành công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu ở các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, năng lượng tiêu thụ thực tế chỉ chiếm 60%, 40% còn lại là tổn thất trong quá trình tạo xỉ, thải khí và làm nguội sản phẩm. Vì thế các giải pháp tiết kiệm năng lượng là yêu cầu cấp bách đặt ra hàng đầu đối với các doanh nghiệp trong ngành luyện gang thép nói chung.

Một số thành tựu đáng chú ý hiện nay có thể kể đến công nghệ lò cao khép kín 100%, thu hồi nhiệt năng để chạy máy phát điện giúp chủ động gần 50% nhu cầu điện sản xuất ở các khu liên hợp sản xuất gang thép của Hòa Phát ở Hải Dương, Quảng Ngãi. Công ty Formosa Hà Tĩnh cũng đưa ra 6 giải pháp giúp tiết kiệm 5.073 tấn than và 1.588,4 MWh điện hàng năm, tương đương 438.431 USD, chiếm 1,2% tổng chi phí tiêu thụ năng lượng của công ty.

Hiện nay, tro xỉ từ hoạt động sản xuất gang thép chiếm khối lượng rất lớn, từ 15-40% khối lượng gang thép thu được. Vì thế bên cạnh các giải pháp chính, việc tận dụng nguồn tro xỉ dư thừa sao cho hiệu quả, thân thiện với môi trường cũng là hết sức đáng lưu ý.

Nhà máy hóa chất

Theo thống kê, tiềm năng tiết kiệm năng lượng của các ngành hóa chất có thể lên đến 40%. Đến nay, Công ty Cổ phần Supe Phốt phát & Hóa chất Lâm Thao có thể xem là đơn vị đi đầu trong việc tìm tòi áp dụng các giải pháp tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường. Năm 2019, đơn vị này đã ghi nhận 279 đề tài đến từ 602 tác giả giúp nâng cao năng suất, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, cải thiện môi trường và trực tiếp đem lại giá trị lợi ích cả tỷ đồng mỗi năm cho công ty.

Nhà máy đạm Hà Bắc

Còn với Công ty Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, các giải pháp công nghệ đã được vận dụng từ sớm giúp tiết kiệm 20% năng lượng ở hệ thống methal hóa, tiết kiệm 78% năng lượng ở hệ thống nước tuần hoàn và 33% năng lượng tiết kiệm được ở hệ thống máy nén tuần hoàn.

Ngoài ra, còn rất nhiều doanh nghiệp khác trong cả nước cũng không ngừng đưa ra các giải pháp và áp dụng công nghệ mới, để giúp tiết kiệm năng lượng trong quá trình sản xuất.

Phương Nguyễn

Việc tắt điều hòa ô tô không đơn giản chỉ là thao tác ấn nút. Cách tắt điều hòa ô tô khi nào và như thế nào để vừa đảm bảo độ bền mà lại không gây hại sức khỏe là điều không phải ai cũng biết.

Giải Pháp Sản Xuất Sạch Hơn: “8 Giải Pháp Vàng” Cho Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ – Vncpc

Bên trong nhà máy dệt may thuộc Tập đoàn Esquel Group tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore ở Thuận An, Bình Dương

Hưởng ứng xu thế chung của thế giới

Ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Hà Lan, Thụy Điển, Đan Mạch từ những năm 1985-1990 đã áp dụng SXSH. Các nước ở châu Á và Đông Âu như Ấn Độ, Singapore, Thái Lan, Ba Lan, Tiệp, Hungari… từ năm 1993 trở lại đây.

Khái niệm SXSH vào Việt Nam bắt đầu từ những năm 1996 qua dự án của Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP). Với sự hỗ trợ của Chính phủ Thụy Sĩ và Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc UNIDO, năm 1998 Việt Nam đã thành lập Trung tâm SXSH Việt Nam đặt tại Viện Khoa học Công nghệ & Môi trường thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội. Trung tâm này đã có những hoạt động thúc đẩy, quảng bá SXSH trong công nghiệp ở Việt Nam như: Đào tạo các chuyên gia tư vấn về SXSH, đưa SXSH vào chương trình đào tạo của một số trường đại học, tiến hành trình diễn đánh giá SXSH tại một số cơ sở sản xuất thuộc nhiều ngành công nghiệp, đào tạo nâng cao trình độ về SXSH cho các cán bộ kỹ thuật.

Từ năm 2000, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) đã có những hoạt động triển khai thực hiện SXSH, tham gia trong dự án “Những chiến lược và cơ chế khuyến khích đầu tư SXSH tại các nước đang phát triển” của UNEP, là đầu mối tổ chức hợp phần “Quá trình đầu tư cho SXSH” của dự án này. Bộ đã tổ chức các khóa đào tạo cho các cán bộ chủ chốt ngành công nghiệp trong cả nước về SXSH, cách lập dự án đầu tư và khai thác nguồn vốn. Một số cơ quan khoa học trong bộ đã tổ chức nghiên cứu và tham gia các hoạt động đào tạo, phổ biến thông tin, điều tra, khảo sát tiềm năng SXSH của một số cơ sở sản xuất công nghiệp.

Theo Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP), SXSH được định nghĩa là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường. Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại; giảm về lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải; Đối với sản phẩm: SXSH bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ; Đối với dịch vụ: SXSH đưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển dịch vụ.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chú trọng đến hiệu quả năng lượng

Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Chính sách Dịch vụ công – CIEM cho biết, trong giai đoạn 2011-2014, tốc độ sử dụng năng lượng luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Khi giá điện tăng, giá xăng ở mức cao, các DN buộc phải tăng chi phí sản xuất/dịch vụ.

Các DNVVN chiếm đến 40% tổng mức tiêu thụ năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp. Một số lĩnh vực như gạch, gốm và chế biến thực phẩm, tiềm năng tiết kiệm năng lượng ở mức tương đối cao, trên 30%. Trong khi đó, đối với các lĩnh vực như sản xuất xi măng và nông nghiệp, tiềm năng này ở mức trên 50%.

Để khắc phục tình trạng này, các DNVVN cần đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị để tăng hiệu quả sử dụng năng lượng.

Bà Đỗ Thị Tú Anh, Tổng Thư ký Hội DN trẻ Hà Nội cho biết, năng lượng là một trong những cấu phần hình thành nên giá thành sản phẩm. Vì vậy, các DN cần có phương án sử dụng năng lượng hợp lý để giảm giá thành sản phẩm, giúp DN tăng tính cạnh tranh trên thị trường.

Rõ ràng, qua thực tế phát triển công nghiệp nói chung, ở Bình Dương nói riêng, việc tham gia áp dụng và thực hiện SXSH sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của DN đặc biệt là DNVVN một cách mạnh mẽ; tạo được lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường. Mặt khác, khi tham gia thực hiện SXSH, DN công nghiệp còn nhận được chính sách ưu đãi tài chính của Nhà nước và sự ưu tiên chọn lựa của những khách hàng khó tính.

Theo Bảo Anh – baocungcau.vn

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp: Sạch, An Toàn Và Phát Triển Bền Vững

Moitruong24h- Quảng Ninh không phải vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp nên lượng chất thải trong lĩnh vực này chưa quá lớn và gây tác động nghiêm trọng như chất thải trong công nghiệp. Tuy nhiên với thực tế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân hóa học trong trồng trọt, nguồn thức ăn trong Nhiều mối nguy hại đối với môi trường nuôi trồng thủy sản (NTTS) ngày càng bất hợp lý, mất kiểm soát cùng những bất cập trong xả thải, xử lý thải trong chăn nuôi đã và đang ảnh hưởng đến môi trường các vùng nông thôn. Một bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV chưa đạt chuẩn ở xã Hồng Phong, TX Đông Triều.

Theo kết quả rà soát của Sở NN&PTNT, mỗi năm ngành nông nghiệp sử dụng trên 200 tấn phân bón vô cơ và thuốc BVTV các loại, trong đó chỉ 30% hấp thụ vào cây trồng, còn lại thẩm thấu vào đất, nước làm ô nhiễm môi trường. Chưa kể khoảng 10% – 15% phân, thuốc nguyên chất, vốn là những hợp chất độc hại, đứng đầu danh sách 12 loại độc nguy hiểm còn sót lại ở vỏ các bao bì vứt bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương sẽ tác động trực tiếp đến môi trường. Tình trạng này khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và giảm độ màu mỡ, quan trọng hơn đó là khiến con người có nguy cơ mắc các bệnh ung thư.

Hiện nay toàn tỉnh đang có trên 20.000ha NTTS các loại, mỗi năm nuôi từ 2 – 3 vụ, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2017 đạt trên 54.000 tấn. Theo ông Vương Văn Oanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh, với diện tích nuôi và sản lượng như trên thì lượng thức ăn tồn dư trong môi trường không hề nhỏ. Một yếu tố khác đe dọa môi trường là tình trạng khai thác thủy sản theo hướng tận diệt; các vật dụng phao xốp dùng trong NTTS, vốn rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên và lượng dầu mỡ thải ra trên mặt nước từ các phương tiện khai thác thủy sản.Đối với hoạt động sản xuất thủy sản, nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng đến môi trường là lượng thức ăn dư thừa và chất thải của đối tượng nuôi tồn dư trong nước lớn do hệ số thức ăn (lượng thức ăn phải tiêu tốn để thu được 1kg tăng trọng) cao. Đơn cử như đối với con tôm, hệ số thức ăn trung bình là trên 2 lần; cá biển là trên 7 lần. Đáng nói phần lớn thức ăn phục vụ NTTS hiện đều là các loại cá tạp xay sống nên ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, hiện toàn tỉnh có đến gần 8.000 lồng bè NTTS các loại, trong đó hầu hết sử dụng vật liệu phao xốp; số lượng phương tiện khai thác thủy sản là trên 7.500, trong đó trên 5.000 chiếc là phương tiện chưa hiện đại, lượng dầu mỡ rò rỉ lớn.

Cần có giải pháp bảo vệ môi trường bền vững

Riêng việc xử lý thải trong chăn nuôi trâu, bò, hiện chỉ có Công ty TNHH Phú Lâm sử dụng hầm bioga; toàn bộ mô hình chăn nuôi gia cầm thả vườn, đồi quy mô nhỏ không xử lý thải. Ngoài ra hiện tình trạng ô nhiễm môi trường từ nguồn thải ở các lò giết mổ gia súc, gia cầm đã ở mức nghiêm trọng. Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh, toàn tỉnh đang có trên 50 điểm giết mổ song chỉ có 4 điểm giết mổ tập trung có đầu tư hệ thống xử lý thải đạt chuẩn…Hiện tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh là 46.664 con trâu, 25.263 con bò, 423.793 con lợn và 3,45 triệu con gia cầm; tổng lượng xả thải của các đàn khoảng 1.927 tấn chất thải rắn/ngày đêm, chưa kể lượng nước tiểu. Điều đáng nói, đến 90% mô hình chăn nuôi của tỉnh đều ở dạng nông hộ (18.000 hộ), trong đó mới có khoảng trên 9.000 hộ có đầu tư hầm bioga để xử lý thải, số còn lại xử lý bằng cách ủ để bón ruộng hoặc xả thẳng ra môi trường, chảy tràn khi có mưa, đi vào đất, nước. Ngay việc xử lý thải ở số hộ có sử dụng hầm bioga cũng không đạt chuẩn, bởi diện tích hầm quá nhỏ so với quy mô nuôi nên không thể lưu giữ, xử lý lượng thải sau 30-40 ngày mới đưa ra môi trường như theo quy định.

Theo ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, giải pháp bền vững nhất để bảo vệ môi trường sản xuất nông nghiệp là chuyển đổi lề lối canh tác thì hiện vẫn chưa đạt được kết quả như ý muốn. Tiêu biểu như việc thay thế thức ăn cá tạp bằng thức ăn công nghiệp và vật liệu phao xốp bằng những vật liệu thân thiện khác trong NTTS; xây dựng các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo đúng quy hoạch; đặc biệt là đẩy mạnh mô hình liên kết sản xuất hoặc sản xuất theo hướng công nghiệp để thu hẹp mô hình nông hộ… Thực tế giá trị kinh tế sản xuất theo quy mô tập trung, công nghiệp đạt cao hơn từ 10 – 70 lần sản xuất nhỏ lẻ tùy từng lĩnh vực. Trong khi đó hiện toàn tỉnh mới có khoảng trên 300 trang, gia trại, doanh nghiệp nông nghiệp có triển khai hoạt động sản xuất, chiếm phần rất nhỏ so với con số sản xuất nông hộ

Tuệ Lâm (theo baoquangninh)

Cập nhật thông tin chi tiết về Áp Dụng Sản Xuất Sạch Hơn Trong Công Nghiệp: Bài Toán Chưa Lời Giải trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!