Xu Hướng 2/2024 # An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

An Giang: Ngăn ngừa, kiểm soát sinh vật ngoại lai xậm hại sản xuất nông nghiệp

13/05/2024

an-giang-ngan-ngua-kiem-soat-sinh-vat-ngoai-lai-xam-hai-san-xuat-nong-nghiep

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang 8 loài ngoại lai xâm hại được ghi nhận là: Bọ cánh cứng hại lá dừa, ốc bươu vàng, trinh nữ thân gỗ hay mai dương và 5 loài ngoại lai xâm hại nhưng chưa đánh giá mức độ gây hại gồm: Cá tỳ bà lớn (cá dọn bể lớn), rùa tai đỏ, trinh nữ móc, cây ngũ sắc (bông Ổi) và  bèo tây (bèo lục bình, bèo Nhật Bản).

Ốc bưu vàng – một trong các sinh vật ngoại lai xậm hại sản xuất nông nghiệp

Báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho thấy: Tính đến tháng 5/2024, diện tích trồng dừa của tỉnh bị bọ cánh cứng hại lá dừa xâm hại ở từ mức nhẹ đến mức trung bình là 226 ha, xuất hiện hầu hết các huyện, thị, thành phố.  Ốc bươu vàng là loài gây hại cho hệ sinh thái nông nghiệp; từ năm 2010 đến nay, tình hình lây nhiễm ốc bươu vàng trên đồng ruộng tại An Giang dao động từ 5.737 – 20.902 ha. 

Riêng cây trinh nữ thân gỗ lần đầu tiên An Giang ghi nhận sự xuất hiện vào năm 1970 tại một số huyện biên giới giáp nước bạn Campuchia như: An Phú, Tân Châu….Đến nay, cây trinh nữ thân gỗ đã hiện diện trên toàn tỉnh. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy diện tích bị loài xâm hại khoảng 175 ha tập trung tại các huyện: An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Thị xã Tân Châu và Thành phố Châu Đốc. Tại khu Bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư ghi nhận sự xâm lấn của loài này với diện tích khoảng 2 ha. 

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cũng ghi nhân các loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại gồm: Cây keo giậu, cây lược vàng, tôm hùm nước ngọt, cây cứt lợn (cỏ cứt heo), cá rô phi đen…

 Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh, thời gian qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh thực hiện phòng ngừa, diệt trừ loài ngoại lai xâm hại trong phạm vi khu bảo vệ cảnh quan rừng tràm Trà Sư. Bên cạnh đó, hàng năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp cùng Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh lồng ghép việc kiểm soát, phát hiện, ngăn ngừa, loài ngoại lai xâm hại vào hoạt động tuần tra bảo vệ rừng tại các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, khu bảo vệ cảnh quan thuộc phạm vi quản lý. 

Từ năm 2024 đến nay, ngành nông nghiệp đã tổ chức 1.016 lớp tập huấn, 872 hội thảo khuyến nông, khuyến ngư, chương trình nông nghiệp,…cho khoảng 55.000 lượt bà con nông dân trong đó lồng ghép tuyên truyền về loài ngoại lai xâm hại hiện diện trên địa bàn tỉnh, tác hại và biện pháp phòng trừ; phát 15.300 tài liệu bướm; 12 pa – nô tuyên truyền. Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh cũng đã chỉ đạo các Phòng Văn hóa – Thông tin định hướng cho các đài truyền thanh huyện và cơ sở phổ biến trên hệ thống loa truyền thanh kiến thức về loài ngoại lai xâm hại. Nhiều địa phương, đơn vị đã tổ chức các hoạt động cụ thể để cô lập, diệt trừ tập trung vào một số loài có nguy cơ lây lan, phát tán cao: Trinh nữ thân gỗ, ốc bươu vàng, bọ cánh cứng hại lá dừa,…

Ông Tô Hoàng Môn, Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho biết: Tỉnh đã xây dựng và triển khai kế hoạch phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ tại một số địa phương; lựa chọn khu vực bị cây cây trinh nữ thân gỗ xâm lấn trên diện rộng để tổ chức ra quân diệt trừ kết hợp các biện pháp thủ công, cơ giới và hóa học như: Chặt hạ cây lớn vào đầu năm (sau thời vụ xuống giống Đông xuân) để tận dụng làm chất đốt; phun thuốc hóa học theo hướng dẫn để diệt trừ cây non vào giữa mùa mưa (khoảng tháng 5 – 6); chặt hạ lần cuối vào tháng 8 (trước khi lũ về) đối với các khu đất ngập nước; vận động nông dân đưa đất đai bị cây cây trinh nữ thân gỗ xâm nhiễm vào gieo trồng các loại cây nông nghiệp khác có sức cạnh tranh cao hơn. 

“Đối với ốc bươu vàng ngành nông nghiệp tỉnh cũng đã phát động nhiều đợt ra quân thực hiện các biện pháp diệt trừ như: Thả vịt vào ruộng lúa trước khi cấy hoặc sau khi thu hoạch để ăn ốc non; làm thức ăn cho một số loài thủy sản; đặt cắm cọc dọc theo bờ ruộng bắt ổ trứng; sử dụng một số loại thuốc hóa học diệt trừ; tổ chức tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm cho nông dân về các biện pháp tổng hợp trong phòng trừ”, ông Môn thông tin.

Riêng đối với bọ cánh cứng hại lá dừa, từ năm 2005 đến nay ngành nông nghiệp đã tổ chức chiến dịch phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa và tiến hành phóng thích ong ký sinh và đến thời điểm hiện tại ong kí sinh vẫn tồn tại trong môi trường tự nhiên góp phần khống chế sự phát triển của quần thể bọ. 

Đánh giá kết quả thực hiện quản lý loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh An Giang cho rằng: Được sự quan tâm, chỉ đạo các cấp từ Trung ương và sự quan tâm, chỉ đạo UBND tỉnh An Giang nên các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã tích cực vào cuộc thực hiện nhiều giải pháp ngăn ngừa, kiểm soát, diệt trừ loài ngoại lai xâm hại góp phần hạn chế tác hại do việc lây lan, phát tán của chúng đến các hệ sinh thái, bảo tồn loài bản địa, bảo vệ hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh được bền vững. Đặc biệt, người dân hiện cũng đã nhận thức rõ về tác hại của loài ngoại lai xâm hại đã góp phần chung tay, góp sức kiểm soát, tiêu diệt loài ngoại lai xâm hại trên địa bàn tỉnh./.

Quang Minh

Mục Tiêu Và Chức Năng Của Lập Kế Hoạch Sản Xuất Và Kiểm Soát Sản Xuất

Kiểm soát sản xuất là chủ yếu tham gia trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất và là hệ quả tất yếu để lập kế hoạch sản xuất ngắn hạn hoặc lập kế hoạch. Kiểm soát sản xuất bao gồm bắt đầu sản xuất, dispatching mục, tiến triển và cuối cùng báo cáo kế hoạch sản xuất. Nói chung, kế hoạch sản xuất có nghĩa là kế hoạch của công việc được thực hiện và kiểm soát sản xuất đề cập đến làm việc hoặc thực hiện các kế hoạch.

1.1. Mục tiêu của kế hoạch sản xuất và kiểm soát

Quy hoạch các cơ sở sản xuất theo cách thức tốt nhất có thể cùng với quy hoạch hệ thống thích hợp của hoạt động sản xuất.

Cung cấp người đàn ông, máy móc, vật liệu đúng số lượng, chất lượng và cũng có thể cung cấp cho họ vào đúng thời điểm tạo thành một yếu tố rất quan trọng. Thông tin, về những khó khăn hoặc các vị trí khó xử khác nhau để cắt sau đó, để quản lý trước.

Chức năng hierarchic, có chân trời thời gian tức là khoảng thời gian cho một số chức năng khác nhau trong năm, trong khi đối với một số chức năng, đó là trong vài tuần hoặc vài ngày, vì vậy các chức năng của kế hoạch sản xuất và kiểm soát có thể được tóm tắt thành hai loại, đó là như sau:

2. Kiểm soát hoạt động sản xuất

Vì vậy, nó có thể được nói rằng kiểm soát hoạt động sản xuất chịu trách nhiệm cho việc chuyển đổi các kế hoạch thành hành động bằng cách cung cấp một hướng dẫn cần thiết thích hợp.

Giúp trong việc lập kế hoạch.

Giúp trong việc thực hiện kế hoạch.

Đảm bảo sẵn có của các nguồn tài nguyên.

Phát hành các đơn đặt hàng cửa hàng.

Lịch bắt đầu và ngày hoàn thành của công việc.

Thu thập thông tin cần thiết cho các cửa hàng để.

Giúp đỡ trong việc kiểm soát các hoạt động.

Thiết lập ưu tiên thứ tự.

Duy trì ưu tiên thứ tự.

Kiểm tra hiệu suất thực tế.

Màn hình và WIP điều khiển, thời gian giao hàng.

Báo cáo công tác trung tâm biểu diễn.

Quản lý các nhiệm vụ cửa hàng sản xuất sàn.

Điều khiển dòng chảy công việc sản xuất.

Nhằm mục đích đạt được các kế hoạch sản xuất.

Chuẩn bị tiến độ.

Infinite tải a. Giả định khả năng hữu hạn tại bất kỳ trung tâm làm việc. b. Khả năng hạn chế là không được xem xét. c. Jobs được nạp vào trung tâm làm việc mà không xem xét đầy đủ năng lực.

Chuyển tiếp lập kế hoạch a. Các công việc được lên kế hoạch ngay sau khi nhận được một đơn đặt hàng. b. Ngày hoàn thành được phát triển bởi lịch trình của các công việc tại các trung tâm làm việc. c. Ngày hết hạn được bỏ qua trong khi lập kế hoạch. d. Ngày phát hành là 1.

Ngược Lập kế hoạch a. Công việc được lên kế hoạch từ cuối để bắt đầu. b. Hoạt động cuối cùng được lên kế hoạch đầu tiên kể từ ngày đáo hạn. c. Lập kế hoạch tiếp tục được thực hiện trong chuỗi các hoạt động cho đến khi tất cả các hoạt động của các công việc được lên kế hoạch. d. Ngày phát hành là thứ 2.

Quản Lý Sinh Vật Ngoại Lai Để Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Tại Vườn Quốc G

Sinh vật NLXH trước hết là những loài không có nguồn gốc bản địa. Khi được đưa đến một môi trường mới, một loài ngoại lai có thể không thích nghi được với điều kiện sống và do đó không tồn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp khác, do thiếu vắng các đối thủ cạnh tranh và thiên địch như ở quê nhà cùng với điều kiện sống thuận lợi, các loài này có điều kiện sinh sôi, nảy nở rất nhanh và đến một lúc nào đó phá vỡ cân bằng sinh thái bản địa và vượt khỏi tầm kiểm soát của con người. Lúc này nó trở thành loài ngoại lai xâm hại.

Theo thống kê không đầy đủ, chúng ta có tới 94 loài sinh vật NLXH. Trong số đó, có một số loài đã gây ảnh hưởng nặng nề tới môi trường và kinh tế của người nông dân trên khắp cả nước. Có thể kể đến các loài NLXH đã thành đại dịch, như: ốc bươu vàng, cây trinh nữ thân gỗ (cây mai dương), bèo lục bình Nhật Bản…

Vườn quốc gia Xuân Sơn được giao quản lý với tổng diện tích 15.048 ha trên địa bàn 06 xã thuộc huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Vùng đệm của Vườn hiện có 29 cộng đồng thôn (bản) đang sinh sống, với 12.559 người, 2.908 hộ, trong đó vùng đệm trong có 9 thôn/bản với 794 hộ. Do vậy, trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như sinh hoạt hàng ngày vô tình đã để các loài ngoại lai xâm hại phát tán trên địa bàn. Trước thực trạng và nguy cơ xâm hại của các loài sinh vật ngoại lại có nguy cơ ảnh hưởng đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn. Năm 2024, Vườn quốc gia Xuân Sơn đã phối hợp với Sở tài nguyên và Môi trường triển khai nhiệm vụ Điều tra phân bố của sinh vật ngoại lai xâm hại và đề xuất các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát nhằm bảo tồn đa dạng sinh học,bảo vệ môi trường tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

Trong quá trình triển khai thực hiện đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp điều tra, thu thập thông tin và đánh giá thực tế tại Vườn quốc gia Xuân Sơn đã ghi nhận xác định được 06 loài sinh vật ngoại lai xâm hại, trong đó 05 loài thực vật thuộc 04 bộ, 04 họ của 2 ngành thực vật và 01 loài động vật theo quy định tại thông tư 35/2024/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 28/12/2024 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về tiêu chí xác định và ban hành dạm mục loài ngoại lai xâm hại, cụ thể như sau:

Stt

Tên KH

Tên Việt Nam

Nguồn gốc

 

 

1

Eichhornia crassipes Mart Solms,1883

Cây Bèo lục bình

Nam mỹ

2

Mimosa pigra Linnaeus, 1758

Cây Mai dương

Nam Mỹ

3

Mimosa diplotricha Wright, 1869

Cây trinh nữ móc

Châu Mỹ

4

Agratum conyzoides Linaeus, 1758

Cây Cỏ hôi

Châu Mỹ

5

Chromoleana odorata Linaeus, 1758

Cây Cỏ lào

Châu Mỹ

6

Pomea canaliculata

Ốc bươu vàng

Châu mỹ,

Nam mỹ

Trong 6 loài tìm được đều có nguồn gốc từ châu Mỹ và có 3 loài có diện tích xâm hại cao với mật độ và phân bố trên diện rộng là Cỏ hôi, Cỏ lào, Ốc bươu vàng

            Dựa trên đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài thực vật NLXH cùng với mức độ nhận thức, hiểu biết, sự quan tâm của người dân đối với các loài sinh vật ngoại lai xâm hại, các tác giả đề xuất các giải pháp quản lý, phòng diệt cụ thể đối với các loài thực vật NLXH hiện đang phát triển trên diện rộng tại Vườn quốc gia Xuân Sơn.

Với những kết quả đạt được, làm cơ sở để thực hiện các biện pháp quản lý, giám sát và tuyên truyền cho cộng đồng người dân vùng đệm của Vườn quốc gia để kịp thời nhận biết và thực hiện các biện pháp phòng trừ kịp thời hạn chế các thiệt hại đối với sản xuất nông lâm nghiệp và góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Ảnh: Cây Mai dương – một loài sinh vật ngoại lai xâm hại tại VQG Xuân Sơn

                                                   Bài: Đinh Tấn Quyền – VQG Xuân Sơn

Biện Pháp Kiểm Soát An Toàn Thực Phẩm Trong Nông Nghiệp

Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật: Tập trung xây dựng và ban hành thể chế pháp luật, quy định phù hợp với điều kiện của đất nước. Nâng cao hiệu lực quản lí, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển.

Tổ chức sản xuất, tiêu thụ nông sản thực phẩm an toàn; kiểm soát chặt chẽ an toàn thực phẩm nhập khẩu: Mở rộng các mô hình sản xuất hiện đại, các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn các sản phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm chủ lực vùng ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ. Tăng cường kiểm tra chất lượng sản phẩm nhập khẩu.

Công tác thông tin, truyền thông về chất lượng, an toàn thực phẩm: Tăng cường phổ biến kiến thức, quyền lợi của người tiêu dùng và nghĩa vụ của người sản xuất. Ngoài ra tuyền truyền, giáo dục về tầm quan trọng của an toàn thực phẩm đến cuộc sống và sức khỏe của mỗi người.

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm: Tích cực thanh tra, giám sát tại các địa phương về vấn đề an toàn thực phẩm. Đồng thời, xử lý nghiêm khắc và triệt để buôn bán thực phẩm giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc, buôn lậu thực phẩm qua biên giới, việc giết mổ không đảm bảo an toàn thực phẩm và sử dụng bừa bãi chất cấm trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.

Tổ chức lực lượng, nâng cao năng lực: Đào tạo cán bộ quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông – lâm – thủy sản. Nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng trong tuyên truyền phổ biến pháp luật an toàn thực phẩm.

Theo Tổng cục thống kê, sáu tháng đầu cả nước xảy ra 36 vụ ngộ độc thực phẩm, 866 người bị ngộ độc, 5 trường hợp tử vong.

Năm 2024 được Tổng cục thống kê nhận định có nhiều khó khăn trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. Do đó, cần đẩy mạnh tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản để giảm thiểu tối đa số cơ sở sản xuất vi phạm.

Tại TP HCM, trong quý II năm 2024, Ban Quản lý an toàn thực phẩm đã kiểm tra 2.560 cơ sở, phát hiện 289 cơ sở vi phạm, tiến hành xử phạt 243 cơ sở với tổng số tiền là 3,1 tỉ đồng.

Còn tại Hà Nội, theo Ban chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm TP. Hà Nội, cũng trong quý II năm 2024 vừa qua, Ban chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm đã xử phạt 1.350 cơ sở không đảm bảo an toàn thực phẩm, phạt hành chính gần 4,9 tỷ đồng.

Kết quả giám sát tại các địa phương cho thấy, đã dần có sự chuyển biến và thay đổi trong việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở. Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại, hạn chế trong quản lý, giám sát và kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm nông – lâm – thủy sản.

Những hạn chế thể hiện trong công tác kiểm tra, giám sát, quản lí vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa đạt yêu cầu, chưa đầy đủ và thực sự nghiêm túc, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm cho tiêu dùng trong nước. Quy mô sản xuất còn mang tính chất nhỏ lẻ, hộ gia đình nên chưa đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Nhận thức yếu kém và cố tình vi phạm của một số tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh nông sản, thực phẩm. Vì thế đã để lại những tồn đọng ảnh hướng trực tiếp dẫn đến mất vệ sinh an toàn thực phẩm.

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

Việt Nam là nước có khí hậu nóng và ẩm nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đây cũng chính là điều kiện nảy sinh và phát triển sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng… Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học (PBHH) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia là biện pháp quan trọng và chủ yếu. Thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bất hợp lý trong trồng trọt cùng với việc không kiểm soát tình hình xả thải trong chăn nuôi hiện nay đang khiến môi trường ở khu vực nông thôn xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng.

Thực trạng chung của môi trường nông nghiệp.

Đề cập đến vấn đề này, ông Đinh Vũ Thanh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường, đã đưa ra nhận định trong “Hội nghị tổng kết công tác Bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2024 và định hướng giai đoạn 2024 – 2024” tại Hà Nội trong tháng 10/2024 vừa qua:

– Tình trạng sử dụng phân bón không hợp lý về chủng loại, liều lượng, thời gian và phương thức bón cho cây trồng đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đặc biệt, việc lạm dụng phân bón vô cơ trong thời gian gần đây khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và độ màu mỡ của đất giảm. Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn bao bì, vỏ hộp các loại và phần lớn không thu gom mà vứt bừa bãi ra đồng ruộng, kênh mương gây ô nhiễm môi trường trong vùng sản xuất nông nghiệp;

– Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng BVTV trong nông nghiệp có xu hướng gia tăng, thiếu kiểm soát. Thống kê của Cục BVTV cho thấy mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 70.000 đến hơn 116.000 tấn thành phẩm hóa chất BVTV. Ước tính lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ, tức là số lượng bao bì, vỏ đựng thuốc BVTV lên tới hàng chục ngàn tấn mỗi năm. Lượng bao bì này không được thu gom đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và là nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng.

– Trong lĩnh vực chăn nuôi, khối lượng chất thải rắn của vật nuôi trong năm 2014 hơn 82 triệu tấn, trong đó chỉ khoảng 60% số chất thải được xử lý, còn lại thường được xả trực tiếp ra môi trường. Hơn nữa, tình trạng giết mổ cũng không khả quan. Hiện cả nước tồn tại gần 35.000 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý, chỉ có 35,8% trong số đó được kiểm soát.

– Đối với lĩnh vực thủy sản, đa số vùng nuôi không có hệ thống xử lý nước và chất thải, việc kiểm soát môi trường nước và ao nuôi còn nhiều bất cập, dẫn đến lượng chất thải gây ô nhiễm từ ao nuôi rất lớn, hầu hết lượng chất thải này chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra ngoài, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường khu vực và ảnh hưởng ngược trở lại vùng nuôi trồng thủy sản.

Các biện pháp cần và có.

Với thực tế đó, để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, những năm qua các cấp, các ngành và các địa phương đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu như:

– Trước hết phải chú trọng đến việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng cách tăng cường các biện pháp tuyên truyền, vận động để người dân ý thức việc sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với bảo vệ môi trường, giúp nâng cao tính thích ứng với những biến đổi xấu của khí hậu;

– Để ngăn chặn, hạn chế việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch… nên sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ, phụ phẩm ngay tại ruộng đồng để trả lại lượng mùn, chất hữu cơ cho đất;

– Về chăn nuôi: phải thường xuyên phối hợp với các địa phương tổ chức, đánh giá hiện trạng, tác động của ô nhiễm môi trường đối với phát triển kinh tế – xã hội và có biện pháp xử lý các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm; Đồng thời vận động người dân đầu tư, xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học như: nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học; Sử dụng chế phẩm sinh học, công nghệ khí sinh học biogas nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và tăng khả năng phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, nâng cao hiệu quả chăn nuôi;

– Lĩnh vực thủy sản: nên tăng cường quản lý thức ăn, hóa chất, thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thủy sản; Hướng dẫn bà con thực hiện nghiêm túc quy trình nuôi, nhất là quy trình chuẩn bị ao nuôi; Tiến hành quan trắc mẫu nước, xét nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản, từ đó khuyến cáo người dân không nên thả nuôi mới vào thời điểm độ mặn của nước xuống thấp và không nên cấp nước trực tiếp vào ao nuôi, cần phải qua ao lắng để xử lý một số chỉ tiêu lý hóa như độ kiềm, độ trong, chỉ số NH4 – N… nhằm đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất khi đưa vào ao nuôi;

– Lĩnh vực thủy lợi: Điều tiết vận hành công trình phù hợp, đảm bảo tưới tiêu theo hướng ngăn mặn xả ô nhiễm; Đầu tư nâng cấp, duy tu, sửa chữa các công trình nhằm giảm thiểu nguồn nước bị ô nhiễm trên kênh, rạch; quan trắc mẫu nước để xác định diễn biến chất lượng nguồn nước, làm cơ sở cho việc vận hành công trình hiệu quả, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Lĩnh vực lâm nghiệp: Tập trung công tác quản lý bảo vệ rừng và nên phối kết hợp với các trường học, cơ quan và lực lượng vũ trang địa phương tích cực trồng cây góp phần nâng cao tỷ lệ phủ xanh cho thành phố;

Chúng ta phải luôn xác định bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn là một công việc lâu dài, phải làm công phu, bền bỉ, cần được thực hiện một cách đồng bộ giữa các cấp, các ngành, phối hợp chặt chẽ với người dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến.

Hy vọng những giải pháp bảo vệ môi trường nêu trên sẽ góp phần cải thiện chất lượng môi trường cuộc sống, cũng như chất lượng môi trường trong nông nghiệp nông thôn, giúp diện mạo nông thôn cả nước ngày càng trong sạch, tạo nền tảng vững chắc cho ngành nông nghiệp, từ đó góp phần làm cho môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp.

Minh Khuê

Sản Xuất Táo Vietgap: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp

HTX Cam Thành Nam đang đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu cho quả táo. Đây cũng là bước đệm vững chắc giúp đầu ra cho sản phẩm đặc trưng của địa phương vươn xa.

Trồng táo theo quy trình VietGAP

Người trồng táo nơi đây vẫn có lãi nếu táo được bán ra ở mức 8.000-10.000 đồng/kg, nông dân trồng khoảng 10.000m2 táo có thể lãi trên dưới 120 triệu đồng/vụ. Tuy nhiên, do giá táo khá bấp bênh, có năm chỉ còn 3.000-4.000 đồng/kg nên nhiều gia đình bị thua lỗ, không thể duy trì diện tích. Đó là còn chưa kể đến việc táo bị sâu bệnh, hoặc chết do thiếu nước.

Trước thực tế này, HTX ra đời và định hướng người dân tập trung sản xuất theo quy trình an toàn VietGAP.

Các thành viên đều đầu tư hệ thống tưới nước tiết kiệm và lưới để che côn trùng. Tất cả các khâu từ giống táo, quy trình tưới, bón phân, phun thuốc trừ sâu đều phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt.

Theo các thành viên, đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm giúp người trồng táo không tốn công sức mà nước lại thấm, lâu khô khiến vườn táo lúc nào cũng có nước. Chỉ cần tưới nước khoảng 3 giờ liên tục thì vườn táo ướt 3-4 ngày, rất thích hợp với vùng khô hạn như Cam Thành Nam.

Ngoài việc dùng lưới, các thành viên còn dùng các loại bẫy thủ công và bẫy có bả sinh học để bắt côn trùng, nhờ đó tình trạng ruồi vàng đục quả được giải quyết.

Áp dụng quy trình VietGAP chính là cách quản lý và sản xuất nông sản đảm bảo an toàn ở tất cả các khâu từ chuẩn bị làm đất đến bảo quản sau thu hoạch. Để đạt được chứng nhận, HTX phải bảo đảm được 4 tiêu chuẩn cơ bản là: kỹ thuật sản xuất, an toàn thực phẩm, môi trường và truy nguyên nguồn gốc.

Do vậy, sản phẩm đưa ra thị trường không chỉ an toàn về chất lượng mà còn có khả năng truy nguyên nguồn gốc thông qua mã điện tử.

Hiện, sản lượng táo của HTX tăng 10-20% (đạt 60-70 tấn/ha) so với phương pháp trồng cũ. Quả táo cũng đạt tiêu chuẩn về mẫu mã: quả to đều, ngọt, không bị sâu, nám…

Nếu như trước đây, táo chủ yếu bán cho thương lái thì nay đã được các siêu thị, cửa hàng nông sản sạch, các đơn vị sự nghiệp đến đăng ký thu mua. Táo được sơ chế, đóng hộp, dán tem nhãn và có mã QR trước khi xuất ra thị trường.

Nâng chất lượng môi trường

Trước đây, tình trạng ruồi vàng đục quả trở thành vấn nạn và người dân không biết cách nào để giải quyết. Các hộ dân chỉ mua thuốc diệt ruồi về phun, thậm chí phun thuốc cũng không thể tiêu diệt triệt để nên vừa ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, vừa làm hại đến môi trường sản xuất.

Tuy nhiên, khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, thay vì dùng tiền mua thuốc bảo vệ thực vật, các thành viên quyết định mua lưới bao giàn táo vừa tránh được ruồi vàng và các loại côn trùng xâm nhập, vừa giúp đảm bảo sức khỏe, bảo vệ môi trường vì không còn phải xịt thuốc, đáp ứng được các tiêu chuẩn sản xuất sạch nên giá táo bán vì thế cũng cao hơn.

Ông Hồ Văn Niệm, thành viên HTX, cho biết việc sử dụng lưới che chắn côn trùng bao quanh vườn táo đem lại rất nhiều ưu điểm như: Lưới giúp che chắn không cho côn trùng, đặc biệt là ruồi vàng đục quả xâm nhập, hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật nên sản phẩm sản xuất an toàn.

Ngoài ra, màn lưới giúp cản tia mặt trời chiếu vào táo, bảo vệ trái bớt bị rám vỏ và sậm màu. Lưới còn có tác dụng che bớt sương muối, gió bấc làm thui lá, gẫy cành, mưa gió gây rụng quả. Từ khi đi vào hoạt động HTX đã tăng cường tập huấn, hướng dẫn các hộ sử dụng thuốc sinh học phòng, trừ sâu bệnh cho cây; tăng cường bón phân hữu cơ thay phân bón vô cơ, bảo đảm sản phẩm an toàn, bảo vệ môi trường, chống độc cho đất.

Tuy sản xuất tại vùng có khí hậu khô nóng nhưng đây cũng là điều kiện thuận lợi để HTX Cam Thành Nam ứng dụng và kết hợp các công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững và đặc biệt đây là một trong các giải pháp bảo vệ môi trường trong nông nghiệp hiệu quả nhất hiện nay.

Như Yến

Phương thức sản xuất thân thiện môi trường, ứng dụng hiệu quả khoa học – kỹ thuật đang giúp HTX cam bù Trường Mai (xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, …

Thay vì bán sản phẩm thô, HTX Hương Ngàn (xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) chú trọng chiết xuất tinh dầu từ các loại cây dược liệu, …

Cập nhật thông tin chi tiết về An Giang: Ngăn Ngừa, Kiểm Soát Sinh Vật Ngoại Lai Xậm Hại Sản Xuất Nông Nghiệp trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!