Xu Hướng 2/2024 # 7 Phương Pháp Dịch Thuật Cơ Bản # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 7 Phương Pháp Dịch Thuật Cơ Bản được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dịch thuật thường được biết đến như là một quá trình chuyển nghĩa từ ngôn ngữ gốc (SL) sang ngôn ngữ dịch (TL). Trong việc chuyển nghĩa từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ dịch, người dịch cần một cách dịch hoặc một chiến lược dịch.

Học viện Tài Năng Sao Khuê xin giới thiệu cho bạn 7 phương pháp dịch thuật cơ bản mà các dịch giả không thể bỏ qua.

1. BORROWING TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH VAY MƯỢN) • Ví dụ: 

2. CALQUE TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH SAO PHỎNG) Sao phỏng là một loại dịch vay mượn đặt biệt, toàn bộ đơn vị cú pháp được vay mượn thế rồi các thành phần riêng lẻ của nó được dịch sát nghĩa.  Khi sử dụng phương pháp dịch sao phỏng, dịch giả có xu hướng tạo ra một từ mới trong ngôn ngữ đích nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc của ngôn ngữ nguồn. • Ví dụ:

3. LITERAL TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH NGUYÊN VĂN) Dịch nguyên văn là phương thức dịch từ đối từ (word for word translation), là sự thay thế cấu trúc cú pháp của ngôn ngữ gốc thường là câu hoặc mệnh đề bằng cú pháp đồng dạng hoặc gần như đồng dạng. Người dịch không cần phải tạo ra các thay đổi trừ các thay đổi mà chính ngữ pháp của ngôn ngữ dịch đòi hỏi. Phương thức này được Vinay và Darbelnet mô tả là phổ biến nhất giữa các ngôn ngữ có cùng hệ phả và văn hóa.  • Ví dụ:

4. TRANSPOSITION TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH CHUYỂN ĐỔI TỪ LOẠI) Chuyển đổi từ loại có nghĩa là thay thế một từ loại này bằng một từ loại khác mà không thay đổi nghĩa của thông điệp. Phương thức chuyển đổi từ loại không chỉ xảy ra giữa hai từ loại động từ và danh từ mà còn giữa các từ loại khác.  • Ví dụ:

5. MODULATION TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH BIẾN ĐIỆU) Phương pháp biến điệu có nghĩa là sự thay đổi trong thông điệp do có một sự thay đổi về quan điểm, tức là hiểu một điều gì đó theo một cách nhìn khác. Phương pháp này thích hợp khi dịch nguyên văn hoặc chuyển vị có được một câu dịch đúng ngữ pháp nhưng lại không tự nhiên trong ngôn ngữ dịch. Trong phương pháp biến điệu, ta có thể phân biệt biến điệu tự do / không bắt buộc với biến điệu cố định / bắt buộc. • Ví dụ:

6. EQUIVALANCE TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH TƯƠNG ĐƯƠNG)Phương pháp này dùng để chỉ những trường hợp khi hai ngôn ngữ cùng mô tả một tình huống nhưng với các phương tiện cấu trúc hoặc phong cách khác nhau.  • Ví dụ:

7. ADAPTATION TECHNIQUE (PHƯƠNG PHÁP DỊCH THOÁT Ý) Đây là phương pháp cuối cùng được dùng khi một tình huống trong văn hóa gốc không tồn tại trong văn hóa dịch vì vậy phải có một sở chỉ tương đương với văn hóa gốc trong văn hóa dịch. Phương pháp dịch thoát ý có thể được mô tả là một loại tương đương đặc biệt, tương đương tình huống. Đây là hình thức viết lại bản gốc ở ngôn ngữ dịch, chủ yếu được dùng cho việc dịch thơ, bài hát và kịch. • Ví dụ:

Đặc Trưng Của 7 Loại Hình Nghệ Thuật Cơ Bản

Theatre20.com tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của các tổ chức, cá nhân khác và yêu cầu, như đã đưa ra trong phần Điều khoản Sử dụng, rằng những người sử dụng trang web chúng tôi hoặc bất kỳ các trang web thành viên nào của chúng tôi (sau đây mỗi trang được gọi là Trang Web) cũng sẽ ứng xử hao hao. Chúc Bạn Đọc 1 Ngày Vui Vẻ!

2. Đặc trưng của 7 loại hình nghệ thuật cơ bản

Kiến trúc và trang trí là loại hình nghệ thuật xuất hiện đầu tiên trong lịch sử loài người, nó có mối quan hệ gắn bộ mặt thiết với nhau. Cả hai đều có ý nghĩa thực dụng rõ nét nhất là trong ngành nghề tinh thần.

Từ rất lâu các sản phẩm được tạo ra như một công trình kiến trúc từ nhà ở, đến thánh đường. Vì thế, trang trí như một bộ phận giúp các công trình kiến trúc trở thành một tuyệt tác nghệ thuật độc đáo.

Kiến trúc cho đến ngày nay vẫn là vấn đề của những cuộc tranh cãi, nhiều ý kiến cho rằng nó không thuộc về nghệ thuật. Về mặt chức năng, kiến trúc là thực dụng thỏa mãn nhu cầu vật chật của xã hội. Là vật trang trí bên trong nhà ở, nhà thờ, các công trình kiến trúc lớn. Không chỉ vậy, kiến trúc còn là bản chất thẩm mỹ, tác động đến tư tưởng tình cảm của con người.

Điêu khắc là một trong 7 loại hình nghệ thuật cơ bản. Điêu khắc thuộc loại hình nghệ thuật không gian, phản ánh hiện thực bằng khối không gian ba chiều có thể tích. Con người là đối tượng cơ bản gần như độc nhất của điêu khắc. Do hoàn cảnh, bối cách hoạt động của nhân vật thể hiện hầu như dựa vào diện mạo bên ngoài của con người.

Hội họa là nghệ thuật không gian mặt phẳng, ghi lại những khoảng khắc của hành động. Tuy nhiên, nó có khả năng thể hiện ý nghĩa của cử chỉ, phản ánh thế giới với mọi màu sắc phong phú. Một tác phẩm thể hiện sâu sắc về nhiều vấn đề trong cuộc sống chúng ta. Đó là sự mô tả uyển chuyển giữa các đường nét, màu sắc, ánh sáng và bóng tối.

Âm nhạc là loại hình nghệ thuật thời gian với các tiết tấu, nhịp điệu và âm vực. Sử dụng các công cụ và câu từ để thể hiện tâm tư tình cảm, tư tưởng mong muốn của con người. Cũng như hội họa khắc họa vấn đề cuộc sống, tình cảm, con người qua các nét vẽ thì âm nhạc lại thể hiện qua câu từ và âm thanh, nhịp điệu.

Văn chương giữ vị trí quan yếu trong hệ thống 7 loại hình nghệ thuật. Bởi văn chương chính là cơ sở thể hiện của nhiều loại hình nghệ thuật khác như sân khấu, âm nhạc, điện ảnh,… Văn chương là ngôn từ hay xác thực là ngôn ngữ của con người được xây dựng để phản ánh cuộc sống.

Sân khấu là nghệ thuật tổng hợp có lịch sử lâu đời nhất trong 7 loại hình nghệ thuật. Nó được kết hợp từ nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau, được thể hiện qua diễn xuất, hành động sân khấu, nhằm biểu thị tư tưởng, cái cốt của tác phẩm sân khấu. Diễn viên chính là người thể hiện ý độ của vở diễn, đóng vai trò quan yếu dẫn đến sự thành công hay thất bại của vỡ diễn.

Đặc trưng của 7 loại hình nghệ thuật cơ bản đã được lột tả qua bài viết trên. Như vậy chúng ta có thể thấy được nghệ thuật gắn kết với cuộc sống của con người. Và cũng là món ăn tinh thần lẫn vật chất không thể thiếu. Mang đến một cuộc sống tươi mới và tràn ngập niềm vui.

Một Số Phương Pháp Dịch Thuật Phổ Biến Nhất

Để việc dịch thuật được thuận lợi, người biên dịch cần nắm rõ một số phương pháp dịch phổ biến sau.

Một số phương pháp dịch thuật phổ biến

1. Phương pháp dịch giao tiếp Theo Newmark (1995), trong phương pháp dịch giao tiếp người dịch có quyền sửa hoặc cải thiện tính logic trong giao tiếp; thay thế những từ chưa tinh tế; không dịch những từ khó hiểu; loại bỏ những chỗ lặp lại; những chỗ còn mơ hồ chưa rõ ràng; hay làm rõ các biệt ngữ.

2. Phương pháp dịch chuyển Theo Newmark (1981), phương pháp dịch chuyển là quá trình chuyển từ gốc của ngôn ngữ nguồn sang ngôn ngữ đích và từ đó trở thành từ “vay mượn”. Nghĩa là, trong khi dịch người dịch phải quyết định liệu có chuyển hay không chuyển một từ mà không phổ biến ở ngôn ngữ đích. Nói chung, những sản phẩm văn hóa, những khái niệm nên được dịch chuyển để tôn trọng đặc thù văn hóa dân tộc của ngôn ngữ nguồn. Có hai cách sử dụng từ ‘vay mượn”. Thứ nhất, người dịch liên ngôn có thể sử dụng những từ vay mượn trực tiếp từ ngôn ngữ nguồn mà không cần giải thích. Chẳng hạn, email, fax, hotline, hot girl, photocopy, fast food…

Thứ hai, sử dụng từ “vay mượn” kèm theo lời giải thích. Một số từ vay mượn có khái niệm mới hoặc không phổ biến trong ngôn ngữ đích và vì vậy lời giải thích là cần thiết khi chúng xuất hiện lần đầu tiên. Chẳng hạn, từ supper- bữa ăn nhẹ của người Anh, từ pudding- một loại bánh làm bằng bột mì với mỡ và trứng, làm chín bằng cách nướng, luộc hoặc hấp (bánh pudding)- loại bánh này không quen thuộc với người Việt Nam. Từ ice hockey- môn thể thao đặc trưng của người Anh (khúc côn cầu) hay từ baseball- môn thể thao phổ biến ở Mĩ chơi bằng một cái gậy và một quả bóng, gồm hai đội với chín cầu thủ trên một sân có bốn góc (bóng chày) 3. Phương pháp dịch sát nghĩa Để có thể hiểu sâu hơn về phương pháp này chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm của Newmark (1995). Theo ông, dịch sát nghĩa là chuyển ngữ pháp, trật tự từ và nghĩa của ngữ nguồn sang ngữ đích. Phương pháp dịch sát đa dạng từ cấp độ từ sang từ, mệnh đề sang mệnh đề, câu sang câu, v.v… Với quan điểm này, người dịch liên ngôn không chỉ là người truyền tin mà còn là đồng tác giả của văn bản ngữ đích .

4. Phương pháp dịch loại bỏ Theo Baker (1992), nếu nghĩa được truyền đạt bởi một từ hoặc một cụm từ không quan trọng trong việc phát triển văn bản hay phải giải thích dài dòng, thì người dịch có thể loại bỏ từ hoặc cụm từ đó. Chẳng hạn, từ ‘of’ khi dịch sang tiếng Việt có thể được loại bỏ trong trường hợp sau: “the case notions comprise a set of universal” (vai nghĩa gồm một tập hợp khái niệm phổ quát – không dịch vai nghĩa gồm một tập hợp khái niệm của phổ quát), từ ‘with’ trong câu “deep blue ceramic jar, painted with flowers” (âu gốm hoa lam, được vẽ hoa mai dây- không dịch âu gốm hoa lam được vẽ với hoa mai dây ). Ngoài ra, thì (tenses) trong tiếng Anh là một phạm trù ngữ pháp nên khi nói về một điều gì đó xảy ra trong quá khứ, người Anh không những để động từ đó ở thì quá khứ mà còn kèm theo một trạng từ chỉ thời gian trong quá khứ như câu sau: “ She went to bed at eleven p.m yesterday”. Trong khi đó thì trong tiếng Việt không phải là phạm trù ngữ pháp nên khi dịch câu này sang tiếng Việt người dịch liên ngôn chỉ cần dịch “Hôm qua con bé đi ngủ lúc 11h” không dịch “hôm qua con bé đã đi ngủ lúc 11h”

Kết luận: Hoạt động dịch thuật đang phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Nó giúp chúng ta thành công hơn trong giao lưu và hội nhập quốc tế. Trong quá trình dịch thuật, người dịch liên ngôn luôn phải đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng, dị biệt, sự lưỡng nghĩa, những ‘gu’ sử dụng từ ngữ giữa ngữ nguồn và ngữ đích để từ đó chọn được cách dịch tương đương nhất, thỏa đáng nhất. Ngoài ra, cần chú ý tới mục đích của mỗi bản dịch để có những phương pháp dịch phù hợp.

Dịch Vụ Dịch Thuật Và Bản Địa Hóa Phần Mềm Uy Tín 2024

Các bước (phát âm / ‘bước /) cách mạng hóa cách các công ty bản địa hóa phần mềm để phát hành quốc tế nhanh chóng. Các dịch vụ và giải pháp dịch thuật và bản địa hóa phần mềm tốt nhất của chúng tôi được thiết kế nhằm mục đích đẩy nhanh sự phát triển nhanh trên tất cả các nền tảng.

Dịch vụ dịch phần mềm cho tất cả các nền tảng và thiết bị

Điều này có nghĩa là người dịch không thấy cách mỗi chuỗi được hiển thị hoặc sử dụng trong phần mềm, dẫn đến các vấn đề tiềm ẩn về độ chính xác dịch thuật cũng như cắt ngắn văn bản (do mở rộng ngôn ngữ như tiếng Đức và tiếng Hà Lan.) giải pháp công nghệ nội địa hóa phần mềm sáng tạo.

Công nghiệp phần mềm ngày càng nhanh nhẹn, sử dụng cách tiếp cận lặp lại và gia tăng để phát triển ứng dụng. Như vậy, việc cập nhật thường xuyên là không thể tránh khỏi, dẫn đến nhu cầu dịch thuật liên tục, bị phân mảnh.

Mô hình dịch thuật đúng lúc (JIT) của Idichthuat Phục vụ hoàn hảo cho các nhu cầu dịch thuật liên tục này, cho phép các nhà phát triển có nhiều thời gian hơn để tập trung vào phần mềm của họ và vẫn đạt được lợi thế theo thời gian.

Mô Hình Dịch Thuật Phầm Mềm Chuyên Nghiệp

Nhiều công ty phần mềm đang nắm lấy DevOps để rút ngắn vòng đời phát triển ứng dụng đồng thời mang lại chất lượng phần mềm cao nhất. Một thành phần chính của DevOps là đạt được giao hàng liên tục để giảm thời gian tiếp thị.

Với mô hình dịch thuật dựa trên nền tảng đám mây và luôn luôn dựa trên nền tảng đám mây của chúng tôi, Idichthuat giúp các công ty phần mềm hàng đầu thế giới vượt lên trên sự cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

Note: Mẫu Dịch Thuật Giấy Uy Quyền Tiếng Anh, Trung, Nhật, Hàn, Đức, Nga

Các bước sẽ bản địa hóa các phầm mềm sang hơn 100 ngôn ngữ:

Ứng dụng cho tất cả các hệ điều hành (Windows, Linux, iOS, Android) Firmware Ứng dụng quản lý mối quan hệ khách hàng Ứng dụng hệ thống lập kế hoạch tài nguyên Phần mềm thanh toán và thanh toán Cơ sở dữ liệu và phần mềm lưu trữ Phần mềm quản lý tài sản và bảo mật

Bản địa hóa giao diện người dùng là bước quan trọng nhất để toàn cầu hóa sản phẩm phần mềm của bạn. Bản địa hóa giao diện người dùng của bạn bao gồm mọi thứ, từ dịch chuỗi văn bản đến điều chỉnh bố cục giao diện của bạn để phù hợp với từng bối cảnh ngôn ngữ và văn hóa.

Hệ thống quản lý thuật ngữ tích hợp sẵn của Idichthuat có nghĩa là chúng tôi có thể đảm bảo tính nhất quán dịch thuật trong khi giảm thiểu chi phí. Nền tảng dịch thuật của chúng tôi cũng cho phép bạn duyệt và chọn người dịch theo chuyên môn và lịch sử dịch thuật, do đó, mỗi phiên bản phần mềm được bản địa hóa của bạn hoạt động trơn tru như bản gốc.

Note: 6 Khó Khăn Khi Dịch Phụ Đề Video Clip Sang Tiếng Việt

Nền tảng dịch thuật là lý tưởng để thử nghiệm bản địa hóa phần mềm di động. Thử nghiệm bản địa hóa đảm bảo rằng chất lượng của ứng dụng được bản địa hóa phù hợp với chất lượng của sản phẩm nguồn. Sau khi được bản địa hóa, phần mềm phải được xác minh trên các nền tảng người dùng khác nhau để xem các phiên bản dịch có hoạt động trơn tru không và văn bản đã được áp dụng đúng chưa.

Idichthuat cho phép các kỹ sư và dịch giả của mình tham gia kiểm tra ngôn ngữ và kiểm tra mỹ phẩm. Kiểm tra ngôn ngữ là kiểm tra hai lần phần mềm dịch, xác minh một cách có hệ thống từng dòng văn bản được dịch cho chính xác.

Bạn đang xem và tham khảo dịch vụ Dịch Thuật Bản Đại Hóa Phần Mềm của công ty dịch thuật Idichthuat chúng tôi. Với bất kì các yêu cầu hay thắc mắc nào hãy liên hệ Idichthuat để được tư vấn cụ thể nhất.

Những Phương Pháp Cơ Bản Giúp Học Tốt Môn Văn

Ngữ Văn là môn học chính trong trường phổ thông và có mặt hầu hết trong các kỳ thi quan trọng như Tốt Nghiệp, Đại học, thi học sinh giỏi,… Không ít học sinh ngày nay phàn nàn về môn học này và cho rằng để học giỏi ngữ văn cần phải có năng khiếu. Điều đó không sai nhưng cũng không hoàn toàn đúng. Nếu bạn nắm được những kỹ năng và phương pháp học văn đúng đắn thì sẽ nhận ra rằng năng khiếu không hề quyết định tất cả.

Rất nhiều bạn cho rằng, môn văn có khả năng “gây mê” đồng thời rất khó khăn để có thể nhớ và vận dụng vào bài thi. Nếu quả thực bạn đang suy nghĩ như vậy, vô hình chung bạn đã tự làm khó mình. Hãy đơn giản hóa cách suy nghĩ của bạn và áp dụng những phương pháp, kỹ năng học tập hiệu quả, chắc chắn bạn sẽ đạt được thành quả như mong đợi. Để cho việc học môn Ngữ Văn đối với tất cả mọi học sinh không còn là “ác mộng”, trong bài viết này, chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm học môn văn với các phương pháp cơ bản nhất để biến môn văn trở thành một tiết học thú vị.

Tập trung nghe giảng để nắm vững kiến thức

Để cho một bài thi văn đạt được kết quả cao không nhất thiết phải viết được những câu văn bay bổng, trau chút mà việc nắm rõ kiến thức để viết đúng, viết đủ mới thật sự cần thiết. Thầy cô không chỉ là người truyền đạt kiến thức mà còn là người mang đến cho bạn nguồn cảm hứng. Chăm chú nghe những lời giảng của thầy cô không chỉ giúp bạn nắm được những điểm trọng tâm của bài học mà còn học hỏi được nhiều điều từ thực tiễn cuộc sống.

Rèn luyện tinh thần tự giác học tập

Nếu học theo sự bắt buộc của giáo viên hoặc phụ huynh thì quả thật không biết đến khi nào bạn mới có thể tiến bộ. Vì vậy, ngay từ bây giờ bạn phải tập luyện tính tự giác, cho dù môn văn hay bất kỳ môn học nào, bạn cũng cần đặt tinh thần tự nguyện lên trên hết. Bạn cũng có thể tham khảo bí quyết học giỏi văn từ những người đi trước, có thể là thầy cô, anh chị, bạn bè,… để cho những định hướng của bạn trở nên dễ dàng hơn.

Hãy biến môn văn trở thành một tiết học thú vị

Có nhiều cách để làm cho môn văn trở thành một tiết học vui nhộn và thú vị như: lập nhóm thuyết trình và phản biện, phân vai đóng hoạt cảnh, làm thơ, vè đối đáp,… Với những cách đó, môn văn sẽ không đơn thuần là một tiết học văn hóa mà còn là một buổi sinh hoạt vui tươi giúp xóa tan sự căng thẳng mang đến cho bạn tinh thần thoải mái hơn.

Các Phương Pháp Cơ Bản Trong Chẩn Đoán Vi Khuẩn

Các phương pháp cơ bản trong chẩn đoán vi khuẩn

1. Phương pháp phân lập vi khuẩn Phân lập là khâu quan trọng trọng trong quá trình nghiên cứu vi khuẩn. Mục đích của phân lập là tách riêng các vi khuẩn từ quần thể ban đầu tạo thành các clon thuần khiết để khảo sát và định loại. Khi vi khuẩn tăng trưởng và phát triển trên bề mặt môi trường rắn đã tạo ra những khuẩn lạc, hình thái của các khuẩn lạc mang tính đặc trưng của từng loài vi khuẩn. Việc mô tả chính xác các khuẩn lạc đã tách rời có thể góp phần rất quan trọng trong việc định danh vi khuẩn. Các nhà vi khuẩn học đã tiêu chuẩn hoá có ý nghĩa khi miêu tả hình dáng, độ cao và bờ, rìa của khuẩn lạc. 

Hình thái khuẩn lạc

  Điều quan trọng trong quá trình nuôi cấy vi sinh vật là tránh không đưa thêm vi sinh vật ngoại nhiễm vào môi trường nuôi cấy. Muốn vậy, ngoài các thao tác luôn phải được tiến hành trong điều kiện vô trùng, mọi yếu tố từ môi trường, dụng cụ chứa, dụng cụ nuôi cấy đến các vật dụng cần thiết khác đều phải được khử trùng thích hợp để được vô trùng trước khi sử dụng.   1.1. Các dạng mẫu cho nuôi cấy -  Dạng dịch mẫu đã được đồng nhất, dịch nuôi cấy hoặc môi trường lỏng chứa chủng vi sinh vật cần phântích.   - Dạng trên bề mặt môi trường rắn chứa thạch (1,5-2%) trong ống thạch nghiêng hay trong đĩa petri.   -  Dạng mẫu nằm sâu trong môi trường rắn trong ống nghiệm thạch sâu chứa thạch mềm (0,5-0,7%).   1.2. Dụng cụ cấy - Que cấy thẳng: Que cấy kim loại có đầu nhọn, thường dùng để cấy vi khuẩn có tạo khuẩn ty.   - Que cấy móc: que cấy có đầu vuông góc, thường dùng để cấy vi khuẩn có tạo khuẩn ty.   - Que cấy vòng (Que khuyên cấy): que cấy kim loại đầu có vòng tròn, thường dùng cấy chủng từ môi trường rắn hoặc lỏng lên môi trường rắn, lỏng.   - Que cấy trang: bằng kim loại hay thủy tinh, đầu hình tam giác, dùng để dàn trải vi khuẩn trên bề mặt thạch rắn.   - Ống hút thủy tinh dùng để chuyển một lượng vi khuẩn nhất định lên bề mặt môi trường rắn hoặc vào môi trường lỏng. Hiện nay, pipet cấy chuyển với những đầu tip vô trùng có thể tháo rời để thay đổi (còn gọi là pipet đầu rời hay transfer pipet dạng hút thông thường).   -  Đầu tăm bông vô trùng để cấy giống từ môi trường lỏng lên bề mặt của môi trường rắn.   1.3. Các thao tác vô trùng Thao tác cấy được thực hiện trong một không gian vô trùng tạo bởi ngọn lửa đèn cồn hoặc đèn Bunsen. Ngọn lửa đèn cồn, đèn Bunsen có tác dụng oxy hóa không khí tạo không gian vô trùng, đồng thời còn được dùng để đốt khử trùng que cấy, miệng chai lọ, ống nghiệm khi mở, đóng, nút bông, nắp nhựa…   Để tránh việc gây nhiễm thông qua tiếp xúc, nhân viên thao tác cần mang găng tay hoặc tiến hành sát trùng tay bằng cồn 70o hoặc các dung dịch diệt khuẩn, tương tự như vậy tiến hành sát trùng mặt bàn thao tác trước khi bắt đầu thao tác vô trùng. Sau khi hoàn tất việc cấy chủng, tiến hành sát trùng tay, mặt bàn làm việc tương tự như trên trước khi rời phòng kiểm nghiệm.   1.4. Kỹ thuật cấy ria trên đĩa petri - Dùng que cấy vòng thao tác vô trùng nhúng vào dịch mẫu để có được các vi khuẩn cần phân lập.   - Ria các đường trên đĩa petri chứa môi trường thạch thích hợp. Sau mỗi đường ria liên tục, đốt khử trùng que cấy và làm nguội trước khi thực hiện đường ria tiếp theo.   - Lật ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp trong tủ ấm.   1.5. Kỹ thuật cấy trang - Dùng pipet chuyển 0,1ml dịch canh khuẩn lên bề mặt môi trường thạch trong đĩa pettri.   - Nhúng đầu thanh gạt vào cồn, hơ qua ngọn lửa để khử trùng. Để đầu thanh gạt nguội trong không gian vô trùng của ngọn lửa.   -  Mở đĩa petri, đật nhẹ nhàng thanh gạt lên bề mặt thạch của đĩa petri. Dùng đầu thanh gạt trải đều dịch vi khuẩn lên bề mặt thạch. Trong khi thực hiện xoay đĩa một vài lần, mỗi lần khoảng nửa chu vi đĩa tạo điều kiện cho thanh gạt trải dịch vi khuẩn đều khắp bề mặt môi trường.   - Lật ngược đĩa, ủ ở nhiệt độ và thời gian thích hợp trong tủ ổn nhiệt.   2. Cấy chuyển 2.1. Cấy giống từ môi trường lỏng sang ống nghiệm chứa môi trường lỏng - Đốt nóng đỏ đầu que cấy trong ngọn lửa và hơ nhẹ phần cán (phần sẽ đưa vào bên trong dụng cụ chứa vi sinh vật). Cầm thẳng đứng que cấy cho que cấy nóng đều.   - Tay trái cầm ống nghiệm xoay nhẹ, tay phải cầm que cấy. Ngón út của tay phải dùng để mở nút bông.   - Mở nút bông xoay miệng ống nghiệm qua ngọn lửa.  

-  Đưa que cấy đã khử trùng vào bên trong ống nghiệm, làm nguội que cấy bằng cách áp đầu que cấy vào thành ống cho nguội. Thu sinh khối bằng cách nhúng que cấy vào môi trường lỏng, rút thẳng que cấy ra không để dính vào thành và miệng ống. Hơ nóng miệng ống nghiệm, đậy nút bông. Đặt ống nghiệm vào giá đỡ.

  - Đầu que cấy có chứa vi khuẩn được giữ ở vùng không khí vô trùng gần ngọn đèn. Dùng tay trái lấy ống nghiệm chứa môi trường mới, mở nút bông, khử trùng miệng ống nghiệm rồi đưa đầu que cấy vào bên trong môi trường.   - Nhúng và khuấy nhẹ que cấy trong dịch môi trường để tách sinh khối ra khỏi đầu que cấy.   - Rút thẳng đầu que cấy ra. Khử trùng miệng ống nghiệm, đậy nút bông lại.   - Khử trùng que cấy ngay sau khi cấy xong.   2.2. Cấy giống từ môi trường lỏng sang ống thạch nghiêng Tiến hành tương tự như trên với một số khác biệt sau: cấy giống lên bề mặt thạch nghiêng bằng cách đặt nhẹ đầu que cấy lên bề mặt môi trường ở đáy ống, sau đó cấy theo hình chữ chi từ đáy ống nghiệm lên đến đầu trên của mặt thạch nghiêng.   2.3. Cấy giống từ môi trường lỏng bằng pipet đầu rời Pipet đầu rời cho phép thao tác chính xác với những dung tích nhỏ. Trong thao tác vô trùng, pipet đầu rời rất hữu dụng vì cho phép cấy chuyển dễ dàng dịch vi khuẩn lên bề mặt môi trường rắn trong đĩa petri nhằm tạo khuẩn lạc rời hoặc vào ống nghiệm hay bình chứa môi trường lỏng để nuôi tăng sinh. Bằng một pipet đầu rời người ta có thể thực hiện với số lần không hạn chế các thao tác vô trùng này do có thể hấp khử trùng đồng loạt với số lượng lớn các đầu tip. Trước khi sử dụng, kiểm nghiệm viên cần biết các yêu cầu cơ bản khi thao tác với pipet đầu rời như sau:   -  Mỗi pipet đầu rời đều có giới hạn dung tích thao tác cho phép nhất định. Thông thường các dải dung tích đó là: 0,1 ml, 1- 20 ml, 20- 200 ml, 0,2- 1 ml, 1-5 ml, 1- 10 ml. Dải dung tích thao tác cho phép này thường được ghi rõ trên pipet đầu rời. Trong dải dung tích cho phép, kiểm nghiệm viên có thể điều chỉnh để có dung tích chính xác cần thao tác. Cần chọn pipet đầu rời với giới hạn dung tích thích hợp cho phạm vi thao tác. Mỗi loại pipet đầu rời đều có đầu tip tương ứng và có thể được khử trùng bằng nồi hấp áp suất.  - Pipet đầu rời thường có hai nấc: nấc 1 tương đương với dung tích được chọn sử dụng khi hút dung dịch, nấc 2 vượt quá nấc 1 được sử dụng khi bơm dung dịch ra khỏi đầu tip của pipet đầu rời. - Khi sử dụng pipet đầu rời để cấy chuyển dịch giống cần tiến hành thao tác trong không gian vô trùng của ngọn lửa trong tủ cấy. - Tay phải cần pipet đầu rời, tay trái mở hộp chứa đầu tip vô trùng. Cắm đầu pipet vào đầu tip. - Dùng tay trái giữ ống nghiệm, bình chứa dịch giống vi sinh vật. Dùng ngón út và áp út của tay phải đang giữ pipet để kẹp giữ và mở nút bông, hơ nóng khử trùng miệng ống nghiệm hoặc bình chứa. - Đưa đầu tip vô trùng vào bên trong dịch giống, hút lấy dung tích cần thiết. - Rút đầu tip ra khỏi miệng bình chứa, khử trùng miệng bình chứa và đậy bằng nút bông đang được giữ ở ngón út và áp út của tay phải. - Đầu tip có chứa vi sinh vật được giữ ở vùng không khí vô trùng gần ngọn đèn. - Dùng tay trái lấy ống nghiệm hoặc bình chứa môi trường mới, dùng ngón út và áp út kẹp và mở nút bông, khử trùng miệng bình chứa. - Đưa đầu tip vào bên trong môi trường và bơm dịch giống vào môi trường. - Rút đầu tip ra khỏi miệng bình chứa, khử trùng miệng bình, đậy nút bông. - Thay đầu tip vô trùng mới khi thực hiện đợt cấy tiếp theo. - Thực hiện tương tự trong trường hợp cấy chuyển dịch giống lên bề mặt môi trường trong đĩa petri. - Cần lưu ý đầu pipet đầu rời và đầu tip được chế tạo bằng polymer nên tuyệt đối khử trùng đầu pipet và đầu tip bằng ngọn lửa.   Để đảm bảo sự phát triển của vi khuẩn, sau khi cấy xong phải quan tâm đến các điều kiện môi trường nuôi vi khuẩn bao gồm: (1) Nhiệt độ, phải chọn nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển của mỗi loài vi khuẩn và duy trì ổn định nhiệt độ đó; (2) Độ ẩm, để duy trì độ ẩm trong quá trình nuôi ủ, cần đảm bảo đủ lượng nước khi làm môi trường. (3) Khí oxy đối với vi sinh vật hiếu khí, lớp môi trường nuôi cấy có độ dày vừa phải để oxy không khí có thể thấm vào.   3. Quy trình nhân giống và bảo quản chủng vi sinh vật chuẩn 3.1. Nguồn gốc Chủng chuẩn cung cấp cho phòng thí nghiệm phải có nguồn gốc từ các nhà cung cấp hay tổ chức cung cấp giống vi khuẩn có uy tín, có chức năng cung cấp chủng giống vi khuẩn.   Giống được cung cấp phải đảm bảo yêu cầu về chất lượng, hoạt tính, có thông tin về các đặc điểm về sinh hóa, tính chất kháng nguyên.   Khi được nhà cung cấp chuyển đến phòng thí nghiệm các ống chủng vi khuẩn phải có nhãn ghi đầy đủ tên, mã số, ký hiệu chủng loại kèm theo hướng dẫn bảo quản, số lần cấy chuyền (số thế hệ) và các đặc điểm sinh hóa, kháng nguyên.   3.2. Nhân giống và bảo quản Chủng giống dạng đông khô từ các ngân hàng giống được coi là giống gốc. Từ đây chủng được nhân lên trong môi trường canh thang (lần cấy chuyền thứ nhất).   Vi sinh vật từ môi trường canh thang được cấy chuyển vào môi trường thạch dinh dưỡng Tryptose Soy Agar (TSA – 1 đĩa và 15 ống thạch nghiêng) và môi trường chọn lọc.   - Môi trường thạch không chọn lọc: ủ ở 370C 24 giờ, kiểm tra độ thuần chủng trên đĩa TSA. Số lượng ống chủng phụ thuộc vào nhu cầu của phòng. Kiểm tra lại và loại bỏ những ống củng không đạt yêu cầu. Bảo quản các ống chủng ở 40C, thời gian bảo quản tối đa là 3 tháng. Các chủng này được dùng làm đối chứng trong các lần phân tích mẫu.   – Môi trường thạch chọn lọc: cấy chủng từ môi trường canh thang trên lên môi trường thạch chọn lọc. Sau khi ủ, chọn một số khuẩn lạc để kiểm tra lại mức độ thuần khiết, các đặc tính sinh hóa và đặc tính kháng nguyên.   Khi ống chủng sắp hết thời gian bảo quản cho một lần cấy chuyển, các chủng giống được nhân lên trong môi trường canh thang dinh dưỡng và cấy chuyền vào các ống thạch nghiêng để bảo quản tương tự như trên.   Với một chủng vi khuẩn chuẩn chỉ được cấy tối đa 5 lần kể từ lần nhân giống đầu tiên. Sau mỗi lần cấy chuyển đều phải kiểm tra lại hoạt tính và độ thuần chủng. Khi hết thời hạn cấy chuyển phải thay chủng giống mới.   3.4. Sử dụng chủng chuẩn trong phân tích mẫu Các chủng chuẩn trong môi trường thạch nghiêng trước khi sử dụng làm mẫu chứng dương được cấy sang môi trường thạch đĩa không chọn lọc (Plate Count Agar, Tryptose Soy Agar hay Nutrien Agar) nhằm kiểm tra độ thuần khiết, các đĩa này được bảo quản và sử dụng trong một tuần.   3.5. Chú ý khi sử dụng chủng chuẩn Các chủng chuẩn phải được sử dụng và bảo quản cẩn thận ở 40C, mỗi ống chủng phải có nhãn mác ghi các thông tin như: tên, ký hiệu chủng, ngày, số lần cấy chuyển…   Kiểm nghiệm viên phải thận trọng và tuân thủ các quy định về an toàn phòng kiểm nghiệm khi cấy chuyển thao tác với các chủng chuẩn để tránh nhiễm bệnh hay làm lây lan mầm bệnh.   Dụng cụ sau khi tiếp xúc với các chủng vi khuẩn phải đựơc thanh trùng cẩn thận. Dụng cụ thủy tinh và các đĩa petri sau khi dùng phải được hấp khử trùng ở 121oC 20 phút trước khi đem rửa, dụng cụ thủy tinh được ngâm trong dung dịch chlorin, sau đó rửa bằng xà phòng và tráng lại bằng nước sạch trước khi phơi khô.   4. Phương pháp soi tươi Có thao tác đơn giản, tiến hành nhanh, thường được sử dụng để quan sát trạng thái sống của tế bào vi khuẩn.   4.1. Phương pháp thực hiện 4.1.1. Dụng cụ         - Lam kính: dùng làm tiêu bản.         - Lam phủ (lamel, kính phủ vật): dùng để đậy lên các tiêu bản.         - Lam kính lõm: dùng để quan sát khả năng di động của vi khuẩn.   4.1.2. Chuẩn bị giọt canh khuẩn từ môi trường nuôi cấy - Đặt ống chứa vi khuẩn vào giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay trái, lòng bàn tay ngửa ra, ống nghiệm để hơi nghiêng nhưng không được để cho canh khuẩn chạm vào nút bông của ống nghiệm nuôi cấy vi khuẩn.   - Khử trùng que cấy trên ngọn đèn cồn. Để que cấy thẳng đứng trên ngọn lửa cho đến khi đầu que cấy nóng đỏ rồi từ từ đặt và di chuyển que cấy theo chiều nằm ngang trên ngọn lửa.   - Kẹp nút bông vào giữa ngón út và lòng bàn tay phải, xoay nhẹ nút một vòng và kéo nút ra. Giữ nút như vậy cho đến khi đậy nút vào.   - Đốt miệng ống nghiệm trên ngọn lửa đèn cồn.   - Đưa que cấy đã nguội vào ống nghiệm để lấy mẫu. Nếu ống giống là môi trường lỏng thì chỉ cần nhúng đầu que cấy vào canh trường rồi rút ra. Nếu giống mọc trên môi trường đặc thì dùng que cấy lấy một ít sinh khối vi sinh vật trên mặt thạch và hòa đều vào giọt nước cất vô trùng trên lam kính. Chú ý thao tác hết sức nhẹ nhàng để khi lấy mẫu vi khuẩn không làm rách mặt thạch.   - Rút que cấy ra, đốt miệng ống nghiệm, đậy ống nghiệm lại và đặt ống vào giá.   - Đặt giọt canh khuẩn (hoặc sinh khối vi sinh vật) ở đầu que cấy vào giữa phiến kính để làm tiêu bản.   - Khử trùng lại que cấy trên ngọn đèn rồi cất vào giá.   4.1.3. Tiêu bản giọt ép - Dùng que cấy hoặc ống hút káy giống vi sinh vật để làm vết bôi. - Đặt một mép kính phủ vật tiếp xúc với lam kính một góc 450 rồi từ từ hạ xuống phủ giọt canh khuẩn thật nhẹ nhàng, tránh không tạo thành bọt khí.   4.1.4. Tiêu bản giọt treo Dùng phiến kính đặc biệt có phần lõm hình tròn ở giữa. - Cho một giọt canh khuẩn lên giữa kính phủ vật. Thận trọng xoay ngược lá kính cho giọt canh khuẩn quay xuống phía dưới rồi đặt lên phần lõm của phiến kính. - Chú ý không giọt canh khuẩn lan rộng hay chạm vào đáy của phần lõm. - Đặt tiêu bản lên kính hiển vi và quan sát ở vật kính 10x hoặc 40x.  

Trên thị trường hiện nay đã xuất hiện một dụng cụ có tên gọi là vòng O (O-ring) dùng để thực hiện giọt treo mà không cần lam kính lõm. Đây là một miếng đệm hình tròn, có kích thước vòng trong 12 mm, cao 3 mm có thể sử dụng nhiều lần. Khi thực hiện, người ta đặt vòng O lên giữa lam kính thường, đưa giọt canh khuẩn vào một mặt của kính phủ vật, xoay ngược kính phủ vật và úp lên vòng O. Đây là cải tiến của nhà sản xuất Science Kit, một bộ O- ring 25 chiếc có giá khoảng 20 USD

.   5. Phương pháp nhuộm gram Năm 1884, Hans Christian Joachim Gram, một nhà khoa học người Đan Mạch đã sáng chế ra phương pháp nhuộm vi khuẩn mới mà ngày nay tên gọi đã trở lên rất quen thuộc với mọi phòng thí nghiệm vi khuẩn thế giới:   Phương pháp nhuộm gram là một trong những kỹ thuật cơ bản và quan trọng nhất trong phân tích vi khuẩn ở giai đoạn đầu nhằm xác định sơ bộ đặc tính của các dòng vi khuẩn muốn nghiên cứu theo tính chất bắt mầu gram của chúng. Vi khuẩn bắt mầu hỗn hợp crystal violet – iodin sẽ có màu tím nâu khi quan sát dưới kính hiển vi quang học và được xếp vào nhóm vi khuẩn gram dương. Những dòng vi khuẩn khác không giữ được mầu crystal violet và bắt mầu fuchsin (đỏ) được xếp vào nhóm vi khuẩn gram âm.   Phương pháp nhuộm gram dựa vào khả năng lưu giữ crystal violet của thành tế bào các dòng vi khuẩn sau khi bị tẩy bằng cồn. Việc xác định thời gian tẩy mầu là yếu tố quan trọng trong việc phân biệt vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm. Nếu kéo dài thời gian tẩy mầu, ngay cả vi khuẩn gram dương cũng không giữ được mầu nhuộm ban đầu. Ngoài ra, một số loài vi khuẩn gram dương cũng có thể bị tẩy mầu dễ dàng và vì thế chúng được coi là các dòng vi khuẩn có tính chất bắt mầu gram thay đổi (có thể âm lẫn dương). Chất nhuộm fuchsin (hoặc có thể thay bằng safranin) tạo cho vi khuẩn gram âm có mầu hồng đỏ. Fuchsin nhuộm mầu mạnh hơn và có mầu dễ nhìn hơn safranin. (Haemophilus spp., và một vài dòng vi khuẩn kỵ khí không ăn màu safranin)   5.1. Kỹ thuật nhuộm gram 5.1.1. Pha dung dịch thuốc nhuộm a) Dung dịch Cristal violet:

 * Dung dịch A:

– Crystal violet………………2 g

– Ethanol 95% ………………20 ml

* Dung dịch B:

– Ammonium oxalat …………………0,8

– Nước cất……………………………..80 ml

 

          Trộn đều 2 dung dich A và B, lọc qua giấy lọc thô, giữ ở nhiệt độ phòng trong chai mầu nâu.

  b) Dung dịch Lugol:

– Indin tinh thể……………………….1 g

– Potasium iodid………………………2 g

– Nước cất……………………………………….300 ml

  Nghiền Iodin vào Potassium iodid trong 50 ml nước cất cho hòa tan hoàn toàn. Thêm phần nước cất còn lại, giữ ở nhiệt độ phòng trong chai nâu. Khi dung dịch mất mầu phải pha lại.   c) Dung dịch Carbon fuchsin:

* Dung dich A:

– Fuchsin………………………………0,3 g

– Ethanol 95%………………………………….10 ml

* Dung dịch B

– Phenol nóng chảy…………………….5 ml

– Nước cất………………………………95 ml

 

Trộn đều dung dịch A và dung dich B, lọc qua giấy lọc thô.

  d) Dung dịch Acid Alcohol:

– HCL…………………………………..3 ml

– Ethanol cho đủ………………………..100 ml

      5.1.2. Cố định phiến phết a) Từ môi trường lỏng - Dùng bút sáp để ghi tên mẫu hoặc số nhận diện, ngày thử nghiệm. Vẽ vòng tròn để giới hạn vùng phiến phết vi khuẩn. - Dùng khuyên cấy lấy một khuyên dịch khuẩn, dàn đều thành lớp mỏng giới hạn trong vòng tròn đã vẽ trên lam kính. Để dịch khuẩn tự khô hoàn toàn. - Hơ mặt dưới của lam kính qua lai trên ngọn lửa 2- 3 lần, tránh không để tiêu bản quá nóng.   b) Từ môi trường rắn - Dùng bút sáp để ghi tên mẫu hoặc số nhân diện, ngày thử nghiệm. Vẽ vòng tròn để giới hạn vùng phiến phết vi khuẩn. - Dùng khuyên cấy lấy một khuyên cấy nước cất vô trùng đặt vào giữa vòng tròn đã vẽ, lấy một lượng nhỏ vi khuẩn từ khuẩn lạc và dàn mỏng với nước cất trong vòng tròn. Để dịch khuẩn tự khô hoàn toàn. - Hơ mặt dưới của lam kinh qua lại trên ngọn lửa 2 đến 3 lần, tránh không để tiêu bản quá nóng.   5.1.3. Tiến hành nhuộm - Phủ dung dịch lên lam kính đã được cố định trong 1 phút. - Đổ bỏ dung dịch Crustal violet và rửa với nước cất. -  Phủ dung dịch làm cắn màu lugol trong 1 phút, sau đó đổ bỏ dung dịch lugol và rửa nhẹ với nước. - Cầm một đầu lam kính, nhỏ từ từ cồn 950 cho đến khi vùng phiến kính bạc màu di ( thời gian tẩy cồn thông thường từ 10-15 giây). Rửa ngay với nước để chấm dứt công đoạn tẩy màu. - Phủ dung dịch fuchsin lên lam kính 30 giây, đổ bỏ dung dịch và rửa qua nước. - Dùng giấy thấm để thấm khô hoặc để khô tự nhiên. Khảo sát hình thể và tính chất bắt mầu của vi khuẩn dưới kính hiển vi với vật kính dầu.   5.2. Nguyên nhân một số sai lệch trong phương pháp nhuộm gram 5.2.1. Gram dương trở thành gram âm - Lứa cấy quá già: vi khuẩn trong quá trình biến dưỡng sinh ra một số chất có khả năng làm tăng tính acid của môi trường nuôi cấy gây sai lệch kết quả. Tốt nhất lên nhuộm gram với lứa cấy từ 18-24 giờ. - Dung dịch Lugol bị hỏng: phải bảo quản dung dịch lugol trong chai nâu, tránh ánh sáng và cần loại bỏ ngay khi thấy dung dịch chuyển màu từ nâu sang vàng. - Tẩy màu quá mức: nhỏ quá nhiều cồn hoặc không rửa nước ngay.   5.2.2. Gram âm trở thành gram dương - Cố định tiêu bản khi còn ướt, các hợp chất protein có trong môi trường họăc trong mẫu thử làm tiêu bản khó tẩy màu. - Tẩy màu chưa đạt.  

Phản ứng với thuốc nhuộm của các chủng vi khuẩn

                   A: E. coli, gram (-)                    B: Staphylococcus epidermidis, Gram (+)                    C: Bacillus cereus, Gram (+).   6. Các thử nghiệm sinh vật hoá học 6.1. Lên men đường Thử nghiệm lên men trong môi trường canh thang có chứa đường, pepton và cao thịt (để cung cấp các dinh dưỡng phụ cho các vi sinh vật khó lên men), và chất chỉ thị mầu tía cresol brom (chất chỉ thị pH). Nếu có sự lên men đường, thường sinh ra acid. Trường hợp này pH môi trường giảm xuống đã làm cho màu tía cresol brom chuyển từ xanh sang vàng. Cũng như vậy, nếu thêm ống Durham, sẽ cho phép xác định sự sinh hơi (H2) từ quá trình lên men. Kết quả trả lời cuối cùng là sinh acid (+/-) và gas (+/-).   Phản ứng lên men trong MT canh thang: Nếu vi khuẩn không lên men với test đường thì thuốc nhuộm màu tía vẫn còn lại và không sinh gas (trái). Nếu quả trình lên men xảy ra, hầu hết là sinh ra acid, khi đó pH giảm và làm đổi màu của canh thang sang màu vàng (giữa). Nếu sinh gas, ống Durham ở trong đảo ngược lên và nhìn như có bong bóng (phải).  

6.2. Thủy phân tinh bột Đĩa thạch tinh bột được sử dụng để thử tính chất thủy phân tinh bột ngoại bào. Tinh bột là 1 phân tử polysacchrid có trọng lượng quá lớn để có thể dịch chuyển vào trong tế bào mà bước đầu không cần bẻ gãy thành những đơn vị nhỏ hơn. Khả năng thủy phân tinh bột phụ thuộc vào sự sản xuất và bài tiết một số men để giáng phân polymer. Sự phá vỡ tinh bột được nhận thấy sau khi ủ ngập đĩa với iod. Phức hợp iod với tinh bột nguyên chất có màu xanh. Nếu vi khuẩn có khả năng phá hủy tinh bột, không có phản ứng xảy ra và ta thấy xuất hiện một vùng trống (không màu) quanh khuẩn lạc.   Thủy phân tinh bột: Các vi khuẩn có khả năng sử dụng tinh bột để tiết ra men amylase, men này được dùng để thủy phân tinh bột. Quá trình tinh bột bị phá vỡ được quan sát thấy khi ta ngâm đĩa tinh bột với iod, quá trình đó đã tạo ra phức hợp màu tía. Các vi khuẩn thử nghiệm không có khả năng phá vỡ tinh bột sẽ tạo ra đường viền đầy đủ do một vùng màu tía (trái). Khi tinh bột bị phá vỡ sẽ tạo ra một vùng sáng xung quanh đường cấy, trong khi nền của đĩa là màu tía (phải).  

6.3. Thử nghiệm Catalase Môi trường thạch tim (HIA) được sử dụng như một môi trường cho nhiều mục đích, như để xác nhận hình thái khuẩn lạc và phản ứng catalase. Trong suốt quá trình chuyển hoá oxy được tạo ra đã làm nhiễm độc các tế bào, khi đó các enzym đặc biệt của vi khuẩn được tạo ra để giải độc những hợp chất đó. Một trong các enzym đó là catalase có tác dụng phân giải H2O2 tạo thành oxy và nước. Đây là một thử nghiệm dễ dàng để phát hiện enzym này trong vi khuẩn khi sử dụng H2O2  3%.   

Phản ứng catalase với các chủng thử nghiệm

  6.4. Giáng hoá tryptophan thành Indole  Canh thang Tryptone chứa nồng độ cao amino acid tryptophan. Một số vi sinh vật có khả năng phân hủy tryptophan thành indole và khả năng này được dùng để phân biệt các vi khuẩn. Thử nghiệm được thực hiện bằng cách thêm chất thử Kovac vào canh cấy, kết quả là nếu xuất hiện indole thì sẽ có vòng màu đỏ ở phía trên của canh cấy. Ví dụ, phản ứng dương tính và âm tính của thử nghiệm indole trong hình 7.   Quá trình giáng hoá indole Dương tính cho 1 vòng tròn máu đỏ phía trên môi trường (trái), âm tính là 1 vòng tròn mầu nâu hoặc trong mờ đục (phải). Việc xác định các vi sinh vật bằng các thử nghiệm hoá sinh trên đã được thực hiện qua nhiều thế kỷ và đã được tiêu chuẩn hoá. Để các thử nghiệm này được tiến hành thuận lợi hơn, các nhà sản xuất đã chế tạo ra những bộ kit chẩn đoán nhanh để định danh vi khuẩn, ví dụ như strip Api 20.  

Các phản ứng sinh hoá trên bộ Api-20

    7. Các kỹ thuật phát hiện kháng thể, kháng nguyên và AND của vi khuẩn Một trong những hạn chế của các thử nghiệm sinh hoá là vi sinh vật phải phát triển trên một vài môi trường nào đó và thời gian cần ít nhất là 12 – 24 giờ để đọc kết quả. Trên thực tế, các chủng thử nghiệm có thể bị đột biến cho nên không thực hiện được chuyển hoá bình thường như chủng chuẩn khác, ví dụ hầu hết các loài chúng tôi có khả năng sử dụng lactose như 1 nguồn carbon, tuy nhiên những chúng tôi phân lập được lại không có khả năng sử dụng lactose. Mặt khác, trong một số trường hợp nuôi cấy phân lập vi khuẩn có thể bị thất bại do việc sử dụng kháng sinh để điều trị. Để khắc phục những nhược điểm này, các kỹ thuật phát hiện kháng nguyên, kháng thể và vật liệu di truyền của vi khuẩn là những công cụ hữư hiệu nhất ngày càng được sử dụng rộng rãi.   7.1. Các kỹ thuật phát hiện kháng nguyên - Kỹ thuật ngưng kết hạt (Partical Agglutination). - Thử nghiệm kết tủa (Precipilin Tests). - Kỹ thuật nhuộm với kháng thể gắn huỳnh quang. - Thử nghiệm miễn dịch pha rắn với kháng thể gắn enzym.  7.2. Các kỹ thuật phát hiện kháng thể - Kỹ thuật ngưng kết hạt (Partical Agglutination). - Kỹ thuật tủa (Precipitation Assay). - Kỹ thuật kết hợp bổ thể (Complêmnt Fixation test). - Kỹ thuật miễn dịch gắn enzym. - Kỹ thuật Western Blotting.  

          TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Lê Huy Chính. Vi sinh Y học. Nhà xuất bản Y học. 2001. 12 – 37, 100 - 119.  2. Diagnostic Microbiology. Connie R., Mahon M.S., Giorge Manuselis J.R., W.B Saunder Company.1995.  3. Diagnostic Procudures for Bacterial, Mycotic, and parasitic infections, 5th. Bodily. Howard L., Ypdyke, Elaine L, Jame O. American Public Health Association, Inc, New York, 1970.

Cập nhật thông tin chi tiết về 7 Phương Pháp Dịch Thuật Cơ Bản trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!