Xu Hướng 2/2024 # Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(thitruongtaichinhtiente.vn) – Một cơ quan xếp hạng đáng tin cậy và có uy tín là một trong những mảnh ghép còn thiếu trong thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam. Việc thu hút một cơ quan xếp hạng toàn cầu đầu tư vào một trong những cơ quan xếp hạng địa phương hiện tại hoặc trong tương lai là rất quan trọng cho sự tín nhiệm đó.

Nhận định trên vừa được Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa đưa ra trong báo cáo “Tiềm năng đầu tư nước ngoài vào cơ quan xếp hạng tín dụng trong nước tại Việt Nam – The Potential for Foreign Investment in a Domestic Credit rating Agency in Viet Nam”.

Báo cáo được ADB xây dựng nhằm đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường trái phiếu Việt Nam từ quan điểm của một cơ quan xếp hạng tín nhiệm toàn cầu. Báo cáo dự định sẽ giúp cơ quan xếp hạng tín nhiệm toàn cầu cân nhắc việc tham gia thị trường, lý tưởng là hợp tác với các bên tham gia khác trên thị trường.

Theo ADB, Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực. So với các quốc gia châu Á khác, Việt Nam bị ảnh hưởng ít nhất từ dịch bệnh do vi-rút corona gây ra.

Mặc dù dự kiến có sự suy giảm tăng trưởng kinh tế ngắn hạn trong năm 2024, song nền kinh tế Việt Nam được kỳ vọng sẽ quay trở lại quỹ đạo tăng trưởng trong năm 2024 và giữ vững vị thế là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất của khu vực.

ADB cho biết, thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng kể từ năm 2024 và lượng phát hành trị giá 12,8 tỷ USD trong năm 2024 đã lớn hơn so với con số của Indonesia và Philippines.

Trái phiếu phát hành riêng lẻ chiếm tới 94% tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong năm 2024 và 2024 sau khi có sự nới lỏng các quy định về công bố thông tin và điều kiện phát hành.

“Tuy nhiên, việc thiếu văn hóa xếp hạng tín nhiệm đặt ra những rủi ro đáng kể đối với thị trường trái phiếu và lĩnh vực tài chính, đặc biệt khi các nhà đầu tư riêng lẻ hiện đang sở hữu gần một phần tư tổng lượng trái phiếu phát hành”, ADB nhận định.

Cũng theo ADB, việc thiếu nhu cầu xếp hạng tín nhiệm trong quá khứ luôn là nhân tố hạn chế đối với các cơ quan xếp hạng tín nhiệm trong nước ở Việt Nam. Hai công ty xếp hạng tín nhiệm trong nước đã được Bộ Tài cính cấp phép (công ty thứ nhất trong năm 2024 và công ty thứ hai vào tháng 3 năm 2024). Tuy nhiên, cả hai đơn vị này đều chưa hoạt động.

Luật Chứng khoán mới ban hành năm 2024 yêu cầu một số trái phiếu phát hành ra công chúng (nhưng không phải phát hành riêng lẻ) phải được xếp hạng bởi một đơn vị xếp hạng tín nhiệm trong nước sẽ có hiệu lực kể từ tháng 1/2024.

Hơn nữa, dự thảo các quy định hướng dẫn thực hiện Luật Chứng khoán mới chỉ đòi hỏi rất ít, nếu không muốn nói là không đòi hỏi, trái phiếu phát hành phải được xếp hạng, khác với các thị trường ASEAN khác nơi quy định bắt buộc phải xếp hạng tín nhiệm đối với các trái phiếu phát hành ra công chúng – và thường là cả phát hành riêng lẻ – trong suốt những năm hình thành trái phiếu.

Các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đang mong muốn nhìn thấy sự tăng trưởng có trật tự của một thị trường trái phiếu lành mạnh và đã bày tỏ cam kết mạnh mẽ đối với các cơ quan xếp hạng tín nhiệm trong nước.

Sự tăng trưởng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp từ năm 2024 là bền vững và bối cảnh kinh doanh cho một công ty xếp hạng tín nhiệm toàn cầu gia nhập thị trường Việt Nam thông qua một thỏa thuận dịch vụ kỹ thuật là rất hấp dẫn. Một thỏa thuận dịch vụ kỹ thuật sẽ mang lại việc gia nhập thị trường với rủi ro thấp.

ADB cho rằng, các bên gia nhập thị trường Việt Nam sẽ mong muốn được chứng kiến sự hợp tác của các thể chế địa phương với một công ty xếp hạng toàn cầu. Hơn nữa, hợp tác kỹ thuật giữa một công ty xếp hạng tín nhiệm toàn cầu và một đơn vị xếp hạng tín nhiệm trong nước sẽ giúp nâng cao uy tín của đơn vị xếp hạng trong nước, dẫn tới sự chấp nhận rộng rãi hơn của thị trường và sử dụng xếp hạng của công ty xếp hạng trong nước nhiều hơn.

“Càng nhiều trái phiếu được xếp hạng – cho dù thông qua những thay đổi trong văn hóa hay quy định về xếp hạng – bối cảnh kinh doanh sẽ càng rõ ràng hơn để một công ty xếp hạng quốc tế vượt ra ngoài khuôn khổ thỏa thuận kỹ thuật và đầu tư cổ phần vào một công ty xếp hạng tín nhiệm trong nước đã được thành lập hoặc một đơn vị mới”, ADB nhấn mạnh.

Luận Văn Đề Tài Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Việt Nam Và Những Giải Pháp Phát Triển

Năm 2012 được coi là một trong những năm kinh tế Thế Giới gặp nhiều khó khăn. Cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu tiếp tục sa lầy mà lối thoát thì chưa thực sự rõ ràng, các nền kinh tế lớn trên Thế Giới cũng đều không mấy khả quan. Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng của khủng hoảng trên, kinh tế khó khăn, lạm phát và thất nghiệp tăng cao Đồng thời hệ thống Ngân hàng trong nước cũng gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian này. Tình trạng nợ xấu vẫn chưa có biện pháp giải quyết, đồng thời những khó khăn trong việc huy động vốn và sự mất cân đối kỳ hạn vốn khiến nhiều Ngân hàng không thể đáp ứng được nhu cầu vay vốn của nhiều DN. Mà năm 2013 theo dự đoán tiếp tục sẽ là năm khó khăn đối với cả nền kinh tế và hệ thống Ngân hàng. Do đó ngoài nguồn vốn vay từ các NHTM, các DN cần tìm cho mình những ngồn vốn thích hợp khác. Một trong những nguồn vốn mà DN có thể xem xét đến là huy động vốn qua kênh thị trường TPDN. Thị trường trái phiếu nói chung và TPDN nói riêng là một trong những kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế. Thực tế đã chứng minh, nhiều nước trên Thế giới đã rất thành công trong phát triển thị trường trái phiếu mà trọng tâm là thị trường TPDN. Ở Việt Nam, mặc dù trong những năm gần đây thì thị trường trái phiếu cũng đã có nững nét khởi sắc nhưng so sánh tương quan với các nước cùng trình độ phát triển trong khu vực và trên Thế giới thì thị trường TPDN Việt Nam vẫn chưa phát triển đúng tầm. Do đó em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam và những giải pháp phát triển”. Nội dung đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản của thị trường TPDN và thực trạng phát triển trong thời gian qua. Đồng thời trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn đã nêu, em xin đưa ra một số giải pháp hy vọng có thể giúp thị trường TPDN Việt Nam phát triển đúng tầm của mình. Kết cấu của đề tài gồm 3 phần:  Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường trái phiếu doanh nghiệp  Chương 2: Thực trạng thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam  Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Chuyên Đề:“Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Việt Nam”

Chuyên đề:“Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam”

1. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam/ Nguyễn Thị Phương Liên

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Những năm gần đây, thì trường TPCP Việt Nam đã đạt được những thành công nhất định nhưng cũng còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển thị trường TPCP Việt Nam giai đoạn 2010-2024 từ các nguồn thông tin, dữ liệu thứ cấp, bài viết chỉ ra một số hạn chế về chủng loại hàng hóa, phương thức giao dịch, cơ sở nhà đầu tư; làm rõ các nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển của thị trường như hệ thống thông tin thị trường, các điều kiện cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý… Từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp cho sự phát triển an toàn, hiệu quả của thị trường trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học Thương mại/ 2024, Số 103, Tr. 3-12

2. Giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam/ Phạm Thị Thanh Tâm, Đỗ Đức Minh

Tóm tắt: Trong cấu trúc của thị trường tài chính, thị trường trái phiếu là kênh dẫn vốn trung -dài hạn, hỗ trợ cho thị trường cổ phiếu và thị trường tín dụng ngân hàng. Thị trường trái phiếu cho phép huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và giảm nhu cầu vốn hóa vào hệ thống ngân hàng đặc biệt là vốn trung – dài hạn. Đối với thị trường trái phiếu Việt Nam, thị trường trái phiếu chính phủ phát triển mạnh trong giai đoạn vừa qua về quy mô, cấu trúc, cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát triển, quy mô còn nhỏ (đến 31/12/2024 chiếm 5,27 phần trăm GDP), thanh khoản thấp. Điều này tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp nói riêng bà sự phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam nói chung. Chính vì vậy, việc phát triển và hoàn thiện thị trường trái phiếu doanh nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu trong phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2024-2024, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp huy động vốn quan thị trường trái phiếu, đặc biệt là vốn trung – dài hạn, giảm bớt áp lực cho kênh tín dụng ngân hàng, phù hợp với xu hướng và thông lệ quốc tế.

Nguồn trích: Tạp chí Kinh tế Tài chính Việt Nam/ 2024, Số 4, Tr. 60-70

3. Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam/ Nguyễn Thị Thúy Hà

Tóm tắt: Là một bộ phận của thị trường tài chính, những năm qua, thị trường trái phiếu Việt Nam đã có những bước phát triển tương đối mạnh mẽ, đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội, cung cấp một lượng vốn lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cho đầu tư phát triển và các chương trình tín dụng chính sách mục tiêu của Nhà nước. Nếu như năm 2001, quy mô thị trường trái phiếu mới chỉ dừng ở mức 2,82 phần trăm GDP thì đến cuối năm 2012, con số này đã là 21,6 phần trăm GDP. Tuy vậy, nếu xét trên phương diện tổng thể, thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn đang tồn tại những hạn chế như: Quy mô và phạm vi của thị trường trái phiếu còn nhỏ, tính thanh khoản chưa cao, cấu trúc thị trường chưa hoàn chỉnh, hệ thống nhà đầu tư (đặc biệt các định chế đầu tư dài hạn) còn mỏng… Bài viết phân tích thực trạng thị trường trái phiếu Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển thị trường này nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển.

Nguồn trích: Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng/ 2024, Số 159, Tr. 50-54

4. Triển vọng thị trường trái phiếu Việt Nam năm 2024/ Trịnh Thị Vân Anh

Tóm tắt: Để phấn đấu đạt mục tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2024 -2024 là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đi đôi với đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững; nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, trong đó huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu giữ vai trò quan trọng.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý ngân quỹ quốc gia/ 2024, Số 1, Tr. 28-29

5. Phát hành trái phiếu chính phủ: Kết quả năm 2024 và triển vọng năm 2024/ Trịnh Thị Vân Anh

Tóm tắt: Năm 2024, KBNN đã hoàn thành nhiệm vụ huy động vốn cho NSNN theo Nghị quyết của Quốc hội giao, đạt được trên cả 5 tiêu chí về khối lượng huy động, kỳ hạn, lãi suất trái phiếu, phương thức, sản phẩm phát hành và cơ cấu nhà đầu tư. Năm 2024, được đánh giá là một năm hứa hẹn nhiều cơ hội để phát triển thị trường TPCP theo chiều sâu.

Nguồn trích: Tạp chí Quản lý ngân quỹ Quốc gia/ 2024, Số 01, Tr. 32-33

6. Phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam: Thực trạng và đánh giá/ Lê Thị Vân Anh

Tóm tắt: Tính đến năm 2024, Việt Nam đã trả qua 3 lần Chính phủ phát hành trái phiếu quốc tế thành công. Những lần phát hành này đã thiết lập điểm chuẩn cho trái phiếu Việt Nam trên thị trường quốc tế; mở đường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam trực tiếp huy động nguồn vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ; hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư. Việc nhiều nhà đầu tư lớn quốc tế tham gia mua trái phiếu Việt Nam là điều kiện tốt để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu khi giao dịch trên thị trường thứ cấp, tạo thuận lợi cho những lần phát hành tiếp theo.

Nguồn trích: Tạp chí Tài Chính/ 2024, Số 636, Tr. 46-47

7. Đồng bộ giải pháp thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển nhanh và bền vững/ Minh Khôi

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cả về thanh khoản, quy mô thị trường, cơ sở nhà đầu tư…tới đây, Bộ Tài chính sẽ triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường này phát triển nhanh và bền vững hơn.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

8. Phát triển hệ thống cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu Việt Nam/ Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tài chính

Tóm tắt: Để phát triển hệ thống cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, đồng thời tăng cường tính liên thông của thị trường tiền tệ với thị trường trái phiếu nhằm phát triển sâu rộng và bền vững thị trường này.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

9. Giải pháp đồng bộ phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam/ Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính)

Tóm tắt: Thị trường trái phiếu của Việt Nam đang ngày càng lớn mạnh và trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Để tận dụng tốt kênh dẫn vốn này đối với việc phát triển kinh tế đất nước, thời gian tới cần tiếp tục đề ra những giải pháp định hướng phát triển thị trường trái phiếu, góp phần phát triển thị trường vốn Việt Nam ổn định, bền vững.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

10. Một số giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp/ Nguyễn Thị Phương Dung

Tóm tắt: Mặc dù hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam đã phát triển khá đầy đủ, tiềm năng thị trường rất lớn nhưng thực tiễn hoạt động của thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn khiêm tốn (kết thúc năm 2024, quy mô thị trường chỉ chiếm 5,27% GDP). Để thị trường trái phiếu doanh nghiệp của nước ta phát triển, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho doanh nghiệp, cần triển khai nhiều giải pháp tích cực và đồng bộ.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

11. Thị trường trái phiếu chính phủ: Kỳ vọng tăng trưởng!/ Trần Thị Minh Hải

Tóm tắt: Mặc dù tình hình huy động vốn trái phiếu chính phủ 5 tháng đầu năm chưa như kỳ vọng, tuy nhiên, với ổn định kinh tế vĩ mô cùng nền tảng phát triển của thị trường trái phiếu trong những năm qua, mục tiêu đề ra trong năm 2024 vẫn có thể đạt được…Bài viết giới thiệu một số khó khăn và đưa ra nhiều kỳ vọng phát triển trong thời gian tới.

Nguồn trích: Tạp chí Điện tử Tài chính

12. Thị trường trái phiếu chính phủ kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển/ Phạm Nga

Tóm tắt: Sau 5 năm hoạt động (2009 – 2014), thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) đã trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, cung cấp công cụ chi bao phục vụ điều hành kinh tế vĩ mô, đồng thời góp phần cũng cố hình ảnh và độ tín nhiệm của Việt Nam trên thị trường tài chính quốc tế. Đánh giá này được Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà đưa ra tại Hội nghị tổng kết 5 năm hoạt động và phát triển của thị trường TPCP diễn ra ngày 23/9 tại Hà Nội.

Nguồn trích: Tạp chí Thuế Nhà nước/ 2014, Số 40, Tr. 10-11

Tổng hợp: Võ Hồng Thơ

Tổng Quan Về Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Việt Nam

Từ khóa: Thị trường trái phiếu, doanh nghiệp, Việt Nam.

1. Đặt vấn đề

Trong giai đoạn mới thành lập, thị trường trái phiếu Việt Nam phát triển khá khiêm tốn. Tới năm 2009, hệ thống giao dịch chuyên biệt của trái phiếu Chính phủ (TPCP) được đưa vào hoạt động tại ở Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), quy trình đấu thầu, thanh toán và bù trừ được thiết kế một cách đồng bộ và hệ thống. Năm 2013, HNX xây dựng đường cong lợi suất chuẩn của TPCP, là thước đo tham khảo quan trọng cho các hoạt động giao dịch trái phiếu.

Đồng thời, những biện pháp tích cực như: đầu tư cơ sở hạ tầng tin học, tái cấu trúc các đợt phát hành TPCP… đã khiến tốc độ tăng trưởng trung bình năm của thị trường trái phiếu Việt Nam giai đoạn 2011-2024 lên mức 31%/năm. Hiện nay, TPCP chiếm từ 85-87% thị trường trái phiếu, còn trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) chỉ chiếm từ 13-15% thị phần. Riêng năm 2024, thị trường TPDN có sự phát triển mạnh mẽ, khối lượng phát hành tại thị trường sơ cấp là 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần năm 2024 và cao hơn khối lượng phát hành của thị trường TPCP, tổng dư nợ TPDN đạt mức 474.500 tỷ đồng, tương đương 8,6% GDP (Biểu 1).

Do đó, việc thực hiện các nghiên cứu để đánh giá sự phát triển của thị trường TPDN ở Việt Nam là cần thiết để tạo tiền đề cho các chính sách nhằm phát triển một thị trường TPDN ổn định và bền vững.

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan được thực hiện trên cơ sở thu thập và phân tích số liệu thống kê về thị trường trái phiếu nói chung và thị trường TPDN nói riêng. Đối tượng nghiên cứu là các cấu phần của thị trường TPDN gồm: thực trạng các hoạt động chính trên thị trường, quy mô thị trường, hoạt động công bố thông tin, cơ cấu kỳ hạn và cấu trúc nhà đầu tư,… Từ đó, đánh giá thực trạng của thị trường nhằm đưa ra các hàm ý chính sách cho sự phát triển thị trường trong thời gian tới.

3. Kết quả tổng hợp thực trạng phát triển thị trường TPDN Việt Nam 3.1. Hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Hoạt động phát hành trên thị trường TPDN hiện nay tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Chứng khoán 2006 và Nghị định số 163/2024/NĐ-CP. Theo Nghị định số 163/2024, các công ty có thể lựa chọn chào bán trái phiếu theo một trong các hình thức sau: (i) Đấu thầu phát hành trái phiếu; (ii) Bảo lãnh phát hành trái phiếu; (iii) Đại lý phát hành trái phiếu; (iv) Bán trực tiếp cho nhà đầu tư. Hiện nay, hầu hết các đợt phát hành TPDN được thực hiện thông qua hình thức bảo lãnh phát hành, chủ yếu là phát hành riêng lẻ.

Hình thức bán trực tiếp tới các nhà đầu tư chỉ áp dụng cho các tổ chức tín dụng và các TCTD này đồng thời phải tuân thủ các quy định của NHNN áp dụng cho việc phát hành TPDN. Ngoài ra, bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào khi phát hành TPDN cũng phải báo cáo kế hoạch phát hành lên đơn vị/bộ chủ quản để xin phê duyệt. Bên cạnh đó, những công ty muốn phát hành trái phiếu quốc tế đều phải báo cáo NHNN vì SBV được Chính phủ giao trách nhiệm kiểm soát trần giới hạn vay nợ nước ngoài hàng năm của quốc gia.

Sự ra đời của Nghị định số 163/2024/NĐ-CP với những quy định gia tăng tính minh bạch về thông tin phát hành và sự tham gia tích cực của các định chế trung gian phân phối đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thị trường TPDN. Bên cạnh đó, các chính sách của NHNN nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng cũng khiến các doanh nghiệp chuyển từ kênh huy động tín dụng ngân hàng sang kênh phát hành trái phiếu. Sự gia tăng cả hai phía cung và cầu đối với TPDN giúp thị trường TPDN phát triển sôi động hơn bao giờ hết (Biểu 2).

Trong giai đoạn 2010-2024 quy mô phát hành của thị trường TPDN Việt Nam tương đối ổn định, với khối lượng phát hành TPDN trung bình hàng năm dao động trong khoảng 30.000 – 35.000 tỷ đồng, trong đó khoảng 99% TPDN phát hành theo hình thức riêng lẻ. Quy mô phát hành TPDN có sự tăng đột biến từ năm 2024, đạt mức gần 130.000 tỷ đồng (tăng 203% so với năm 2024). Đặc biệt, năm 2024 ghi nhận con số đạt mức kỷ lục là 224.000 tỷ đồng phát hành TPDN riêng lẻ (tăng 94,5% so với năm 2024) và chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2024, quy mô phát hành TPDN riêng lẻ đạt mức gần 130.000 tỷ đồng 1.

3.2. Các yêu cầu về công bố thông tin TPDN

Với mục tiêu minh bạch hóa thông tin, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, đã có nhiều quy định về việc công bố thông tin đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu được ban hành. Cụ thể, doanh nghiệp phải xây dựng phương án phát hành và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, phê duyệt. Phương án xây dựng phải bao gồm các nội dung cơ bản như: Thông tin chung về doanh nghiệp; Mục đích phát hành và phương án sử dụng vốn; Thông tin về trái phiếu dự kiến phát hành; Phương thức phát hành; Kế hoạch và phương thức thanh toán;… Doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm công bố thông tin trước và sau phát hành; công bố thông tin định kỳ, thông tin bất thường; công bố thông tin của doanh nghiệp về trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm theo chứng quyền, mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu.

Hoạt động giao dịch trái phiếu doanh nghiệp

Tổng dư nợ của thị trường TPDN Việt Nam vẫn ở mức khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực. Theo báo cáo của VCBS, khối lượng trái phiếu doanh nghiệp hiện hành tăng mạnh từ 5,27% năm 2024 và 6,19% GDP năm 2024 lên 7,86% GDP năm 2024. Trong 8 tháng đầu năm 2024, với quy mô thị trường tăng lên mức khoảng 10,2% GDP (Biểu 3).

Cơ cấu kỳ hạn phát hành của TPDN có một sự tập trung ở các kỳ hạn 3-5 năm và trên 5 năm. Hai kỳ hạn này chiếm tỷ trọng khá lớn, đặc biệt cho thấy nhu cầu của tổ chức phát hành về công cụ nợ kỳ hạn dài này (Bảng 1).

Trong giai đoạn này, các NHTM là nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường, với tỷ lệ nắm giữ TPDN cao hơn 70%. Tiếp theo là công ty chứng khoán (15,21%), quỹ đầu tư (2,57%) và công ty bảo hiểm (0,8%). Khác với TPCP, TPDN được các NHTM xếp vào nhóm tín dụng và thị trường do vậy mang nhiều bản chất của thị trường tín dụng hơn là thị trường vốn.

Do cơ chế giao dịch thứ cấp thị trường TPDN còn thiếu và chưa minh bạch, Quỹ Bảo hiểm xã hội của Việt Nam với lượng vốn dồi dào chỉ được phép đầu tư vào TPCP (chiếm 85% tổng tài sản) 2 và chưa tham gia vào thị trường TPDN. Bên cạnh đó, mặc dù các văn bản hướng dẫn thành lập các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện đã ra đời (Thông tư 115/2013, Thông tư 130/2024, Nghị định 88/2024 và Thông tư 86/2024), nhưng cho tới nay mới chỉ có 6 công ty bảo hiểm thành lập quỹ hưu trí tự nguyện, với tổng số vốn đầu tư vào TPDN rất khiêm tốn trong giai đoạn 2014-2024 (tỷ trọng đầu tư vào TPDN có bảo lãnh ở mức 1-2%, vào cổ phiếu và TPDN không có bảo lãnh dưới 5% tổng tài sản) 3. (Bảng 2).

Cơ sở hạ tầng của thị trường TPDN

Chất lượng cơ sở hạ tầng được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhằm phát triển thị trường TPDN hiệu quả và có tính thanh khoản cao. Hiện nay, thị trường TPDN Việt Nam đã có Hệ thống giao dịch thỏa thuận OTC; Hệ thống giao dịch tại Sở và Hệ thống thanh toán. Tuy nhiên, so với thông lệ quốc tế và thị trường TPCP trong nước, thị trường TPDN Việt Nam còn thiếu vắng hệ thống đăng ký phát hành/cấp phép phát hành trực tuyến; Hệ thống đấu thầu tiêu chuẩn; Hệ thống cấp mã ISIN trực tuyến; Hệ thống niêm yết thông tin TP; Hệ thống thông tin định giá TP; Hệ thống thông tin cấp quốc giá về TPDN.

4. Đánh giá và kết luận về phát triển thị trường TPDN Việt Nam

Nếu giai đoạn 2010-2024, thị trường TPDN Việt Nam chỉ đạt quy mô dưới 4%GDP thì từ 2024 tới nay, quy mô vốn hóa thị trường đã tăng dần và đạt mức 8,6% năm 2024. Tuy nhiên, con số này vẫn nhỏ hơn nhiều mức bình quân của khu vực Asean +3 là 21,7% GDP cho thấy tiềm năng phát triển của thị trường TPDN Việt Nam là rất lớn. Lý do là quy mô nền kinh tế Việt Nam so với khu vực Asean +3 khá tương đương và có nhiều tiềm năng tăng trưởng trong những năm tới.

Vì thế công cụ trái phiếu với khả năng đảm bảo an toàn đầu tư cao sẽ giúp nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn hơn. Mặt khác, do hệ thống ngân hàng trong nước đang chịu nhiều sức ép do hệ số nợ khó đòi cao, sự phát triển mạnh của thị trường TPDN sẽ tạo ra một kênh huy động vốn mới dài hạn, ổn định cho các công ty Việt Nam.

+ Sự vắng mặt của các tổ chức định mức tín nhiệm (ĐMTN) và các dịch vụ ĐMTN ở thị trường Việt Nam đã kìm hãm sự phát triển thị trường TPDN. Các đợt phát hành TPDN hiện nay vẫn mang bản chất của thị trường tín dụng hơn là thị trường đầu tư công cụ nợ; dẫn đến tình trạng thanh khoản không cao. Nghị định số 88/2014 do BTC ban hành là khung pháp lý đầu tiên cho việc thành lập các tổ chức ĐMTN ở Việt Nam, nhưng do thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích nên cho tới nay vẫn chưa có tổ chức ĐMTN nào chính thức hoạt động ở Việt Nam. Bên cạnh đó, cả các công ty phát hành và các nhà đầu tư chưa có văn hóa trả phí cho việc dùng các thông tin, dịch vụ do các tổ chức ĐMTN cung cấp.

+ Sự thống trị tuyệt đối của các đợt phát hành riêng lẻ, cùng với thị trường giao dịch phi tập trung thiếu tính thanh khoản khiến tính minh bạch về thông tin TPDN còn kém. Gần 99% TPDN tại Việt Nam được phát hành theo hình thức riêng lẻ, cao hơn rất nhiều so với kinh nghiệm quốc tế (chiếm khoảng 12% tại Mỹ; 10% tại Đức, từ 0.4-15% tại Hàn Quốc). Theo Nghị định số 163/2024 các doanh nghiệp phát hành TPDN sẽ phải đáp ứng các yêu cầu chặt chẽ hơn về công bố thông tin trước và sau đợt phát hành. Tuy nhiên, các yêu cầu chuẩn hóa và chặt chẽ hơn về công bố thông tin thường áp dụng đối với các đợt phát hành ra công chúng. Bộ Tài chính hiện nay là cơ quan được báo cáo đầy đủ về hoạt động phát hành TPDN, tuy nhiên chưa có hệ thống hay cơ chế ủy quyền đại lý thông tin để cung cấp ra thị trường. Thiếu minh bạch thông tin trong các đợt phát hành TPDN sẽ khiến cho các nhà phát hành và nhà đầu tư tiềm năng lo ngại việc gia tăng chi phí và rủi ro.

+ Các sản phẩm của thị trường khá đơn giản, chưa đa dạng hóa và chưa đủ hấp dẫn với nhà đầu tư, chủ yếu tập trung vào phân mảng trung hạn, trả lãi coupon cố định hoặc thả nổi. Hiện chưa có sản phẩm trái phiếu gắn với chỉ số lạm phát; các trái phiếu kèm quyền mua/chứng quyền đã được phát hành nhưng chưa nhiều.

+ Các NHTM trong nước hiện vẫn là nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường TPDN, trong khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp dài hạn đóng vai trò khá khiêm tốn. Một đặc điểm chính của trung gian tài chính dựa trên hệ thống ngân hàng ở châu Á và ở Việt Nam là các ngân hàng thường là những người mua TPDN chính trong giai đoạn đầu của thị trường. Một mặt, với việc NHNN siết chặt các quy định đối với các NHTM trong nước nhằm quản lý rủi ro và áp dụng cơ chế quản lý vốn theo Basel II, các ngân hàng trong nước sẽ chịu sự kiểm soát chặt chẽ từ NHNN trong việc đầu tư vào TPDN, làm giảm cầu với TPDN. Mặt khác, để đáp ứng các tiêu chí yêu cầu về vốn của Basel II nhiều NHTM sẽ phải đẩy mạnh kế hoạch phát hành trái phiếu dài hạn để tái cơ cấu vốn. Vì vậy, họ sẽ đẩy mạnh nguồn cung trên thị trường này. Trong bối cảnh đó, việc tăng cường sự có mặt của các định chế đầu tư chuyên nghiệp là cần thiết để phát triển thị trường TPDN.

+ Việc tổ chức giao dịch đối với TPDN đang phân tán thành TPDN được niêm yết và trái phiếu giao dịch OTC. TPDN có thể được niêm yết trên các Sở tuy nhiên quy mô còn rất ít, hầu như không đáng kể. Hệ thống thanh toán cho TPDN hầu như chưa hình thành. Giao dịch TPDN trên thị trường OTC chủ yếu là giao dịch trực tiếp, TPDN không niêm yết do vậy các phương thức thanh toán chuẩn DVP chưa được áp dụng. Hệ thống mã ISIN quốc gia chưa áp dụng cho TPDN.

+ Các hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ cho sự hoạt động của thị trường TPDN còn thiếu. Chất lượng và sự đồng bộ của một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh (hỗ trợ cho việc đăng ký cấp phép/trực tuyến; cấp mã ISIN cho các nhà phát hành trái phiếu; hệ thống định giá/yết giá TP trực tuyến; hệ thống thông tin TPDN tập trung…) là một trong những yếu tố cốt lõi cho sự phát triển thành công của thị trường này và để hỗ trợ cho cả hai bên nhà phát hành và nhà đầu tư tiềm năng.

+ Nhận thức còn hạn chế của các công ty phát hành trái phiếu, các định chế đầu tư, trung gian và các nhà đầu tư về tầm quan trọng của thị trường TPDN. Một trong những lý do dẫn tới việc công tác đào tạo, tuyên truyền về trái phiếu chưa được chú trọng nhiều là vì đây được coi là thị trường chủ yếu dành cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp và các định chế đầu tư, những người vốn được coi là có đủ năng lực hành nghề trên thị trường này. Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức đào tạo hành nghề cần chú trọng công tác đào tạo nhà đầu tư về thị trường TPDN.

Bài viết là một phần của đề tài nghiên cứu cấp nhà nước “Luận cứ khoa học cho việc hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ của doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng của Việt Nam”, thuộc Chương trình KX01/16-20.

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN: 1Tổng hợp số liệu từ báo cáo của Bộ Tài chính, VCBS và HNX năm 2024, 6 tháng đầu năm 2024. 2Báo cáo của Quỹ BHXH 2024. 3Bài “Thực trạng hoạt động của các quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam” – ThS. Trần Nguyễn Minh Hải, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 18/2024. TÀI LIỆU THAM KHẢO

Asian Development Bank (2012). ASEAN + 3 bond market guide Vietnam

Ayako Yamaguchi, Institute for International Monetary Affairs (IIMA) (2012). Domestic Bond Markets in the Asian region.

Hannah Levinger, Deutsche Bank (2014). What’s behind recent trends in Asian corporate bond markets?

Hiroshi Yoshikawa, Nomura Institute of Capital Markets Research (2024). The reforms and developments of Japan’s Corporate Bond market.

Hyun Suk, Korea Capital Market Institute (2014). ABMF and the standardization of the Asian Corporate Bond Market.

IOSCO Research Department. (2014) Corporate Bond Markets: A Global Perspective. Working paper Volume 1 April 2014.

IOSCO (2011). Development of the corporate bond markets in the emerging markets.

Satoshi Shimizu, Japan Research Institute (2008). Corporate bond markets of Korea, Malaysia and Thailand.

Yoshitomi, Masaru and Sayuri Shirai, Designing a Fiancial market structure in Post-crisis Asia – How to develop corporate bond markets. ADB Institute Working Paper 15 March 2001.

VCBS, Báo cáo thị trường TPDN 2024.

HNX, Đề án phát triển thị trường TPDN Việt Nam, 2024.

Nguyen Thi Thanh Huong, Nomura Journal of Asian Capital Markets 2024, “The overview of Vietnam securities market – 16 years of establishment and development”.

OVERVIEW ABOUT THE DEVELOPMENT OF CORPORATE BOND MARKET IN VIETNAMAssoc. Prof. PhD. NGUYEN THI MINH HUE

Lecturer, School of Banking – Finance, National Economics University

NGUYEN THI THANH HUONG

The Securities Research And Training Center State Securities Commission of Vietnam

ABSTRACT:

Vietnam’s corporate bond market has been progressing in the past two years. This has provided many opportunities for Vietnamese firms, but it has also raised challenges to Vietnam’s policy makers when the Vietnamese infrastructure has not met the requirement of the market development. Research on corporate bond market in Viet show the situation of critical issues of the market such as information publishment, market size, bond maturity, investor structure, ect. From there, the article reviews and provides policy implication for developing Vietnam’s corporate bond market.

Keywords: Bond market, business, Vietnam.

Giải Pháp Phát Triển Thị Trường Trái Phiếu Chính Phủ Tại Việt Nam Hiện Nay

TÓM TẮT: Trong xu thế hội nhập và mở cửa nền kinh tế, phát triển thị trường trái phiếu để huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) đang được các quốc gia quan tâm bởi những tác động tích cực của nó đến nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP có ảnh hưởng không nhỏ đến việc khuyến khích tiết kiệm và thu hút nguồn vốn đầu tư trong toàn xã hội, góp phần điều chỉnh quan hệ cung cầu tiền tệ. Thị trường TPCP còn là một công cụ hiệu quả để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Phát triển thị trường TPCP về các sản phẩm trái phiếu mới; về hệ thống nhà đầu tư, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân hàng thương mại, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; đẩy mạnh sự minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa công nghệ thông tin là những vấn đề cần thiết hiện nay.

TỪ KHÓA: Trái phiếu Chính phủ, thị trường trái phiếu Chính phủ.

ABSTRACT: There has been a trend of integration and opening up in the economy, the development of the bond market to raise capital through the issuance of government bonds is being considered because of its positive effects on the economy. The development of the government bond market has had a considerable impact on encouraging savings and attracting capital investment in the society, contributing to the adjustment of monetary and supply-side relations. The government bond market is also an effective tool to regulate the macro economy. Developing new bond products; system of investors, gradually reducing dependence on commercial banks, attracting foreign investors; promoting information transparency, continuing to modernize information technology are the necessary issues in the market now.

KEYWORDS: Government bonds, government bond markets.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra mua bán các loại TPCP nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn đầu tư của các chủ thể trong xã hội. TPCP phát hành có nhiều kỳ hạn khác nhau, khối lượng phát hành và giao dịch mỗi lần tương đối lớn nên có tác động không nhỏ đến t

hị trường tài chính và đến nền kinh tế. Bên cạnh đó, cùng với việc phát hành TPCP của các cơ quan chính phủ, các cơ quan địa phương góp phần làm phong phú khả năng huy động vốn cho đầu tư phát triển và tạo hàng hóa cho thị trường vốn. Phát triển thị trường TPCP là một trong những giải pháp quan trọng để thu hút các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu phát triển của quốc gia và là công cụ để điều chỉnh nền kinh tế cần được quan tâm. Trong bài báo, tác giả sẽ đề xuất được các giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP để khai thác những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế.

2. NỘI DUNG 2.1. TPCP và thị trường TPCP * Lợi ích của TPCP

Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.

TPCP là trái phiếu được phát hành bởi chính phủ một quốc gia. Những trái phiếu này được phát hành nhằm bù đắp sự thiếu hụt ngân sách nhà nước, để xây dựng các công trình công cộng hoặc để giải quyết những khó khăn về tài chính, ổn định nền kinh tế vĩ mô.

Đầu tư TPCP sẽ mang lại cho người đầu tư một khoản lãi suất ổn định và không phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Lãi suất có thể thấp hơn tiền gửi ngân hàng nhưng độ an toàn cao, ít rủi ro do TPCP được đảm bảo chắc chắn bởi uy tín của chính phủ và tài sản của quốc gia. TPCP có tính thanh khoản cao. Người đầu tư có khả năng cầm cố và chuyển nhượng TPCP để chuyển thành tiền trên thị trường thứ cấp một cách dễ dàng. Lợi ích này vượt trội hơn hẳn so với đầu tư trên thị trường bất động sản. TPCP là công cụ an toàn, khối lượng phát hành lớn, có nhiều ưu đãi, do đó TPCP là kênh đầu tư quan trọng của những trung gian tài chính có nguồn tiền lớn, đòi hỏi tính an toàn trong đầu tư như các công ty bảo hiểm nhân thọ, quỹ hưu trí tự nguyện…

* Các yếu tố cơ bản của TPCP

TPCP cũng như các loại trái phiếu khác, có 4 yếu tố cơ bản cấu thành: Mệnh giá, lãi suất, kỳ hạn và giá phát hành.

Mệnh giá: Là giá trị ghi trên trái phiếu, nó xác định tổng số tiền gốc mà trái chủ được nhận cho tới hết thời hạn của trái phiếu. Mệnh giá là căn cứ để xác định số lợi tức tiền vay mà người phát hành phải trả.

Lãi suất: Là yếu tố xác định quyền lợi về thu nhập định kỳ cho người sở hữu trái phiếu (chủ nợ). Lãi suất thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát hành công bố trong đợt phát hành. Lãi suất được xác định theo tỷ lệ phần trăm với mệnh giá của trái phiếu. Lãi suất trái phiếu là một trong những yếu tố cơ bản của trái phiếu, là yếu tố quan tâm của nhà đầu tư trái phiếu. Lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời hạn trái phiếu, chỉ số lạm phát và những biến động của thị trường.

Kỳ hạn: Là độ dài thời gian cho đến khi người phát hành trái phiếu trả lại toàn bộ tiền gốc cho trái chủ và nhận lại trái phiếu. Ngày hoàn trả lại tiền gốc trái phiếu lần cuối gọi là ngày đáo hạn. Ngày đáo hạn còn là cơ sở quan trọng để xác định các kỳ trả lãi.

Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành. Thông thường, giá phát hành được phát hành theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá. Tùy theo tình hình của người phát hành và tình hình thị trường mà giá phát hành được ấn định một cách hợp lý. Giá phát hành có 3 trường hợp: Giá phát hành thấp hơn mệnh giá, giá phát hành ngang bằng mệnh giá, giá phát hành lớn hơn mệnh giá.

* Thị trường TPCP

Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường chứng khoán nói riêng và của thị trường tài chính nói chung. Thị trường TPCP là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi TPCP, việc này diễn ra cả trên thị trường phát hành (thị trường sơ cấp) và thị trường giao dịch (thị trường thứ cấp). TPCP là một loại chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành. Vì vậy, thị trường TPCP được coi là thị trường nợ.

Thị trường sơ cấp là thị trường để thực hiện việc phát hành mới các loại TPCP. Thị trường sơ cấp là nơi cung cấp vốn, thông qua hoạt động của thị trường này, những luồng tiền nhàn rỗi trong dân chúng và các tổ chức kinh tế – xã hội có thể chuyển được thành vốn đầu tư dài hạn cho người phát hành chứng khoán. Thị trường này hoạt động không liên tục, chỉ hoạt động khi có đợt phát hành trái phiếu mới.

Thị trường thứ cấp là nơi mua bán các loại trái phiếu đã phát hành trước đó. Hoạt động của thị trường thứ cấp tạo ra khả năng dễ dàng, thuận tiện chuyển đổi trái phiếu thành tiền. Trên thị trường này diễn ra việc mua bán TPCP giữa các nhà đầu tư, tiền thu được từ việc bán trái phiếu không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán trái phiếu nhường lại quyền sở hữu trái phiếu cho nhà đầu tư khác.

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; nếu không có thị trường sơ cấp thì không có hàng hóa lưu thông trên thị trường thứ cấp; nếu không có thị trường sơ cấp thì thị trường thứ cấp khó có thể hoạt động hiệu quả và phát triển.

2.2. Thực trạng thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

Hiện nay tại Việt Nam, các nhà đầu tư mua bán TPCP trên hai thị trường truyền thống: Thị trường sơ cấp (mua trái phiếu trong đợt phát hành lần đầu) và thị trường thứ cấp (việc mua bán trái phiếu của những người đang nắm giữ).

Theo số liệu thống kê được công bố trên trang chúng tôi tháng 01/2024, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã tổ chức 12 phiên đấu thầu, huy động được tổng cộng 19365 tỷ đồng trái phiếu, tăng 63.3% so với tháng 12/2024. Tất cả trái phiếu trúng thầu trong tháng 01/2024 đều do Kho bạc Nhà nước phát hành với tỷ lệ giá trị trúng thầu so với giá trị gọi thầu đạt 97.3%. Khối lượng đặt thầu của tháng 01 cao gấp 4.2 lần khối lượng gọi thầu. Theo đó, lãi suất trúng thầu của trái phiếu kỳ hạn 5 năm là 4.30%/năm, 7 năm là 4.35%/năm, 10 năm trong khoảng 4.38 – 5.15%/năm, 15 năm trong khoảng 4.50 – 5.20%/năm, 20 năm là 5.20%/năm, 30 năm là 5.40%/năm. So với cuối năm 2024, lãi suất trúng thầu của trái phiếu Kho bạc Nhà nước giảm trên tất cả các kỳ hạn, theo đó kỳ hạn 5 năm giảm 0.22%/năm, 10 năm giảm 0.27%/năm, 20 năm giảm 0.82%/năm, 30 năm giảm 0.70%/năm.

Trên thị trường TPCP thứ cấp, tháng 01/2024, tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch thông thường (outright) đạt hơn 1.06 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, tăng 4.3% về giá trị so với tháng 12/2024. Tổng khối lượng giao dịch TPCP theo phương thức giao dịch mua bán lại (repos) đạt hơn 1.15 tỷ trái phiếu, tương đương với giá trị giao dịch đạt hơn 118 nghìn tỷ đồng, giảm 2.6% về giá trị so với tháng 12/2024. Giá trị giao dịch mua outright của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) đạt hơn 8.9 nghìn tỷ đồng, giá trị giao dịch bán outright của NĐTNN đạt hơn 8.1 nghìn tỷ đồng. Giá trị giao dịch mua repos của NĐTNN đạt hơn 220 tỷ đồng, giá trị giao dịch bán repos của NĐTNN đạt hơn 247 tỷ đồng. Nhìn lại hoạt động của thị trường TPCP năm 2024 có thể thấy những điểm mạnh sau đây:

Về khung khổ pháp lý: Trong năm 2024, khung khổ pháp lý về phát triển thị trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng đã tiếp tục được hoàn thiện từ cấp nghị định đến thông tư hướng dẫn. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định 1911/QĐ-TTg năm 2024 lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2024 – 2024, tầm nhìn đến năm 2030. Hiện nay, việc điều chỉnh thị trường TPCP thực hiện theo quy định tại Nghị định số 01/2011/NĐ-CP, Thông tư số 111/2024/TT-BTC hướng dẫn về phát hành TPCP, Thông tư số 234/2012/TT-BTC hướng dẫn giao dịch TPCP, Thông tư số 150/2011/TT-BTC ngày 9/11/2011 về hướng dẫn hoán đổi TPCP, Thông tư liên tịch số 92/2024/TTLT-BTC-NHNN ngày 27/6/2024 hướng dẫn phát hành tín phiếu kho bạc qua Ngân hàng Nhà nước. Các văn bản pháp lý hướng dẫn đã quy định rõ về quy trình thủ tục phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch TPCP nhằm tăng tính công khai minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư tham gia trên thị trường.

Về tổ chức thị trường: Trong giai đoạn đầu của thị trường, khi thị trường chứng khoán chưa phát triển và sự tham gia của nhà đầu tư có tổ chức còn hạn chế, Bộ Tài chính chủ yếu phát hành trực tiếp TPCP cho người dân theo phương thức bán lẻ nhưng khối lượng phát hành thấp.

Khi thị trường chứng khoán đã phát triển ở mức độ nhất định và đã hình thành nhiều nhà đầu tư có tổ chức chuyên nghiệp, Bộ Tài chính đã chuyển dần phát hành TPCP trực tiếp cho người dân theo phương thức bán lẻ sang phát hành TPCP cho các nhà đầu tư có tổ chức theo phương thức đấu thầu. Đặc biệt năm 2009, Sàn Giao dịch chứng khoán được thành lập, TPCP được tổ chức đấu thầu và niêm yết, giao dịch tập trung qua sàn giao dịch để tăng tính thanh khoản của thị trường; đăng ký lưu ký tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, Bộ Tài chính đã hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin trên thị trường để đảm bảo hoạt động phát hành và giao dịch trái phiếu diễn ra thông suốt; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết trái phiếu tạo thanh khoản trên thị trường. Trong giai đoạn này, việc huy động vốn TPCP đã đạt hiệu quả cao hơn so với giai đoạn trước đây.

Về cơ cấu nhà đầu tư: Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường tập trung chủ yếu là các ngân hàng thương mại nắm giữ khoảng 77% khối lượng TPCP. Các nhà đầu tư khác (công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài…) nắm giữ khoảng 23% khối lượng TPCP. Tuy nhiên thời gian qua, Bộ Tài chính đã thực hiện đầy đủ các giải pháp để phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường để giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài.

Về tổ chức trung gian tài chính: Từ năm 2012, theo quy định của Nghị định số 01/2011/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 17/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành TPCP tại thị trường trong nước, đã hình thành hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với quyền lợi, nghĩa vụ cơ bản như khối lượng mua TPCP tối thiểu, cam kết niêm yết giá chào mua chào bán… Hiện nay, hệ thống thành viên đấu thầu của Việt Nam gồm có 24 thành viên với 18 ngân hàng thương mại, 6 công ty chứng khoán. Bộ Tài chính tiếp tục phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường với nền tảng là các thành viên đấu thầu TPCP hiện nay với đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi tương tự như các nước trên thế giới.

Về khối lượng: Trong năm 2024, Kho bạc Nhà nước đã thành công trong việc phát hành trái phiếu dài hạn 20 năm, 30 năm với lợi suất trúng thầu giảm sâu. Kho bạc Nhà nước đã huy động được 182462 tỷ đồng trái phiếu. Nếu như các năm trước, Kho bạc Nhà nước hoặc là giữ nguyên, hoặc là điều chỉnh tăng kế hoạch phát hành thì năm 2024 lại điều chỉnh giảm kế hoạch phát hành từ mức 183.4 nghìn tỷ đồng xuống còn 169.3 nghìn tỷ đồng, vào tháng 11/2024. Đây là một dịch chuyển hết sức tích cực, đặc biệt trong bối cảnh mối lo về nợ công gia tăng nhanh trong những năm gần đây.

Về phương thức phát hành: Toàn bộ khối lượng trái phiếu phát hành ra thị trường trong năm 2024 thực hiện theo phương thức đấu thầu qua Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (đối với trái phiếu) và Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (đối với tín phiếu). Vì vậy, kế hoạch, lịch biểu, thông tin về đợt phát hành, kết quả phát hành, thanh toán TPCP được công khai minh bạch tới tất cả các nhà đầu tư.

2.3. Một số giải pháp phát triển thị trường TPCP tại Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở thực trạng và sự cần thiết về phát triển thị trường TPCP như trên, tác giả đã đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP như sau:

Nhóm thứ nhất: Hoàn thiện cơ chế chính sách, khuôn khổ pháp lý

– Tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý để đảm bảo phù hợp với sự phát triển của thị trường trái phiếu và thông lệ quốc tế;

– Đẩy mạnh minh bạch hóa thông tin, tiếp tục hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin thông qua xây dựng trang thông tin điện tử chuyên biệt cho thị trường trái phiếu để rút ngắn quy trình từ đấu thầu đến giao dịch trái phiếu nhằm tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp;

– Tập trung phát triển và hoàn thiện hệ thống chỉ báo thị trường, đặc biệt là các chỉ báo về đường cong lợi suất, chỉ số trái phiếu. Riêng với mục tiêu thu hút nhà đầu tư nước ngoài, việc hoàn thiện các chỉ báo định lượng này có ý nghĩa rất quan trọng.

Nhóm giải pháp thứ hai: Đa dạng hóa sản phẩm và sự hỗ trợ nhà đầu tư khi họ tham gia thị trường

– Tạo dựng niềm tin lâu dài và ổn định cho nhà đầu tư. Trên thị trường TPCP, Chính phủ là người đi vay và người cho vay chính là các nhà đầu tư (trong nước và quốc tế). Do vậy, Chính phủ cần tiếp tục kiên định, đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc nâng cao chất lượng nền kinh tế nói chung và hoạt động đầu tư công nói riêng, tạo lập sự ổn định của kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn TPCP, qua đó nâng cao uy tín, xếp hạng tín nhiệm của Chính phủ trong nước cũng như trên trường quốc tế;

– Phát triển hệ thống nhà đầu tư dài hạn trên thị trường như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm…, giảm dần sự phụ thuộc vào hệ thống các ngân hàng thương mại và xây dựng lộ trình thu hút nhà đầu tư nước ngoài;

– Phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cơ sở hệ thống thành viên đấu thầu TPCP với các nghĩa vụ và quyền lợi đầy đủ tương tự như các nước trên thế giới;

Phát triển các sản phẩm trái phiếu mới trên thị trường cũng như các công cụ phòng ngừa rủi ro để thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước như xây dựng và phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh như hợp đồng kỳ hạn… để phòng ngừa rủi ro trên thị trường trái phiếu;

– Tạo lập kênh đối thoại thường xuyên với nhà đầu tư. Các hội nghị, hội thảo, đối thoại định kỳ được thực hiện hàng quý nhằm chuyển tải thông tin, định hướng chính sách, giới thiệu, quảng bá thị trường TPCP để chuyển tải thông tin tới nhà đầu tư tiềm năng cũng như nắm bắt nhu cầu, giải quyết vướng mắc kịp thời;

– Phát hành TPCP trên thị trường vốn quốc tế. Đề án phát hành TPCP ra thị trường vốn quốc tế đã được Chính phủ phê duyệt, Bộ Tài chính cần phối hợp tổ chức phát hành thành công.

3. KẾT LUẬN

Năm 2024, với việc chính sách tài khóa đã được kiểm soát chặt chẽ, tỷ lệ nợ công có xu hướng giảm nhẹ, thị trường TPCP phát triển mạnh mẽ. Năm 2024 tiếp tục được kỳ vọng là một năm phát triển mạnh mẽ của thị trường TPCP Việt Nam trên cơ sở môi trường vĩ mô ổn định và kỳ vọng về khả năng kết hợp hiệu quả, linh hoạt và nhịp nhàng hơn trong điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Phát triển thị trường TPCP nhằm ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo nguồn vốn cho ngân sách nhà nước, tác động mạnh mẽ đến thị trường vốn, là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả của các nhà đầu tư. Với những lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế, các giải pháp nhằm phát triển thị trường trái phiếu luôn và cần được quan tâm, chú trọng o

Tài liệu tham khảo

[1]. TS. Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình thị trường chứng khoán, NXB. Tài chính.

[2]. PGS. TS. Vũ Văn Ninh (2024), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB. Tài chính.

[3]. TS. Hoàng Văn Quỳnh (2009), Giáo trình Thị trường chứng khoán và đầu tư chứng khoán, NXB. Tài chính.

[4]. PGS. TS. Lê Văn Tề, TS. Nguyễn Văn Hà, TS. Nguyễn Đắc Sinh (2024), Thị trường chứng khoán tại Việt Nam, NXB. Thống kê.

Đồng Bộ Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Phát Triển Nhanh Và Bền Vững

Nhìn lại một số kết quả tích cực

Trong 6 tháng đầu năm, dù còn nhiều khó khăn, thách thức, thị trường trái phiếu tiếp tục gặt hái được một số kết quả tích cực. Cụ thể, đối với thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP), tính đến ngày 21/6/2024, Bộ Tài chính đã huy động được 102.673 tỷ đồng TPCP (không tính 7.000 tỷ đồng phát hành TPCP để nhận nợ với BHXH), bằng 33,4% kế hoạch năm.

Khối lượng trả nợ gốc 6 tháng đầu năm là 98.995 tỷ đồng, theo đó khối lượng huy động ròng (trừ trả nợ gốc) là 3.678 tỷ đồng. 100% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên, trong đó 92% khối lượng phát hành có kỳ hạn 10 năm trở lên. Kỳ hạn phát hành bình quân duy trì ở mức cao đạt 13,26 năm.

Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư là tổ chức tài chính phi ngân hàng tiếp tục tăng, đạt khoảng 53% (tăng 0,8% so với mức 52,2% tại thời điểm cuối năm 2024), tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 47%.

Lãi suất phát hành TPCP đã được điều hành phù hợp cung cầu của thị trường và diễn biến thị trường tiền tệ. Theo đó, lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,97% năm, tiếp tục duy trì ở mức thấp. Lãi suất phát hành thời điểm cuối tháng 6/2024 thấp hơn 0,2% – 0,5% so với thời điểm cuối năm 2024 ở tất cả các kỳ hạn.

Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường TPCP có sự cải thiện căn bản với vai trò ngày càng quan trọng của các tổ chức phi ngân hàng và giảm dần tỷ trọng nắm giữ TPCP của các ngân hàng thương mại. Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư là tổ chức tài chính phi ngân hàng tiếp tục tăng, đạt khoảng 53% (tăng 0,8% so với mức 52,2% tại thời điểm cuối năm 2024), tỷ lệ nắm giữ của các ngân hàng thương mại đạt khoảng 47%.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), trong 6 tháng đầu năm 2024, khối lượng TPDN phát hành đạt 89.483 tỷ đồng, bằng 134% so với cùng kỳ năm 2024.

Tính đến thời điểm 24/6/2024 dư nợ thị trường TPCN đạt 10,22% GDP năm 2024, tăng 19,2% so với cuối năm 2024 (8,6% GDP). Như vậy, quy mô thị trường TPDN đến nay đã vượt mục tiêu đề ra đến năm 2024 tại Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 14/8/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2024-2024 với mục tiêu dư nợ thị trường TPDN đạt 7% GDP vào năm 2024.

Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ lộ trình triển khai các sản phẩm chứng khoán trên TTCK giai đoạn 2024-2025, trong đó giới thiệu các sản phẩm HĐTL trên chỉ số mới (ngoài chỉ số VN30); Hợp đồng quyền chọn chỉ số; HĐTL/HĐQC cổ phiếu đơn lẻ… trong những năm tiếp theo. Vừa qua đã cho ra mắt hai sản phẩm mới đó là sản phẩm chứng quyền có đảm bảo và Hợp đồng tương lai TPCP.

“Nhận diện” hạn chế, thách thức

Bộ Tài chính nhận định, trong 6 tháng đầu năm, khối lượng phát hành TPCP mới chỉ đạt 33,4% kế hoạch năm, dẫn đến khối lượng huy động bị dồn vào 6 tháng cuối năm. Quy mô thị trường TPCP còn nhỏ, thanh khoản trên thị trường thứ cấp chưa ổn định, chịu ảnh hưởng, tác động mạnh của diễn biến trên thị trường tiền tệ. Trường hợp thị trường tiền tệ, ngoại hối diễn biến bất lợi, sẽ gây khó khăn cho ngân sách nhà nước trong công tác huy động vốn TPCP.

Trong khi đó, thanh khoản thị trường TPDN còn hạn chế, mặc dù đã có sự phát triển nhưng quy mô của thị trường TPDN còn nhỏ. Theo đó, các doanh nghiệp chủ yếu vay vốn tín dụng ngân hàng thay vì phát hành trái phiếu để huy động vốn.

Bên cạnh đó, cơ sở nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu cũng chưa đa dạng, thiếu vắng nhà đầu tư dài hạn có tiềm lực tài chính mạnh như các quỹ hưu trí, các quỹ đầu tư, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế…

Giải pháp đồng bộ thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển

Trong thời gian tới, để tiếp tục thúc đẩy thị trường trái phiếu phát triển, Bộ Tài chính sẽ tập trung triển khai đồng bộ một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Đối với thị trường TPCP:

Một là, tăng thanh khoản trên thị trường thông qua các giải pháp: (i) phát hành TPCP chuẩn để nhà tạo lập thị trường chào giá cam kết chắc chắn (ii) hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống giao dịch TPCP (ii) cải thiện hệ thống thông tin của thị trường, xây dựng chuyên trang trái phiếu bằng tiếng Anh (iii) phát triển hệ thống nhà tạo lập thị trường TPCP với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp (iv) rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến niêm yết, giao dịch TPCP.

Hai là, thực hiện các giải pháp đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư TPCP theo hướng phát triển nhà đầu tư dài hạn như BHXH, các doanh nghiệp bảo hiểm, hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện và quỹ đầu tư trái phiếu. Nghiên cứu đưa TPCP Việt Nam vào một số chỉ số trái phiếu Quốc tế có uy tín để thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài.

Bốn là, phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với NHNN để điều hành về khối lượng, kỳ hạn, lãi suất phù hợp với điều kiện thị trường, đảm bảo huy động được vốn cho NSNN với chi phí hợp lý, thúc đẩy phát triển thị trường trái phiếu.

Năm là, nghiên cứu, triển khai các sản phẩm mới theo lộ trình phát triển thị trường trái phiếu.

Đối với thị trường TPDN:

Một là, hoàn thiện khung pháp lý về phát hành TPDN. Theo đó, trình Quốc hội dự thảo Luật Chứng khoán sửa đổi, theo hướng (i) doanh nghiệp phát hành TPDN ra công chúng phải xếp hạng tín nhiệm để nâng cao tính công khai, minh bạch; (ii) gắn việc phát hành TPDN ra công chúng với niêm yết, giao dịch trên TTCK để nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu; (iii) TPDN phát hành riêng lẻ chỉ được phát hành, giao dịch giữa các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Hai là, phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ xếp hạng tín nhiệm trên thị trường TPDN.

Ba là phát triển cơ sở nhà đầu tư trên thị trường TPDN, bao gồm các định chế đầu tư chuyên nghiệp và cá nhân đầu tư chuyên nghiệp để đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư.

Bốn là, vận hành và nâng cấp chuyên trang thông tin tập trung về TPDN tại HNX để tăng cường tính công khai, minh bạch trong quá trình huy động vốn trái phiếu.

Năm là, đối với TPDN phát hành ra công chúng, rà soát để rút ngắn quá trình chấp thuận. Đối với việc niêm yết, giao dịch tại HNX, hoàn thiện cơ sở hạ tầng và hệ thống giao dịch trái phiếu để chuẩn hóa quy trình niêm yết, giao dịch, tăng tính thanh khoản của trái phiếu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Adb: Đề Xuất Giải Pháp Thúc Đẩy Thị Trường Trái Phiếu Doanh Nghiệp Tại Việt Nam trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!