Xu Hướng 2/2023 # 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu… # Top 6 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu… # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu… được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đề bài

Lời giải

Gia sư QANDA – hoanghiep

Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hoá học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới sức khoẻ của con người. Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra. Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động lớn tới môi trường. Các dạng ô nhiễm môi trường chính là ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường đất, ô nhiễm môi trường không khí và các loại ô nhiễm khác.

Ô nhiễm môi trường đất

Hiện tượng ô nhiễm môi trường đất xảy ra là hậu quả của các hoạt động do con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua giới hạn sinh thái.  Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nguồn tài nguyên quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người. Tuy nhiên,mật độ dân số ngày càng tăng, cùng một số nguyên nhân chủ quan khác mà môi trường đất ngày càng bị xuống cấp, có nguy cơ ô nhiễm cao.

 Ô nhiễm môi trường nước

Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý-hoá học-sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng của sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm môi trường nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.  Nước bị ô nhiễm là do sự phú dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được. Kết quả làm cho hàm lượng oxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thuỷ vực. Ở các đại dương, nguyên nhân chính gây ô nhiễm nước là do tràn dầu.

Ô nhiễm môi trường không khí

Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi.

Các loại ô nhiễm khác

Ô nhiễm môi trường ánh sáng bao gồm xâm lấn ánh sáng, giao thoa thiên văn, chiếu sáng quá mức.

Ô nhiễm môi trường tiếng ồn bao gồm tiếng ồn máy bay, tiếng ồn công nghiệp, tiếng ồn trên đường.

Ô nhiễm môi trường nhựa là sự tích tụ các chất nhựa và vi dẻo trong môi trường gây ảnh hưởng xấu đến động vật hoang dã và con người.

Ô nhiễm môi trường phóng xạ xuất hiện từ thế kỉ XX do sản xuất điện hạt nhân và nghiên cứu, sản xuất và triển khai vũ khí hạt nhân.

Ô nhiễm môi trường nhiệt là sự biến đổi nhiệt độ trong các vùng nước tự nhiên do ảnh hưởng của con người

thực trạng Trên thế giới hiện nay hầu như ô nhiễm môi trường đã xuất hiện với một phạm vi rộng lớn. Dấu hiệu để con người nhận biết ô nhiễm môi trường đang diễn ra đó chính là sự gia tăng ngày càng nhiều của những biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt hơn, nóng lên toàn cầu, mưa axit phá huỷ các công trình kiến trúc, gây tổn thương hệ sinh thái, suy giảm tầng ozon, tạo ra nhiều lỗ thủng lớn làm cho tia bức xạ cực tiếp lớn hơn. Nhiệt độ của Trái Đất đang có xu hướng tăng lên rõ rệt từ 0,6 đến 0,7 độ C và các nhà khoa học dự báo sẽ còn khả năng tăng từ 1,4 đến 5,8 độ C trong vòng 100 năm tới. Tình trạng ô nhiễm biển cũng đang diễn ra ở mức nghiêm trọng với sự xói mòn của bờ biển Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, các rạng san hô cũng đang đối mặt với ô nhiễm. Nhiều bãi rác tự phát được hình thành, gây ô nhiễm không chỉ cho môi trường đất mà còn cả môi trường nước, không khí. Đa dạng sinh học suy giảm, đất đai dần trở nên bạc màu. Ô nhiễm môi trường không khí, tiếng ồn, bụi bặm cùng các chất thải rắn có nguy cơ gây hại ngày càng cao. Sự gia tăng trong ống xả khí thải và chất rắn trong các hoạt động công nghiệp ngày càng cao tác động trực tiếp đến sức khỏe của người lao động và môi trường sống.

nguyên nhân Ý thức người dân

Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người dân. Nhiều người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường. Một số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của các cấp chính quyền…trong khi số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì cũng “chẳng ăn thua”, và ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng đến mình nhiều. Và chính những suy nghĩ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục cũng như tư duy bảo vệ môi trường của các thế hệ trẻ về sau. Thói quen trong sinh hoạt hằng ngày cũng góp phần tạo nên ô nhiễm môi trường, việc sử dụng túi nilong, không phân loại rác thải, xả rác bừa bãi,….

Do chất thải từ nhà máy, khu công nghiệp

Theo đó, các nhà máy, xí nghiệp thải ra môi trường những chất thải chưa qua xử lý. Nếu không xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường sẽ khiến khiến môi trường nước bị ô nhiễm trầm trọng. Ngoài ra, tại các nhà máy sử dụng các nhiên liệu hoá thạch làm chất đốt đã tạo các khí CO2, CO , N0x, SO2… Các khí thải này cũng gây ô nhiễm không khí trầm trọng, thậm chí là gây nên hiệu ứng nhà kính.

Do các chất độc hại, hoá chất bảo vệ thực vật

Đó là các loại thuốc trừ sâu, phân bón hoá học dư thừa do người dân sử dụng không hết vứt lung tung, bừa bãi. Các chất thải này sẽ ngấm dần vào nguồn nước ngầm dưới lòng đất, ao hồ… Điều này không chỉ làm ô nhiễm đất mà còn ô nhiễm nước ngầm. Thậm chí, những chất độc hại này còn có thể bị đưa ra biển gây nên hiện tượng “thuỷ triều đỏ”…

Do chất thải rắn

Nhiều cơ sở đã ra đời nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con người dẫn tới sự gia tăng của chất thải rắn Nguồn gốc chất thải rắn có thể đến từ sinh hoạt, từ khu công nghiệp hay cơ sở y tế. Các chất thải này không được xử lý trước khi thải ra môi trường và tích tụ lâu dài trong môi trường. Điều này gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm nước ngầm, ô nhiễm đất. Đồng thời còn gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khoẻ con người.

Do khói bụi

Có thể nói đây là nguyên nhân chính dẫ đến tình trạng ô nhiễm không khí. Tình trạng này thường xảy ra tại các thành phố lớn, mật độ xe đông đúc…

Các doanh nghiệp thiếu trách nhiệm, quan liêu, thiếu chặt chẽ

Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần gây ô nhiễm môi trường đáng kể. Một số hệ thống xử lý nước thải tại một số khu công nghiệp chưa hoạt động hiệu quả, nước thải sinh hoạt bị ô nhiễm được thải liên tục ra sông, hồ gây nhiễm độc nguồn nước tự nhiên.Bên cạnh đó, chính sự quan liêu, thiếu chặt chẽ trong công tác quản lý bảo vệ môi trường của nhà nước cũng đang tiếp tay cho hành vi phá hoại môi trường. Một số cô quan chức năng cũng chưa thật sự quan tâm đến vấn đề bảo về môi trường, chưa có biện pháp chế tài thật sự hiệu quả để xử lí các trường hợp vi phạm.

NHỮNG HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG CỦA Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Đối với sức khoẻ con người:

Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với sức khoẻ con người

Ô nhiễm không khí có ảnh hưởng khá lớn đến sức khoẻ con người mà chủ yếu là hệ hô hấp.  Một số bệnh do ô nhiễm không khí gây ra: viêm phế quản, hen suyển, chóng mặt, đau đầu, các vấn đề về tim mạch, rối loạn neurobehavioral,….Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất là người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người đang mang bệnh, trẻ em dưới 15 tuổi,…  Ngoài ra, vấn đề về biến đổi khí hậu khiến cho nhiệt độ tăng giảm bất thường, gây ra các bệnh như đột quỵ, chuột rút do nhiệt hoặc gây tử vong.

Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khoẻ con người

Nước bị ô nhiễm là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người.Các bệnh gây ra cho ô nhiễm nước là tiêu chảy, dịch tả, thương hàn, viêm gan, viêm não, bệnh do muỗi truyền, thiếu máu…Vấn đề hô hấp, phát ban da cũng là một trong những vấn đề sức khoẻ mà ô nhiễm nước gây ra.

Ảnh hưởng của ô nhiễm đất đối với sức khoẻ con người

Ô nhiễm đất ảnh hưởng trực tiếp đến nông sản, làm nông sản nhiễm độc và người sử dụng nông sản đó sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều về sức khoẻ. Các bệnh có thể gây ra khi sử dụng nông sản bị nhiễm độc là gan to, hệ thần kinh, hệ di truyền, giảm chỉ số thông minh ở trẻ em…

Đối với hệ sinh thái: Ô nhiễm môi trường sẽ dẫn tới sự điều tiết của hệ sinh thái bị thay đổi. Mối đe doạ chính và tác động trực tiếp đối với hệ sinh thái chính là ô nhiễm không khí. Ô nhiễm không khí có thể dẫn tới mưa axit làm huỷ diệt các khu rừng. Mặc dù không dẫn tới tuyệt chủng nhưng việc cây cối bị chết sẽ dẫn tới cấu trúc loài bị giảm. Đối với kinh tế-xã hội: Theo đó, ô nhiễm môi trường có thể gây ảnh hưởng đối với môi trường kinh tế – xã hội. Cụ thể:

Gây thiệt hại về kinh tế do nhiều bệnh tật, làm sức khoẻ con người suy giảm, ảnh hưởng lớn đến kinh tế mà trực tiếp là vấn đề về nguồn lao động

Gây thiệt hại về kinh tế do ảnh hưởng đến nông sản và thuỷ sản, nông sản và thuỷ sản trong môi trường bị ô nhiễm sẽ có nguy cơ lớn bị nhiễm độc và không thể sử dụng được, làm giảm năng suất, sản lượng.

Gây thiệt hại đối với hoạt động du lịch, các khu vực bị ô nhiễm sẽ gây ảnh hưởng lớn đến cảnh quan tự nhiên, giảm hoặc mất khả năng trở thành địa điểm tham quan, du lịch.

Gây thiệt hại về kinh tế do phải cải thiện môi trường, chi phí để cải thiện môi trường là một con số không hề nhỏ, ảnh hưởng rất nhiều đến tài chính quốc gia.

biện pháp khắc phục Nâng cao ý thức của người dân, vứt rác đúng nơi quy định, không xả rác lung tung

Hạn chế sử dụng chất tẩy rửa để ngừa tắc cống thoát nước

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường. Có biện pháp xử lý, răng đe mạnh tay với các trường hợp vi phạm.

Xây dựng hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế

Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát môi trường

Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ phụ trách công tác môi trường

Đầu tư, trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại

Trồng cây, gây rừng

Chôn lấp và đốt rác thải một cách khoa học

Sử dụng năng lượng thân thiện với môi trường như gió, mặt trời

Tái chế rác thải

Phòng chống ô nhiễm từ sinh hoạt hằng ngày như phân loại rác thải, hạn chế sử dụng túi nilong,…

Sử dụng những sản phẩm hữu cơ

Tuyên truyền về hậu quả của ô nhiễm môi trường, tổ chức các buổi giáo dục ý thức cho các thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên,….

Sử dụng điện hợp lý

Thực Trạng, Nguyên Nhân Và Giải Pháp Phòng Chống

Thứ hai, 11/11/2019 – 09:32′

Tham nhũng “vặt” là vấn nạn của đất nước, đã và đang “gặm nhấm”, làm suy đồi đạo đức xã hội, mục ruỗng thể chế chính trị. Nhận diện, chỉ rõ thực trạng, hệ lụy, nguyên nhân và đề ra giải pháp để từng bước triệt tiêu vấn nạn này là yêu cầu cấp thiết của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trước hết là của cấp ủy, người đứng đầu chính quyền các cấp.

I – Thực trạng, hệ lụy và nguyên nhân tham nhũng “vặt” ở nước ta

Hiện nay, tham nhũng đã trở thành nguy cơ hiện hữu dẫn đến sự suy đồi văn hóa, đạo đức của con người, xã hội; lực cản không nhỏ đối với sự phát triển của đất nước. Tham nhũng thường có hai loại: tham nhũng “lớn” và tham nhũng “vặt”. Tuy nhiên, ranh giới giữa tham nhũng “lớn” và tham nhũng “vặt” rất mỏng manh, chia ra như vậy là để phân biệt một cách tương đối nhằm tìm ra phương thuốc đặc trị từng loại. Tham nhũng “vặt” là hành vi của những người: “a. Cán bộ công chức, viên chức; b. Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; c. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d. Người được giao nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”1 lợi dụng chức trách, quyền hạn, nhiệm vụ để nhũng nhiễu, gây khó khăn nhằm vụ lợi từ tổ chức, doanh nghiệp và người dân, với giá trị vật chất không lớn, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi này diễn ra từ lâu, hằng ngày, ở nhiều nơi, nhiều cơ quan, tổ chức và các vị trí khác nhau ở cấp cơ sở2, thậm chí gần như đã trở thành “thông lệ”, “thói quen”,  hình thức “bôi trơn”, “văn hóa” của không ít cán bộ, công chức, viên chức. Nó được ví như “bệnh ghẻ ruồi”, cứ dấm dứt, dai dẳng, dễ lây lan, làm cho từng cá nhân, cả xã hội bức xúc, bất an và “tình trạng tham nhũng “vặt” vẫn chưa được ngăn chặn, kiềm chế”3.

Tham nhũng “vặt” nhưng hậu quả thì không hề “vặt” và rất khó lường. Đó là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; làm xói mòn giá trị đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ; làm hư hỏng cán bộ, gây phiền toái cho nhân dân và những công chức, viên chức chân chính của nhà nước. Tuy giá trị vật chất không lớn, nhưng nó đã góp phần vào làm thất thoát tài sản, công sức của Nhà nước, quyền lợi, vật chất của nhân dân, từng bước “gặm nhấm” làm rối loạn các giá trị chuẩn mực xã hội, làm suy yếu cơ quan công quyền; đồng thời, là cơ sở để cho tham nhũng “lớn” phát triển, làm lũng loạn xã hội. Tham nhũng “vặt” làm mất niềm tin của các nhà đầu tư, làm vẩn đục môi trường kinh doanh, gây nên tiền lệ “xin – cho”, “lót tay” trong đấu thầu kinh doanh, v.v. Đặc biệt, nó là căn nguyên dẫn đến sự giảm sút lòng tin của con người với con người trong xã hội, của các thành viên trong tổ chức; là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng công kích, chống phá Đảng, chế độ và sâu xa hơn là làm xói mòn lòng tin của nhân dân với thể chế chính trị, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước trong lòng nhân dân và trên trường quốc tế. 

Sở dĩ có hiện tượng đó, là do xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, cùng nhau tác động, thúc đẩy làm cho tham nhũng “vặt” ra đời, phát triển. Về nguyên nhân khách quan, tham nhũng dù “lớn”, hay “vặt” cũng đều là hiện tượng xã hội, là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, đạo đức công vụ. Nó tồn tại ở mọi chế độ xã hội có giai cấp, ở mọi hình thức nhà nước, với mức độ khác nhau. Điển hình là, khi trình độ quản lý nhà nước lạc hậu; mức sống của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là ở cơ sở còn thấp; những giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội bị xáo trộn; người dân, doanh nghiệp có xu hướng tìm mọi cách để thực hiện bằng được mục đích trong cuộc sống và tối ưu hóa lợi nhuận trong kinh doanh. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách vận hành, quản lý xã hội, quản lý sản xuất, kinh doanh còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán; việc phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương còn bất cập; việc quản lý tài sản, vốn của nhà nước còn lỏng lẻo; dư luận xã hội còn thờ ơ, hoặc phản ứng chưa đủ mạnh, thậm chí có lúc “đồng lõa”,… cũng tạo mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, tham nhũng “vặt” tồn tại, phát triển.

Về nguyên nhân chủ quan, là do: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chậm chuyển biến”4. Cùng với đó, công tác cải cách hành chính còn chậm và lúng túng; nạn giấy tờ, thủ tục hành chính còn rất phiền hà, bất hợp lý. Các chế độ kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức chưa rõ ràng, thiếu hiệu quả. Chế độ tiền lương đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn bất hợp lý, chậm được cải cách. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, tham nhũng “vặt” chưa toàn diện, đồng bộ, thiếu những nội dụng đột phá, thậm chí còn bị coi nhẹ ở một số cơ quan, đơn vị. Việc phát hiện cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chưa kịp thời và khi xử lý thì còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết; chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân kiên quyết đấu tranh chống hiện tượng tham nhũng “vặt” và có nhiều thành tích trong loại bỏ tệ nạn xã hội này. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng chưa rõ ràng, còn chồng chéo, cơ chế phối hợp chưa cụ thể, nhất là chưa có những công cụ phát hiện, xử lý tham nhũng, tham nhũng “vặt” thật sự hữu hiệu. Việc huy động, phát huy vai trò của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí trong đấu tranh chống tham nhũng, tham nhũng “vặt” chưa được quan tâm đúng mức, còn hình thức, thiếu hiệu quả. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng chưa tạo được sự chuyển biến tích cực, v.v.

Vì thế, nhìn thẳng vào sự thật, nhận diện đúng thực trạng, hệ lụy và nguyên nhân của tham nhũng “vặt”, đề ra những nội dung, giải pháp đủ mạnh để đấu tranh, phòng, chống tham nhũng “vặt” hiệu quả là trách nhiệm chính trị, nhiệm vụ cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của cấp ủy, người đứng đầu các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị.

Thực Trạng Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em: Nguyên Nhân, Hậu Quả Và Giải Pháp Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Thực trạng suy dinh dưỡng trẻ em: Nguyên nhân, hậu quả và giải pháp phòng chống suy dinh dưỡng

Thực trạng và phân loại suy dinh dưỡng trẻ em

1.1.Thực trạng suy dinh dưỡng của trẻ em

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay còn ở mức cao, đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi của trẻ không đạt so với chuẩn tăng trưởng của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2006). Theo số liệu điều tra dinh dưỡng toàn quốc của Viện Dinh dưỡng quốc gia năm 2018: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi là 24,3% và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng theo tuổi của trẻ không đạt so với chuẩn tăng trưởng của WHO 2006) là 13,1%.

Định nghĩa: “Suy dinh dưỡng là tình trạng thiếu hụt các chất dinh dưỡng cần thiết, làm ảnh hưởng đến quá trình sống, hoạt động và tăng trưởng bình thường của trẻ”. Nói một cách khác là trẻ có cân nặng, chiều cao, vòng cánh tay, một số chỉ số cận lâm sàng,… không đạt/thấp hơn so với tiêu chuẩn của trẻ bình thường.

Hậu quả của suy dinh dưỡng: Khi trẻ bị suy dinh dưỡng sẽ có những hậu quả và ảnh hưởng đến phát triển của trẻ như sau:

Kém phát triển thể lực: Thấp bé, nhẹ cân – cân nặng và chiều cao thấp hơn các bạn cùng tuổi và giới, mệt mỏi, yếu ớt.

Kém phát triển trí tuệ: Lực học kém, chậm nói, giao tiếp xã hội kém, giảm khả năng tập trung,… ảnh hưởng đến tương lai của trẻ.

Dễ bị mắc bệnh do virus, vi khuẩn, nấm,… hoặc làm trầm trọng hơn các bệnh lý mạn tính.

Tăng nguy cơ tử vong.

Có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch, đái tháo đường, ung thư, thừa cân, béo phì khi trưởng thành.

-1SD: Dưới chuẩn độ 1 (nguy cơ/đe doạ suy dinh dưỡng).

-2SD: Dưới chuẩn độ 2 (Suy dinh dưỡng mức độ vừa).

-3SD: Dưới chuẩn độ 3 (Suy dinh dưỡng mức độ nặng).

+ Suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao/tuổi):

Chiều cao/tuổi từ -2SD trở lên : Bình thường

Chiều cao/tuổi từ < -2SD đến ≥ -3SD : Suy dinh dưỡng thấp còi vừa

Chiều cao/tuổi < -3SD : Suy dinh dưỡng thấp còi nặng

+ Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi):

Cân nặng/tuổi từ -2SD đến +2SD : Bình thường

Cân nặng/tuổi từ < -2SD đến ≥ -3SD : Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân vừa

Cân nặng/tuổi < -3SD : Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân nặng

+ Suy dinh dưỡng thể gầy còm:

Cân nặng/chiều cao từ < -2SD đến +2SD : Bình thường

Cân nặng/chiều cao từ < -2SD đến ≥ -3SD : Suy dinh dưỡng thể gầy còm vừa

Cân nặng/chiều cao < -3SD : Suy dinh dưỡng thể gầy còm nặng

– Bé trai 20 tháng tuổi có chiều cao 78 cm: Bé có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể thấp còi vì chiều cao thấp hơn -2SD, căn cứ vào bảng tiêu chuẩn chiều cao của trẻ từ 0 – 2 tuổi theo số liệu mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới WHO 2006 thì -2SD là 78,6 cm.

Suy dinh dưỡng cấp tính:

– Bé gái 22 tháng tuổi có cân nặng 8,3 kg: Bé có nguy cơ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân vì cân nặng của bé thấp hơn -2SD, căn cứ vào bảng tiêu chuẩn cân nặng của trẻ từ 0 – 2 tuổi theo số liệu mới nhất của Tổ chức Y tế Thế giới WHO 2006 thì -2SD là 8,7 kg.

Một số biểu hiện của suy dinh dưỡng cấp tính:

Ngoài 3 loại suy dinh dưỡng (thể thấp còi, thể nhẹ cân và thể gầy còm) nêu trên thì còn có suy dinh dưỡng nặng cấp tính ở trẻ nhỏ do thiếu ăn cấp hoặc bệnh tật (tiêu chảy, viêm đường hô hấp…). Tuy nhiên, thể suy dinh dưỡng này hiện nay chỉ gặp ở những vùng nghèo, đói ăn, thiên tai hoặc khi trẻ bị bệnh nặng…

Chỉ tiêu nhân trắc cho trẻ 12-59 tháng tuổi:

Vòng cánh tay dưới 11,5 cm.

Cân nặng theo chiều cao (chiều dài): < -3SD.

Một số thể suy dinh dưỡng cấp tính nặng có thể gặp ở trẻ nhỏ như Kwashiorkor và Marasmus.

*Suy dinh dưỡng thể phù (Kwashiorkor): Nguyên nhân chủ yếu do thiếu protein (đạm). Dấu hiệu nhận biết là:

Có biểu hiện phù dinh dưỡng, phù 2 chi dưới sau phù toàn thân (phù trắng mềm, ấn lõm). Khi phù vòng cánh tay, cân nặng có thể bình thường; Trẻ hay bị rối loạn tiêu hoá, viêm phổi.

Trẻ bị thiếu các vitamin A và khoáng chất (canxi), gan to do thoái hoá mỡ và suy tim do thiếu đạm,…

Các triệu chứng cận lâm sàng: Protein máu giảm, Pre-albumin máu giảm, huyết sắc tố giảm, Hematocrit giảm, Natri và Kali giảm…

* Suy dinh dưỡng thể teo đét (Marasmus): Nguyên nhân chủ yếu do khẩu phần ăn thiếu năng lượng. Một số biểu hiện:

– Trẻ gầy đét, mặt hốc hác, da nhăn nheo như cụ già, mất hết lớp mỡ dưới da,…

– Trẻ có triệu chứng thiếu các vitamin A, D, K, B1, B12…

– Trẻ mất cảm giác thèm ăn.

1.3. Một số chỉ tiêu cận lâm sàng và lâm sàng của suy dinh dưỡng

– Các triệu chứng cận lâm sàng: Protein máu giảm, Pre-albumin máu giảm, huyết sắc tố giảm, Hematocrit giảm…

Protein máu có thể giảm nhẹ.

Hb thường giảm < 110 g/dl.

Albumin máu giảm nhẹ.

Điện giải đồ: Kali, Natri máu thường giảm.

Xét nghiệm các vi chất dinh dưỡng thường thấp.

Xét nghiệm miễn dịch: Lympho T, IgA thường giảm.

Xét nghiệm hormone nội tiết đối với trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi thường có biểu hiện rối loạn nội tiết…

Trẻ suy dinh dưỡng thường có biểu hiện biếng ăn, rối loạn tiêu hoá…

Nguyên nhân suy dinh dưỡng

Nguyên nhân suy dinh dưỡng thường gặp là do chế độ ăn không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của trẻ hoặc do mắc một số bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, rối loạn tiêu hoá hay uống kháng sinh kéo dài ảnh hưởng đến khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng. Trẻ suy dinh dưỡng thường kèm theo thiếu các vi chất dinh dưỡng (thiếu vitamin và chất khoáng) hay gặp nhất là thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt, thiếu kẽm gây biếng ăn, chậm lớn hoặc bị còi xương do thiếu vitamin D, canxi…

Nguyên nhân của suy dinh dưỡng còn có thể do trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai, chế độ chăm sóc không tốt, ví dụ: Trẻ không được bú mẹ, ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, chăm sóc dinh dưỡng khi trẻ ốm không đúng, kiêng khem quá mức dẫn đến không đáp ứng nhu cầu của cơ thể.

Nguyên nhân của suy dinh dưỡng thấp còi thường là do hậu quả của thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài hoặc trẻ bị bệnh nhiễm khuẩn lâu ngày, dẫn đến thiếu các vitamin A, sắt, kẽm, canxi… Hậu quả của suy dinh dưỡng thấp còi thường dẫn đến chậm phát triển chiều cao/tầm vóc thấp bé, chậm phát triển trí tuệ – học tập kém; Về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất lao động, hiệu quả kinh tế gia đình. Những phụ nữ bị suy dinh dưỡng thấp còi/tầm vóc bé có nguy cơ cao hơn về biến chứng sản khoa do khung chậu nhỏ, có nguy cơ sinh con nhẹ cân tạo thành một vòng luẩn quẩn của suy dinh dưỡng liên thế hệ. Mặt khác, suy dinh dưỡng thấp còi khi nhỏ dẫn đến nguy cơ thừa cân, béo phì và các bệnh mạn tính khi trưởng thành.

Nguyên nhân của suy dinh dưỡng cấp tính thường do thiếu ăn cấp tính do nạn đói, nghèo, thiên tai… và bệnh lý cấp tính nặng như tiêu chảy, viêm đường hô hấp nhưng trẻ không được chăm sóc dinh dưỡng tốt. Ngoài ra, một số bệnh mạn tính ảnh hưởng đến tiêu hoá, chuyển hoá như dị tật ống tiêu hóa, bệnh tim… cũng dẫn đến giảm hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết cho tăng trưởng của trẻ.

Một số giải pháp can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

+ Điều trị các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp, rối loạn tiêu hoá,…). Song song với chăm sóc dinh dưỡng hợp lý, cần điều trị khỏi các bệnh nhiễm khuẩn gây suy dinh dưỡng ở trẻ.

+ Theo dõi cân nặng và chiều cao của trẻ hàng tháng khi trẻ dưới 12 tháng tuổi và 2 – 3 tháng/lần khi trẻ trên 12 tháng tuổi để kịp thời phát hiện dấu hiệu chậm tăng trưởng (suy dinh dưỡng). So sánh với biểu đồ tăng trưởng để theo dõi sự phát triển cân nặng, chiều cao của trẻ với mục đích triển khai các giải pháp can thiệp dinh dưỡng phù hợp và sớm khi trẻ có nguy cơ chậm tăng trưởng để phòng chống suy dinh dưỡng.

+ Thực hành lý tưởng về nuôi dưỡng trẻ nhỏ:

+ Đầu tư vào 1000 ngày đầu đời của trẻ (từ khi mẹ bắt đầu mang thai cho đến khi trẻ được 24 tháng tuổi) là yếu tố quan trọng nhất để phòng chống suy dinh dưỡng. Chăm sóc dinh dưỡng sớm cho phụ nữ mang thai (bổ sung đa vi chất hoặc sắt folic, canxi,…) giúp bà mẹ tăng cân ổn định, có tình trạng dinh dưỡng tốt khi mang thai và sinh con khoẻ mạnh, không bị cân nặng sơ sinh thấp < 2500 g. Con sinh ra khỏe mạnh, ít có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

+ Bổ sung vi chất dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe hệ tiêu hóa cho trẻ:

Cho trẻ bú mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh.

Không cho trẻ ăn uống gì trước khi bú mẹ. Cho trẻ bú mẹ theo nhu cầu cả ngày lẫn đêm.

Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và kéo dài đến 24 tháng tuổi.

Bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung khi tròn 6 tháng tuổi (180 ngày).

Cho trẻ ăn đủ số bữa và đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.

Cho trẻ ăn đa dạng thực phẩm, bổ sung thực phẩm giàu năng lượng và các chất dinh dưỡng. Cho trẻ ăn thịt, cá, trứng và thêm dầu mỡ vào bột/cháo hàng ngày.

Nếu trẻ biếng ăn: Chia nhỏ các bữa ăn và cho ăn nhiều bữa trong ngày. Bổ sung mỡ/dầu vào thức ăn của trẻ; Cho trẻ ăn thêm sữa chua (sữa chua ăn, sữa chua uống); Bổ sung chất xơ hoà tan cũng như vi chất dinh dưỡng…

Bổ sung vitamin A cho trẻ 6 – 59 tháng tuổi.

Bổ sung kẽm dự phòng cho trẻ 12 – 59 tháng (đặc biệt những trẻ bị tiêu chảy).

Để giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, cha mẹ cần giải quyết được các vấn đề sau:

Bổ sung đa vi chất dinh dưỡng (các vitamin A, D, nhóm B, E, K… và khoáng chất: Fe, Zn, Ca, Magie, Phospho, L-lysine, taurine, magnesium, zinc, canxi…) nâng cao sức đề kháng tự nhiên, làm hệ tiêu hóa khỏe mạnh, giúp ăn ngon, tăng cường hấp thu dưỡng chất, ngăn ngừa rối loạn tiêu hóa cho những trẻ thiếu vi chất dinh dưỡng và có nguy cơ suy dinh dưỡng.

Bổ sung vi khuẩn có lợi probiotic – chủng vi khuẩn sinh bào tử Bacillus subtilis giúp duy trì sự cân bằng hệ vi sinh đường ruột, ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, phòng ngừa và cải thiện tình trạng loạn khuẩn đường ruột, hấp thu kém hiệu quả.

Bổ sung nhóm thảo dược an toàn, lành tính với trẻ nhỏ, kích thích hệ tiêu hóa sản xuất men tiêu hóa nội sinh như: Bạch truật, hoài sơn, sơn tra có tác dụng kiện tỳ, táo thấp, bổ tỳ giúp tăng cường sức khỏe hệ tiêu hóa, kích thích sản xuất men tiêu hóa, cải thiện tình trạng khó tiêu đầy bụng, khiến trẻ ăn ngon miệng, tăng hấp thu dưỡng chất. Các vị dược liệu này được coi là nguồn cung cấp chất xơ, vi chất tự nhiên cho cơ thể, tạo môi trường cho vi sinh vật phát triển, sản sinh men vi sinh giúp cho quá trình tiêu hóa tốt hơn, hấp thu tối đa chất dinh dưỡng, cải thiện tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, rối loạn tiêu hóa, biếng ăn, tiêu chảy, suy dinh dưỡng,…

Bổ sung cho trẻ chất Inulin – chất xơ có nguồn gốc từ thực vật và chất xơ hòa tan fructose oligosaccharide (FOS): Giúp phòng ngừa và khắc phục chứng táo bón, khó tiêu, đầy bụng, tiêu chảy, tạo môi trường nuôi dưỡng lợi khuẩn, làm tăng số lượng men vi sinh trong đường ruột.

Áp dụng đồng thời tất cả các giải pháp trên, đặc biệt là bổ sung chất xơ, khoáng chất, vitamin cần thiết và cân bằng hệ vi sinh đường ruột cho bé sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em hiện nay.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe – Cốm vi sinh BEBUGOLD

Cốm vi sinh BEBUGOLD là sản phẩm cốm chứa thành phần Bacillus subtilis kết hợp với các thành phần khác như: Calcium gluconate; Inulin; Fructose oligosaccharide; Cao Bạch truật; Cao Hoài sơn; Cao Sơn tra; L-Lysine; Taurine; Magnesium; Kẽm gluconate; vitamin B5; vitamin B6; Vitamin B2; Vitamin B1… giúp bổ sung lợi khuẩn, vitamin và khoáng chất. Hỗ trợ tăng cường tiêu hóa, giúp ăn ngon và giảm các biểu hiện do loạn khuẩn đường ruột.

Thực phẩm bảo vệ sức khỏe – Cốm vi sinh BEBUGOLD dùng cho người bị rối loạn tiêu hóa do loạn khuẩn đường ruột hoặc dùng kháng sinh kéo dài với các biểu hiện: Đau bụng, khó tiêu, táo bón, phân sống. Trẻ kém ăn, suy dinh dưỡng, kém hấp thu.

Trẻ từ 6 tuổi trở lên: Uống 4 gói/ngày chia 2 lần.

Cách pha: Cốm pha với nước nguội, nước ấm, khuấy đều cho tan và uống ngay. Có thể trộn chung với sữa, thức ăn. Tuy nhiên, cần lưu ý nhiệt độ thức ăn không nên quá nóng (dưới 40 0 C). Tốt nhất là nên dùng sau khi ăn 30 phút.

Nên sử dụng từng đợt từ 1 – 3 tháng để có kết quả tốt.

Sản phẩm được tiếp thị bởi Công ty TNHH Dược phẩm Á Âu.

Địa chỉ: 171 Phố Chùa Láng – Đống Đa – Hà Nội.

ĐT: 024.38461530 – 024.37367519

Hiện nay, nhãn hàng BEBUGOLD đang có chương trình TÍCH ĐIỂM – TẶNG QUÀ, tích đủ 6 điểm tặng 1 hộp cốm vi sinh BEBUGOLD. Đặc biệt, để khẳng định thêm chất lượng, cốm vi sinh BEBUGOLD cam kết hoàn tiền 100% nếu khách hàng sử dụng không hiệu quả. Chi tiết liên hệ tổng đài miễn cước: 18006214, hotline (ZALO/VIBER): 0917.212.364

Website: https://bebugold.vn/

*Thực phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Thực Trạng Chất Lượng Không Khí, Nguyên Nhân Và Giải Pháp

Chiều ngày 4/6/2020 được sự ủy quyền của Ông Nguyễn Văn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Ông Hoàng Văn Thức, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường đã có buổi trao đổi, cung cấp thông tin cho Đài truyền hình Quốc hội và Đài Truyền hình Công an nhân dân về thực trạng chất lượng không khí, nguyên nhân ô nhiễm và những giải pháp khắc phục ô nhiễm không khí.

Ô nhiễm không khí đang trở thành thách thức lớn đối với công tác quản lý môi trường của các chính quyền đô thị Tại buổi trao đổi, Ông Hoàng Văn Thức cho biết, vấn đề ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi lơ lửng tổng số (TSP), bụi mịn (PM10, PM2.5) đang trở thành thách thức lớn đối với công tác quản lý môi trường của các chính quyền đô thị. Đây là xu thế chung của các nước đang phát triển và nước ta cũng không nằm ngoài xu thế đó. Với mức độ tăng trưởng nhanh trong thời gian gần đây, nguồn phát sinh khí thải từ các hoạt động giao thông vận tải, các khu công nghiệp và các làng nghề, các hoạt động phát triển đô thị đang có xu hướng gia tăng đòi hỏi sự quan tâm và quản lý đồng bộ của các cấp, các ngành và đặc biệt là chính quyền các địa phương, đặc biệt là tại 02 Thành phố lớn của cả nước: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hà Nội: Kết quả quan trắc cho thấy chất lượng không khí theo xu hướng biến động của PM10 và PM2.5 tại thành phố Hà Nội chịu tác động rất nhiều từ điều kiện thời tiết khí hậu (hiện tượng nghịch nhiệt) kết hợp với các nguồn ô nhiễm vốn có và hoạt động đốt rơm rạ trong mùa thu hoạch, dẫn đến chỉ số chất lượng không khí (AQI) tăng cao, hiện tượng này mang tính cục bộ tại một số khu vực, một số thời điểm nhất định. Trong 04 tháng đầu năm 2020, Hà Nội có 47,3% số ngày có giá trị PM2.5 trung bình 24 giờ vượt giới hạn quy chuẩn cho phép; trong đó có những ngày ô nhiễm ở mức khá cao (ngày 14/1, 02/2, 20/2 và 16/3), giá trị PM2.5 trung bình 24 giờ vượt từ 2 – 3,4 lần giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT. Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Kết quả quan trắc cho thấy có sự gia tăng mạnh mẽ nồng độ bụi PM2.5 trong không khí do hiện tượng nghịch nhiệt, sương mù quang hóa, tuy nhiên phần lớn thông số ô nhiễm vẫn nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT. Như vậy, có thể nhận định vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh nói riêng và các đô thị khác trong toàn quốc chủ yếu tập trung vào ô nhiễm bụi, đặc biệt là bụi mịn PM2.5. Các thông số khác (NO2, O3, CO, SO2) vẫn có giá trị đạt QCVN 05:2013/BTNMT. Các nguồn phát thải của con người là nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm không khí Ông Hoàng Văn Thức cho biết, chất lượng không khí bị tác động từ 2 yếu tố chính là nguồn phát thải (do con người) và điều kiện khí tượng (do tự nhiên). Nguyên nhân chính gây ra tình trạng bụi PM2.5 tăng cao là do các nguồn phát thải của con người, có thể kể đến các nguyên nhân chủ yếu như sau: Thứ nhất, một trong các nguồn phát sinh bụi, khí thải chính ở các đô thị lớn, đặc biệt là tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là khí thải từ hoạt động giao thông. Tiêu chuẩn khí thải của Việt Nam đối với ô tô, xe máy cũng đang đi sau so với nhiều nước trên thế giới, vì vậy dẫn đến tình hình phát sinh khí thải từ các phương tiện giao thông chưa được kiểm soát hiệu quả. Thứ hai, gây ô nhiễm không khí là do hoạt động xây dựng tại các đô thị như xây dựng, sửa chữa, cải tạo đường giao thông, các khu chung cư, nhà cao tầng, xây dựng công trình công ích (lát vỉa hè, cải tạo sửa chữa đường ống điện, nước v.v…). Ví dụ, vào thời điểm hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 1.000 dự án công trình xây dựng, giao thông đang được triển khai. Việc chưa nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về vệ sinh môi trường, che chắn bụi tại các công trường xây dựng và phương tiện chuyên chở nguyên vật liệu, phế thải xây dựng, rửa xe trước khi ra khỏi công trường, phun nước rửa đường… đã làm phát sinh lượng lớn bụi vào môi trường không khí. Thứ ba, hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cũng là một nguồn phát sinh bụi, khí thải lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không khí. Thứ tư, khí thải từ hoạt động dân sinh (trên địa bàn Hà Nội có khoảng 60.000 bếp than tổ ong); bụi, khói mù từ hoạt động đốt rơm rạ sau thu hoạch ở khu vực ngoại thành; hoạt động đốt chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất không đúng quy định cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh các nguyên nhân trên, chất lượng không khí ở các đô thị cũng có thể bị ảnh hưởng do lan truyền ô nhiễm không khí xuyên biên giới, ví dụ chất lượng không khí ở thành phố Hồ Chí Minh có thể bị ảnh hưởng nhất định do cháy rừng ở Indonesia. Tuy nhiên, các nguyên nhân ô nhiễm nội tại vẫn là chủ yếu. Quản lý, kiểm soát và cải thiện chất lượng không khí bằng các giải pháp đồng bộ Để tăng cường công tác quản lý, kiểm soát và cải thiện chất lượng không khí, trong thời gian tới, Ông Hoàng Văn Thức chia sẻ cần phải thực hiện các giải pháp đồng bộ như sau: Đối với UBND các tỉnh/ thành phố, đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cần thực hiện các giải pháp: (1) Tổ chức triển khai thực hiện hoạt động phun nước rửa đường tại các trục, tuyến đường giao thông chính của thành phố, đặc biệt là khi thời tiết hanh khô để hạn chế bụi phát tán; (2) Thu gom triệt để rác, bụi bẩn trên các trục, tuyến, giải phân cách đường giao thông; kiểm soát chặt chẽ các phương tiện đổ thải, đảm bảo che chắn cẩn thận, không làm rơi vãi, phát tán bụi ra môi trường, đặc biệt là tại khu vực tập trung điểm tập kết rác thải; (3) Khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng, giảm xe phương tiện cá nhân, loại bỏ phương tiện cơ giới lạc hậu gây ô nhiễm môi trường; trồng thêm nhiều cây xanh trong các khu vực đô thị; kiềm chế tốc độ “bê tông hoá” tại đô thị, các công trình giao thông, công trình xây dựng phải được che chắn, giảm thiểu đến mức tối đa ảnh hưởng đến môi trường xung quanh; (4) Đẩy nhanh việc ban hành và thực hiện kế hoạch phát triển giao thông vận tải công cộng khối lượng lớn thay thế việc sử dụng xe gắn máy, xe mô tô 2 bánh sử dụng nhiên liệu hóa thạch; (5) Tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động xây dựng, phá dỡ cải tạo công trình; (6) Tiến hành thống kê, đánh giá nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường từ các cơ sở công nghiệp, trong đó tập trung kiểm tra các cơ sở sản xuất có lò đốt, ống khói xả thải trên địa bàn khu vực ven đô, yêu cầu lắp đặt ngay trạm quan trắc khí thải tự động theo quy định tại Nghị định số 40/2019/NĐ-CP; (7) Tổ chức kiểm tra, xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm đối với các hành vi, hoạt động xử lý chất thải, đốt rác thải theo quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP; (8) Tuyên truyền, vận động người dân về tác hại của ô nhiễm môi trường, sức khỏe khi đốt chất thải, rơm rạ, sử dụng than tổ ong trong sinh hoạt để có ý thức chấm dứt hoạt động đốt; (9) Tăng cường tần suất quan trắc môi trường không khí trong chương trình quan trắc định kỳ và hệ thống các trạm quan trắc tự động, liên tục trên địa bàn. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí cần được công bố, công khai trên Cổng thông tin điện tử và phương tiện truyền thông; (10) Chỉ đạo cơ quan truyền thông trên địa bàn sử dụng các nguồn dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường không khí chính thống do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện để cung cấp thông tin cho cộng đồng xã hội. Đối với các Bộ, ngành trung ương, (1) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường, đặc biệt là lĩnh vực giao thông, xây dựng; kiểm soát các nguồn phát thải gây ô nhiễm môi trường không khí (giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng), xử lý nghiêm các hành vi vi phạm để tạo tính răn đe; (2) Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về BVMT, đặc biệt là quy định về BVMT không khí, giám sát, kiểm soát, đánh giá chất lượng môi trường không khí trong Luật BVMT (sửa đổi); thiết lập các hàng rào kỹ thuật, quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường, tiệm cận với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trên thế giới; (3) Đẩy nhanh lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải xe ô tô, xe gắn máy theo hướng chặt chẽ hơn; có cơ chế chính sách, công cụ kinh tế để thúc đẩy phát triển các loại phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch (điện, khí CNG,…); (4) Xây dựng, thiết lập được mạng lưới các trạm quan trắc không khí tự động, liên tục, đảm bảo cho việc quan trắc, thu nhận, truyền dẫn số liệu giúp các cơ quan quản lý có thể theo dõi, giám sát, cảnh báo, dự báo được chất lượng môi trường không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn; (5) Thực hiện hiệu quả các Chương trình tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp trong công tác BVMT; sớm đưa nội dung giáo dục về bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo tại các cấp học./.

Theo VEA

Cập nhật thông tin chi tiết về 4 Nếu Thực Trạng Nguyên Nhân Và Hậu… trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!