Xu Hướng 2/2024 # 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hệ tuần hoàn – gồm tim, các mạch máu và máu – là phần rất quan trọng giúp con người chống lại bệnh tật và duy trì trạng thái nội cân bằng (nhiệt độ thích hợp và cân bằng độ pH). Chức năng chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển máu, chất dinh dưỡng, các khí và hormone đến và đi từ các tế bào trong toàn cơ thể.

Nhịp đập của tim.

Nếu có thể kéo thẳng tất cả các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch trong cơ thể một người trưởng thành, chúng sẽ trải dài khoảng 100.000km. Thêm nữa, các mao mạch, vốn là phần nhỏ nhất trong các mạch máu, làm nên 80% độ dài này.

Có thể so sánh để dễ hình dung: chu vi trái đất khoảng 40.000km. Điều đó có nghĩa, chiều dài các mạch máu của một người có thể bao cuốn vòng quanh trái đất tới 2,5 lần.

Các tế bào hồng cầu phải “vặn mình” để “lọt” qua được mạch máu

Các mao mạch rất nhỏ, đường kính trung bình chỉ khoảng 8 micron (1/3.000 inch), tức là khoảng 1/10 đường kính một sợi tóc. Trong khi đó, các tế bào hồng cầu cũng có kích thước gần bằng các mao mạch mà chúng phải di chuyển qua. Do đó, các tế bào này phải di chuyển theo từng hàng đơn một.

Tuy nhiên, một số mao mạch có đường kính nhỏ hơn một chút so với tế bào máu, vì thế, để di chuyển qua, các tế bào này có lúc phải “vặn mình” sao cho “lọt”.

Kích thước cơ thể càng to, tim đập càng chậm

Trong thế giới động vật, nhịp tim có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với kích cỡ cơ thể: Nhìn chung, động vật càng lớn thì nhịp tim nghỉ càng chậm.

Một người trưởng thành có nhịp tim nghỉ trung bình khoảng 75 lần một phút. Đây cũng là nhịp đập của tim một con cừu trưởng thành.

Nhưng một con cá voi xanh có kích cỡ bằng chiếc xe hơi loại nhỏ, nhịp tim chỉ đập 5 lần/phút. Ngược lại, một con chuột chù lại có nhịp tim khoảng 1.000 lần/phút.

Tim vẫn đập khi nằm ngoài cơ thể

Trong cảnh phim ấn tượng năm 1984 của Indiana Jones and the Temple of Doom, một người đàn ông đã móc ra trái tim vẫn đang đập từ lồng ngực của một người đàn ông khác. Mặc dù việc dùng tay không dễ dàng móc tim người khác như thế chỉ là chuyện trong tiểu thuyết viễn tưởng, nhưng sự thực, đúng là tim vẫn có thể đập sau khi lấy ra khỏi cơ thể.

Nhịp đập kỳ quái đó sở dĩ vì tim tự sản sinh các xung động điện, đây chính là yếu tố tạo ra nhịp đập của nó. Do vậy, chừng nào tim còn nhận được oxy, nó còn tiếp tục đập, ngay cả khi đã tách rời cơ thể.

Tế bào hồng cầu.

Loài người đã nghiên cứu hệ tuần hoàn hàng nghìn năm nay

Những tài liệu bằng chữ viết được biết đến sớm nhất về hệ tuần hoàn xuất hiện trong sách giấy cói Ebers Papyrus, một tư liệu y khoa của người Ai Cập vào thế kỷ 16 trước công nguyên. Người ta tin rằng, loại sách cổ này đã mô tả mối liên hệ về mặt sinh lý học giữa tim và các động mạch. Theo đó, sau khi con người hít không khí vào phổi, không khí sẽ vào tim và sau đó chuyển tới các động mạch. Trong sách không đề cập tới vai trò của các tế bào hồng cầu.

Điều thú vị là những người Ai Cập cổ đại coi trái tim là trung tâm của con người. Họ tin rằng, trái tim, chứ không phải bộ não, là nơi sản sinh cảm xúc, trí tuệ và ký tính cùng nhiều điều khác. Thực tế, trong quá trình ướp xác, người Ai Cập lấy ra, bảo quản rất cẩn thận phần tim cùng các nội tạng khác, nhưng lại rút phần não qua đường mũi và vứt bỏ nó.

Các bác sĩ tin theo mô hình thiếu chính xác về hệ tuần hoàn trong suốt 1.500 năm

Vào thế kỷ thứ 2, vị bác sĩ kiêm triết gia người Hy Lạp Galen ở thành Pergamon đã tìm ra mô hình miêu tả hệ tuần hoàn được xem là có thể tin cậy. Ông đã nhận thức rất đúng đắn rằng, hệ tuần hoàn gồm máu trong tĩnh mạch (màu đỏ sẫm) và máu trong động mạch (màu sáng tươi), và đó là hai loại chức năng khác nhau.

Nhưng ông lại cho rằng, hệ tuần hoàn gồm 2 hệ thống phân phối máu một chiều (đáng ra phải là một hệ thống duy nhất), và gan là bộ phận sản sinh ra máu ở tĩnh mạch mà cơ thể tiêu thụ. Ông Galen cũng nghĩ, tim là bộ phận hút chứ không phải bộ phận có chức năng bơm đẩy máu đi nuôi cơ thể.

Lý thuyết về hệ tuần hoàn của ông Galen thống trị trong giới y học châu Âu cho mãi tới những năm 1600, khi vị bác sĩ người Anh William Henry miêu tả được chính xác quá trình tuần hoàn máu.

Các tế bào hồng cầu rất đặc biệt

Không giống với hầu hết các tế bào khác trong cơ thể, tế bào hồng cầu không có nhân. Vì thiếu kết cấu rất lớn bên trong này mà mỗi tế bào hồng cầu có thêm không gian để chứa khí oxy cơ thể cần. Nhưng khi không có nhân, các tế bào không thể phân đôi hoặc tổng hợp các thành phần tế bào mới được.

Sau khi tuần hoàn trong cơ thể khoảng 120 ngày, tế bào hồng cầu sẽ chết do lão hóa hoặc bị phá hủy. Nhưng bạn đừng lo lắng, tủy xương trong cơ thể chúng ta sẽ liên tục sản sinh các tế bào hồng cầu mới để thay thế cho số mất đi đó.

Chấm dứt một mối quan hệ có thể làm “tan nát trái tim bạn”

Đây là tình trạng có tên gọi là bệnh cơ tim do căng thẳng. Bệnh này gây trạng thái yếu đi tạm thời và đột xuất của cơ tim. Tình trạng này dẫn tới những triệu chứng gần giống với đau tim như đau ngực, khó thở và đau cánh tay.

Trạng thái này còn được biết tới với tên gọi phổ biến là “hội chứng trái tim tan vỡ”. Vì nó thường là hệ quả của một sự kiện chấn động về cảm xúc như sự mất đi người thân hay ly hôn, chia tay với người yêu hoặc xa cách về địa lý với người thân yêu nào đó.

Tự thí nghiệm dẫn tới những bước ngoặt trong điều trị hệ tuần hoàn

Thông tim là liệu pháp y học được sử dụng phổ biến ngày nay. Thủ thuật này được thực hiện bằng cách đưa một ống thông dài và mảnh vào mạch máu người bệnh, sau đó luồn dẫn tới tim. Các bác sĩ sử dụng kỹ thuật này nhằm thực hiện một số xét nghiệm chẩn đoán về tim như đo lượng oxy trong các phần khác nhau của tim, hoặc kiểm tra máu chảy trong các động mạch vành.

Bác sĩ người Đức Werner Forssmann đã phát minh ra kỹ thuật này vào năm 1929 sau khi ông thử nghiệm nó trên chính mình.

Bác sĩ Werner thuyết phục người y tá giúp ông, nhưng cô này một mực đòi ông thử nghiệm trên cô trước. Ông vờ thuận tình và bảo cô nằm lên bàn phẫu thuật, rồi buộc chặt hai chân và hai tay cô lại. Sau đó, không để cô y tá biết, ông tự gây tê cánh tay trái của mình. Ông vờ như chuẩn bị dùng cánh tay của cô y tá trong thủ thuật, cho tới khi thuốc tê có tác dụng và ông đã có thể luồn ống thông vào cánh tay mình.

Việc luồn ống thông hoàn thành (và cô y tá đã rất sợ hãi), cả hai cùng đi tới phòng chụp tia X ở tầng dưới. Tại đó, bác sĩ Forssmann dùng kính huỳnh quang để giúp chỉnh hướng cho ống thông dài 60cm (24 inch) đi vào tới tim mình.

Máu người có nhiều màu khác nhau – nhưng không thể xanh

Dòng máu giàu oxy chảy qua các động mạch và mao mạch của bạn luôn có màu đỏ tươi. Sau khi vận chuyển oxy tới các mô trong cơ thể, máu bạn sẽ chuyển sang đỏ sẫm khi nó trở lại tim qua các tĩnh mạch.

Mặc dù đôi khi các tĩnh mạch có màu trông như xanh khi nhìn qua da, nhưng đó không phải vì máu bạn màu xanh. Sự sai lạc về màu sắc của tĩnh mạch do các bước sóng khác nhau của ánh sáng khi xuyên qua da đã được hấp thụ và phản chiếu lại mắt bạn. Vì vậy, chỉ ánh sáng có tần số cao (màu xanh) mới có thể xuyên qua tĩnh mạch và phản chiếu trở lại.

Nhưng điều đó không có nghĩa máu không bao giờ có màu xanh. Máu của hầu hết động vật thân mềm và động vật chân đốt đều thiếu hemoglobin, sắc tố làm cho máu người có màu đỏ. Thay vào đó, máu của chúng chứa hemocyanin, loại protein chuyên chở ô-xy trong cơ thể của một số loài động vật không xương sống.

Môi trường ngoài vũ trụ ảnh hưởng lớn tới hệ tuần hoàn

Trên mặt đất, máu trong cơ thể người luôn dồn xuống hai chân vì sức hút của trọng lực. Do vậy, tĩnh mạch ở chân có các van giúp lưu thông máu từ hai chân chảy ngược về tim.

Mọi chuyện sẽ khác hẳn khi ở môi trường ngoài vũ trụ. Máu không dồn xuống hai chân nữa mà dồn về ngực và đầu (hiện tượng này gọi là đổi dòng), làm các phi hành gia bị nghẹt mũi, đau đầu và phù nề ở mặt. Hiện tượng đổi dòng này cũng làm tim họ phải to hơn để có thể giải quyết được lượng máu tăng thêm ở khu vực bao quanh nó.

Mặc dù cơ thể vẫn chứa lượng máu như trước, nhưng não và các hệ thống khác trong cơ thể vẫn coi sự đổi dòng như một sự tăng thêm đột biến trong lượng máu tổng thể. Và để phản ứng lại, cơ thể tự động sinh ra nhiều quá trình khác nhau để loại bỏ bớt lượng máu vượt quá. Điều này dẫn tới sự giảm bớt lượng máu tổng thể tuần hoàn trong cơ thể.

DƯƠNG KIM THOA (Theo LiveScience)

Khám Phá Những Điều Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn Của Chúng Ta

Hệ tuần hoàn của chúng ta bao gồm tim và hệ thống mạch máu, là hệ cơ quan quan trọng bậc nhất trong cơ thể. Chức năng chính của hệ tuần hoàn là vận chuyển máu, mang chất dinh dưỡng, dưỡng khí và kích thích tố đến và đi từ các tế bào khắp cơ thể.

1. Hệ thống tuần hoàn rất dài

Tổng chiều dài tất cả các mạch máu, bao gồm động mạch, mao mạch và tĩnh mạch trong cơ thể một người lớn dài khoảng 100.000 km. Và các mao mạch (mạch máu nhỏ nhất, nối động mạch và tĩnh mạch) chiếm 80% trong tổng chiều dài này. Một điều thú vị nữa là với chiều dài này, mạch máu của một người có thể quấn 2.5 vòng quanh chu vi trái đất (40.000 km).

2. Các tế bào hồng cầu phải tự bóp méo để đi qua mao mạch

Mao mạch là hệ thống mạch máu nhỏ nhất, là chặng trao đổi chất giữa máu và tế bào. Mao mạch rất nhỏ, đường kính trung bình khoảng 8 micromet, bằng khoảng một phần mười đường kính của một sợi tóc. Các tế bào hồng cầu đường kính tương tự nên để đi qua được mao mạch, các hồng cầu phải tự thay đổi hình dạng, bóp méo lại. Chính điều này làm hồng cầu cần nhiều thời gian hơn, di chuyển chậm hơn trong mao mạch, tạo điều kiện cho sự trao đổi chất diễn ra dễ dàng hơn.

3. Cơ thể càng lớn nhịp tim càng chậm

Có một quy luật trong tự nhiên ở dộng vật là: nhịp tim tỉ lệ nghịch với kích thước cơ thể. Nói chung, các động vật có kích thước cơ thể càng lớn thì nhịp tim càng chậm.Một người trưởng thành có một nhịp tim khi nghỉ khoảng 75 nhịp/ phút, tương tự như một con cừu trưởng thành.

Nhịp tim của cá voi xanh có kích thước như một chiếc xe cồng kềnh lại chỉ khoảng 5 nhịp/ phút, trong khi một con chuột chù có nhịp tim khoảng 1.000 nhịp mỗi phút.

4. Cơ tim có tính tự động

Điều này có nghĩa là cơ tim có thể co bóp mà không cần sự điều khiển của cơ thể. Chẳng có gì lạ nếu bạn tách một quả tim một con vật ra khỏi cơ thể mà nó vẫn đập. Hay thậm chí, chỉ cần một mẫu cơ tim, sau khi tách khỏi cơ thể, nuôi trong môi trường dinh dưỡng vẫn sẽ co bóp theo nhịp.

Điều này được giải thích do tim có hệ thống dẫn truyền tự động, giúp tim hoạt động độc lập, những vẫn chịu ảnh hưởng của hệ thần kinh.

5. Con người đã nghiên cứu hệ tuần hoàn hàng nghìn năm nay

Các y văn được biết đến sớm nhất viết về hệ tuần hoàn là của Ebers Papyrus, một tài liệu y học Ai Cập có niên đại từ thế kỷ 16 trước Công nguyên. Trang giấy cói mô tả sự kết nối giữa trái tim và các động mạch, và nói rằng, sau khi ta hít không khí vào phổi, không khí đi vào trung tâm và sau đó chảy vào các động mạch.

Một điều thú vị, người Ai Cập cổ đại tin rằng trái tim, chứ không phải là bộ não, là nguồn gốc của cảm xúc, trí tuệ và bộ nhớ. Trên thực tế, trong quá trình ướp xác, người Ai Cập cẩn thận lấy ra và lưu trữ các cơ quan quan trọng trong cơ thể (bao gồm cả tim) nhưng không tách não mà loại bỏ nó khỏi cơ thể (họ dùng 1 que sắt, chọc cho não chảy ra từ lỗ mũi).

6. Người ta quan niệm sai lầm về cấu trúc hệ tuần hoàn trong 1500 năm

Trong thế kỷ thứ 2, các bác sĩ và triết gia Hy Lạp, tiêu biểu là Galen, đã đưa ra một mô hình hệ thống tuần hoàn. Họ cho rằng hệ tuần hoàn gồm tĩnh mạch và động mạch, và cho rằng hai loại có chức năng khác nhau. Tuy nhiên, họ lại cho rằng hệ thống tuần hoàn bao gồm hai hệ thống một chiều phân phối máu (chứ không phải là một hệ thống thống nhất), và gan là cơ quan sản xuất máu tĩnh mạch. Họ chỉ nghĩ rằng trái tim là một cơ quan hút máu, chứ không phải là cơ quan bơm máu.

Lý thuyết của Galen trị vì trong y học phương Tây cho đến những năm 1600, khi bác sĩ Anh William Henry mô tả và chứng minh sự lưu thông máu trong hệ tuần hoàn.

7. Hồng cầu là những tế bào đặc biệt

Không giống hầu hết các tế bào trong cơ thể, hồng cầu là những tế bào không nhân. Chúng đơn thuần chỉ là một khung protein được phủ bởi một màng tế bào, bên trong chưa đầy hemoglobin và các bào quan trừ nhân tế bào. Chính vì thế mà hồng cầu không thể phân chia. Hồng cầu được tạo ra ở tủy xương, giải phóng vào máu, có đời sống khoảng 120 ngày và được tiêu hủy ở gan, lách và tủy xương.

8. Chấm dứt một mối quan hệ tình cảm có thể làm trái tim tan vỡ

Điều này không chỉ đúng về mặt tình cảm, nó còn đúng trên góc độ khoa học. Theo nghiên cứu, khi một mối quan hệ tan vỡ, cơ thể trái qua quá trình stress tâm lý, và đáp ứng lại với quá trìn này bằng cách tăng gánh hệ tuần hoàn, tăng tưới máu cơ quan. Đồng nghĩa với việc tim và hệ mạch máu phải làm việc với công suất lớn hơn. Nếu đáp ứng mạnh, bạn sẽ cảm thấy các triệu chứng như khó thở, tức ngực, hồi hộp, đánh trống ngực…Stress này không gây tan vỡ tim ngay, nhưng có ảnh hưởng không tốt đến hệ tim mạch.

9. Máu người có nhiều màu sắc khác nhau nhưng không có màu xanh

Ở điều kiện sinh lý, máu động mạch có màu đỏ tươi, còn máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm. Ở một số điều kiện bệnh lý, máu có thể thay đổi màu sắc chút ít. Mặc dù các tĩnh mạch nhìn bên ngoài có màu xanh, nhưng đó hoàn toàn là màu sắc của lớp cơ tĩnh mạch và lớp da bên ngoài, không phải là màu sắc của máu.

10. Sống trong không gian ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn

Con người, từ thuở sơ khai, tồn tại và thích nghi trong môi trường trọng lực của trái đất, và cấu tạo hệ tuần hoàn cũng không nằm ngoài sự thích nghi đó. Thể hiện rõ nhất bằng việc huyết áp chi trên thường thấp hơn chi dưới, khi nằm thường thấp hơn khi đứng. Ngoài ra, vì máu có xu hướng bị kéo bởi trọng lực, nên hệ tĩnh mạch có hệ thống van 1 chiều, giúp dòng máu lưu thông ổn định trong cơ thể. Khi ra ngoài không gian, sự thích nghi này bị đảo lộn do trọng lực bị triệt tiêu, ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến hệ tuần hoàn.

bài viết sửa dụng ảnh demo of i-class

Lý Thuyết Tuần Hoàn Máu Sinh 11

1. Cấu tạo của hệ tuần hoàn

– Dịch tuần hoàn: máu hoặc hỗn hợp máu và dịch mô, hoà tan các chất dinh dưỡng và các chất khí → vận chuyển các chất từ cơ quan này sang cơ quan khác đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể.

– Tim: hút và đẩy máu trong hệ mạch → máu được tuần hoàn liên tục trong hệ mạch

– Hệ thống mạch máu:

Động mạch: Dẫn máu từ tim đến các mao mạch và các tế bào

Mao mạch: Dẫn máu từ động mạch với tĩnh mạch

Tĩnh mạch: Dẫn máu từ các các mao mạch về tim

2. Chức năng của hệ tuần hoàn

– Cung cấp chất dinh dưỡng, ôxi cho tế bào hoạt động

– Đưa các chất thải đến thận, phổi, da để thải ra ngoài

→ Vận chuyển các chất từ bộ phận này đến bộ phận khác để đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể.

II. CÁC DẠNG HỆ TUẦN HOÀN Ở ĐỘNG VẬT

– Động vật đa bào có cơ thể nhỏ dẹp và động vật đơn bào không có hệ tuần hoàn và các chất được trao đổi qua bề mặt cơ thể.

– Động vật đa bào kích thước cơ thể lớn, do trao đổi chất qua bề mặt cơ thể không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể → có hệ tuần hoàn.

1. Phân biệt hệ tuần hoàn kín và hệ tuần hoàn hở Hệ tuần hoàn kín và hệ tuần hoàn hở Bảng 1: So sánh đặc điểm của hệ tuần hoàn hở và hệ tuần hoàn kín 2. Phân biệt hệ tuần hoàn đơn và hệ tuần hoàn kép Bảng 2: So sánh đặc điểm của hệ tuần hoàn đơn và hệ tuần hoàn kép 3. Chiều hướng tiến hoá của hệ tuần hoàn

Ban đầu, các sinh vật chưa có hệ tuần hoàn, trong quá trình tiến hóa, hệ tuần hoàn mới xuất hiện.

Từ có hệ tuần hoàn → hệ tuần hoàn ngày càng hoàn thiện.

Từ hệ tuần hoàn hở → hệ tuần hoàn kín.

Từ tuần hoàn đơn (tim 2 ngăn với một vòng tuần hoàn – cá) → tuần hoàn kép (từ tim ba ngăn, máu pha nhiều – lưỡng cư → tim ba ngăn với vách ngăn trong tâm thất, máu ít pha trộn hơn – bò sát → tim bốn ngăn máu không pha trộn – chim, thú).

Sinh Học 11 Bài 18: Tuần Hoàn Máu

Tóm tắt lý thuyết

1.1. Cấu tạo và chức năng của hệ tuần hoàn

1.1.1. Cấu tạo của hệ tuần hoàn

Dịch tuần hoàn: máu hoặc hỗn hợp máu và dịch mô, hoà tan các chất dinh dưỡng và các chất khí → vận chuyển các chất từ cơ quan này sang cơ quan khác đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể.

Tim: hút và đẩy máu trong hệ mạch → máu được tuần hoàn liên tục trong hệ mạch

Hệ thống mạch máu:

Động mạch: Dẫn máu từ tim đến các mao mạch và các tế bào

Mao mạch: Dẫn máu từ động mạch với tĩnh mạch

Tĩnh mạch: Dẫn máu từ các các mao mạch về tim

1.1.2. Chức năng của hệ tuần hoàn

Cung cấp chất dinh dưỡng, ôxi cho tế bào hoạt động

Đưa các chất thải đến thận, phổi để thải ra ngoài

→ Vận chuyển các chất từ bộ phận này đến bộ phận khác để đáp ứng cho các hoạt động sống của cơ thể

Động vật đa bào có cơ thể nhỏ, dẹp và động vật đơn bào không có hệ tuần hoàn, các chất được trao đổi trực tiếp qua bề mặt cơ thể.

Hệ tuần hoàn của động vật đa bào có các dạng sau:

1.2.1. Hệ tuần hoàn hở

Có những đoạn máu không lưu thông trong mạch máu mà tràn vào khoang cơ thể và trộn lẫn với dịch mô tạo thành hỗn hợp máu và dịch mô.

Máu chảy trong động mạch với áp lực thấp, tốc độ chậm

Gặp ở đa số động vật thân mềm (ốc sên, trai..) và chân khớp (côn trùng, tôm..)

1.2.2. Hệ tuần hoàn kín

Máu được tim bơm đi lưu thông liên tục trong mạch kín, từ động mạch qua mao mạch, tĩnh mạch sau đó về tim. Máu trao đổi chất với tế bào thông qua thành mao mạch

Máu chảy trong động mạch dưới áp lực cao hoặc trung bình, tốc độ nhanh

Gặp ở mực ống, bạch tuộc, giun đốt chân đầu và động vật có xương sống

Hệ tuần hoàn kín có 2 loại: hệ tuần hoàn đơn và hệ tuần hoàn kép:

Sự Thật Về Hệ Thống Phun Xăng Điện Tử Của Xe Tay Ga

Tiêu thụ nhiên liệu và công suất động cơ là hai bài toán hàng đầu trong mọi nỗ lực nâng cấp động cơ của mọi hãng xe. Để tìm hiểu về hệ thống phun xăng điện tử đầu tiên phải xét đến những thành phần chính trong hệ thống này mà ở bộ chế hòa khí thông thường không có.

ECU hoặc ECM

ECU (Electronic Control Unit) là bộ xử lý và điều khiển điện tử trung tâm, thực tế là bộ máy tính điện tử tiếp nhận và xử lý các tín hiệu theo một chương trình định sẵn. Các thông số chuẩn (lưu lượng khí nạp; số vòng quay của động cơ; vị trí bướm ga và thành phần khí oxy trong khí thải) được đưa vào ECU để ECU tính toán quyết định lượng nhiên liệu cần thiết phun vào xi-lanh, thời gian phun và thời gian đánh lửa.

Hầu hết các động cơ xe tay ga hiện nay đều sử dụng kim phun nhiên liệu. ECU có chức năng xác định số lượng nhiên liệu cần thiết để bơm vào buồng đốt dựa trên một số các cảm biến.

Cảm biến oxy cho ECU biết xe bị dư hay thiếu nhiên liệu trong quá trình đốt (quá nhiều nhiên liệu/quá ít oxy) hoặc (quá nhiều oxy/quá ít nhiên liệu) so với điều kiện lý tưởng (tạm gọi là cân bằng hóa học). Các cảm biến vị trí bướm ga. Các cảm biến lưu lượng không khí đo lượng khí vào động cơ. Các cảm biến trên hệ thống làm mát động cơ, cảm biến nhiệt độ. Điều này có nghĩa là nếu máy vẫn mát, nhiên liệu bổ sung thêm.

Kiểm soát thời điểm đánh lửa (trên xe không có ECU thì bộ phận này gọi là IC). Một động cơ đánh lửa đòi hỏi một tia lửa để khởi đốt trong buồng đốt. Một ECU có thể điều chỉnh thời gian chính xác của các tia lửa (gọi là thời điểm đánh lửa) để cung cấp năng lượng tốt hơn và chuẩn xác hơn. ECU trên xe tay ga có khả năng phát hiện thời điểm đánh lửa xảy ra quá sớm hay quá muộn trong hành trình nén, sẽ trì hoãn (chậm) hoặc đẩy nhanh thời gian của các tia lửa.

Hầu hết các hệ thống động cơ có thể kiểm soát tốc độ cầm chừng dựa vào ECU. Tốc độ không tải được điều khiển bởi ECU khi nó ra lệnh đánh lửa và kiểm soát lượng nhiên liệu và khí đưa vào buồng đốt một cách chuẩn xác nhất theo số vòng tua được lập trình.

Ngoài ra ECU còn được xem như là một hệ thống điều khiển toàn quyền có thể được sử dụng để kiểm soát, cung cấp các chức năng điều khiển hành trình và giới hạn tốc độ.

Do đó so với bộ chế hòa khí thông thường, hệ thống phun xăng trên xe tay ga hoạt động hiệu quả và tiết kiệm xăng hơn vì nếu bị dư xăng thì ECU sẽ biết ngay thông qua các cảm biến, và sẽ đóng vai trò tự canh chỉ hiệu suất nhiên liệu tốt nhất. Bên cạnh đó, khởi động xe dễ dàng hơn vì ngay từ những vòng tua đầu tiên khởi động ECU đã ra lệnh đánh lửa rất chuẩn và đưa vào buồng đốt một lượng xăng và khí hoàn hảo cho mọi thời gian hoạt động của động cơ.

Béc phun xăng

Đây là vòi phun nhiên liệu có một van điều khiển điện tử, được cung cấp nhiên liệu với áp lực từ bơm xăng và có khả năng mở và đóng van phun nhiều lần mỗi giây. Khi béc phun được tiếp nhiên liệu và áp lực từ bơm xăng, một nam châm điện sẽ di chuyển một pít tông mà mở van, cho phép nhiên liệu áp suất cao phun ra qua các lỗ phun nhỏ. Các vòi phun được thiết kế để tạo sương nhiên liệu (nhiên liệu lỏng với các hạt li ti) để có thể được đốt cháy một cách dễ dàng hơn. Lượng nhiên liệu cung cấp cho động cơ được xác định bởi số lượng thời gian béc phun mở độ rộng xung điều khiển hoàn toàn bởi ECU.

Bơm xăng

Trước đây trong hệ thống chế hòa khí, hoàn toàn không có bơm xăng. Còn ở hệ thống phun xăng điện tử, nhiên liệu được phun vào buồng đốt hoàn toàn độc lập với truyền động hút của xi-lanh, được quyết định bởi ECU nên phải có bơm xăng để đưa xăng từ bình xăng lớn, tạo đủ áp lực để nén vào trong béc phun.

Thật ra ECU (Electronic Control Unit) và ECM ((Electronic Control Module) là khá giống nhau, tuy nhiên tùy theo hãng gọi và tùy theo chức năng của từng hãng đặt ra nên có sự phân biệt cụ thể trong trường hợp riêng, chứ hiện nay chưa có chuẩn quốc tế nào quy định về sự khác nhau này.

Bên cạnh những ưu điểm hệ thống phun xăng điện tử cũng có một số lỗi như:

Xe bị thiếu xăng, không thể lên ga, công suất yếu có thể do cảm biến oxy bẩn, bơm xăng yếu, nghẹt lỗ béc phun xăng. Hoặc xe bị mất ganranty (tốc độ cầm chừng), đang chạy nóng lên tắt máy, đề khó nổ có thể do ECU bị lỗi chương trình hoặc hỏng chức năng dẫn đến đánh lửa không chuẩn, tỷ lệ xăng gió đưa vào không chính xác.

Vì vậy khi bị lỗi hệ thống phun xăng, đèn phun xăng hoặc đèn FI sáng là lúc bạn cần đưa xe đi kiểm tra ngay lập lức nếu không muốn dắt bộ.

Vi Tuần Hoàn Và Hệ Thống Hạch Bạch Huyết

Thành của các mao mạch rất mỏng và được cấu tạo bởi một lớp tế bào nội mô có tính thấm cao. Vì vậy, nước, chất dinh dưỡng tế bào và sản phẩm bài tiết của tế bào có thể trao đổi một cách nhanh chóng và dễ dàng giữa các mô và máu lưu thông.

Hệ tuần hoàn ngoại vi của cơ thể người có khoảng 10 tỷ mao mạch với tổng diện tích bề mặt ước tính là 500 đến 700 mét vuông (khoảng 1/8 diện tích bề mặt của một sân bóng đá). Như vậy bất kỳ tế bào hoạt động chức năng nào cũng có một mao mạch nuôi nó không cách xa quá 20-30 micromet.

1.CẤU TRÚC VI TUẦN HOÀN VÀ HỆ MAO MẠCH

Mỗi cơ quan có một hệ vi tuần hoàn đặc biệt để phù hợp với nhu cầu cụ thể. Nói chung, mỗi động mạch nuôi cơ quan chia nhánh từ 6-8 lần thành tiểu động mạch có đường kính chỉ 10-15 micromet. Sau đó, các tiểu động mạch tự chia nhánh 2-5 lần, đạt đường kính 5-9 micromet ở hai đầu, nơi chúng cấp máu cho các mao mạch.

Các tiểu động mạch có lớp cơ khỏe có thể làm cho đường kính thay đổi nhiều lần. Các tiểu động mạch tận cùng không có một lớp áo cơ liên tục, nhưng có các sợi cơ trơn vòng quanh rải rác như thể hiện trong Hình 16-1.

Các tiểu tĩnh mạch lớn hơn các tiểu động mạch và có một cái áo cơ yếu hơn nhiều. Nhưng áp lực trong các tiểu tĩnh mạch là ít hơn nhiều hơn so với ở các tiểu động mạch, tuy nhiên các tiểu tĩnh mạch vẫn có thể co nhỏ một cách đáng kể mặc dù cơ yếu. Sự sắp xếp điển hình này của giường mao mạch không được tìm thấy trong tất cả các cấu trúc của cơ thể, mặc dù có thể thấy một sự sắp xếp tương tự để phục vụ cho các mục đích riêng. Quan trọng nhất là để các tiểu động mạch và các cơ thắt tiếp xúc gần với các mô mà chúng cung cấp máu. Do đó, các điều kiện tại chỗ của các mô-nồng độ của các chất dinh dưỡng, sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa, các ion hydro,…vv có thể gây ảnh hưởng trực tiếp tới tĩnh mạch để kiểm soát lưu lượng máu cục bộ ở từng khu vực mô nhỏ.

Cấu trúc của các thành mao mạch Hình 16-2 cho thấy cấu trúc vi thể của các tế bào nội mô điển hình trong thành mao mạch được tìm thấy trong hầu hết các cơ quan của cơ thể, đặc biệt là trong các mô cơ và mô liên kết. Lưu ý rằng thành mao mạch gồm một lớp tế bào nội mô và được bao quanh bởi một lớp màng đáy mỏng bên ngoài.

“Lỗ mao mạch” Hình 16-2 chỉ ra hai lối nhỏ nối bên trong mao mạch với bên ngoài. Một trong những lối đó là một khe hẹp, cong giữa các tế bào nội mô tiếp giáp nhau.

Đôi khi khe bị lấp do một mảnh protein gắn hai tế bào nội mô dính vào nhau, nhưng rồi mảnh đó lại đứt và dịch lại chảy qua khe. Khe hẹp chỉ chừng 60-70 angstrom, nhỏ hơn đường kính của một phân tử protein albumin.

Vì khe gian bào chỉ nằm ở giữa các tế bào nội mô, chúng thường có diện tích không quá 1/1000 tổng diện tích bề mặt của thành mao mạch. Tuy nhiên, chuyển động nhiệt của các phân tử nước cũng như các ion hòa tan trong nước và chất hòa tan kích thước nhỏ có tốc độquá nhanh, do đó tất cả các chất khuếch tán dễ dàng giữa trong và ngoài mao thông qua các ‘ lỗ mao mạch’

Các loại “Lỗ mao mạch” đặc biệt tồn tại trong các mao mạch của một số cơ quan trong cơ thể. Các “lỗ mao mạch” trong các mao mạch của một số cơ quan có tính chất đặc biệt để đáp ứng nhu cầu đặc biệt của cơ quan đó. Chúng có một số các đặc điểm như sau:

Trong não, các chỗ nối giữa các mao mạch của các tế bào nội mô rất “chặt chẽ”, chỉ cho phép các phân tử cực nhỏ như nước, oxy và carbon dioxide để đi vào hoặc ra khỏi các mô não.

Trong gan, lại ngược lại. Khe giữa các tế bào nội mô mao mạch mở rộng để gần như tất cả các chất thải của huyết tương, bao gồm các protein huyết tương, có thể vượt qua khỏi máu vào các mô gan.

Các lỗ mao mạch của màng mao mạch đường tiêu hóa: có kích thước thuộc đoạn giữa của cơ và gan

Trong các mao mạch cầu thận của thận, nhiều cửa sổ hình bầu dục nhỏ gọi là lỗ thủng ở tất cả các khe giữa các tế bào nội mô để một lượng lớn các phân tử lớn, nhỏ và ion (nhưng không phải phân tử lớn của protein huyết tương) có thể lọc qua tiểu cầu thận mà không vượt qua khe của các tế bào nội mô.

2.VẬN MẠCH-TRAO ĐỔI MÁU QUA THÀNH MAO MẠCH

Máu thường không chảy liên tục trong các mao mạch mà ngắt quãng mỗi vài giây hay vài phút. Nguyên nhân do hiện tượng vận mạch, tức là sự đóng mở từng lúc của cơ thắt trước mao mạch và sự co giãn của tiểu động mạch tận cùng.

Chức năng trung bình của hệ mao mạch. Mặc dù thực tế lưu lượng máu qua mao mạch bị gián đoạn, nhưng có rất nhiều mao mạch hiện diện trong các mô, vì vậy chức năng tổng thể của chúng trở nên cân bằng. Có một lưu lượng máu trung bình qua mỗi giường mao mạch, một áp suất trung bình thực và tốc độ trung bình của sự vận chuyển các chất qua thành mao mạch. Trong phần còn lại của chương này, chúng ta quan tâm tới những giá trị trung bình này, dù vậy nên nhớ rằng chúng là các giá trị chức năng trung bình.

Trong thực tế, mỗi mao mạch hoạt động ngắt quãng nhưng chức năng của hàng tỷ của các mao mạch riêng biệt hoạt động liên tục để đáp ứng với điều kiện trong các mô của tổ chức.

3.TRAO ĐỔI NƯỚC, CHẤT DINH DƯỠNG VÀ CHẤT KHÁC GIỮA MÁU VÀ DỊCH KẼ. KHUẾCH TÁN QUA MÀNG MAO MẠCH

Cho đến nay khuếch tán là phương thức quan trọng nhất của trao đổi chất giữa huyết tương và dịch kẽ.

Hình 16-3 minh họa quá trình này, cho thấy khi máu chảy dọc trong lòng mao mạch thì rất nhiều phân tử nước và các hạt hòa tan khuếch tán qua lại qua thành mao mạch, tạo nên một sự pha trộn liên tục giữa huyết tương và dịch kẽ. Hiện tượng khuếch tán các phân tử nước và chất tan có chuyển động nhiệt di chuyển ngẫu nhiên theo hướng này rồi lại đổi hướng khác.

Khuếch tán chất hòa tan trong nước, các chất không hòa tan trong lipid qua các “Lỗ” trong màng tế bào nội mô. Nhiều chất cần thiết cho mô có thể hòa tan trong nước, nhưng không thể đi qua các màng lipid của tế bào nội mô; các chất này bao gồm các phân tử nước, các ion natri, ion clorua, và glucose. Mặc dù chỉ có 1/1000 diện tích bề mặt của các mao mạch là khe gian bào giữa các tế bào nội mô, vận tốc của chuyển động nhiệt của các phân tử ở khe lớn đến nỗi mà ngay cả diện tích nhỏ này là đủ để cho phép khuếch tán một lượng lớn nước và nước chất hòa tan trong nước qua các khe- lỗ này. Tốc độ khuếch tán như vậy nhanh gấp 80 lần vận tốc di chuyển tuyến tính của huyết tương dọc lòng mao mạch. Nói cách khác, trong thời gian một giọt máu đi hết qua một mao mạch thì nước trong huyết tương chứa giọt máu đó với nước trong dịch kẽ đã đủ thì giờ khuếch tán vào nhau, pha trộn nhau, trao đổi chất cho nhau được 80 lần rồi.

Ảnh hưởng của kích thước phân tử đi qua các lỗ Lỗ ở mao mạch, tức là khe gian bào có chiều rộng từ 6-7 nanomet, gấp khoảng 20 lần đường kính phân tử nước là phân tử nhỏ nhất đi qua lỗ. Đường kính của các phân tử protein huyết tương lớn hơn chiều rộng của các lỗ. Các chất khác, như ion natri, ion clorua, glucose, và urê, có đường kính trung gian. Do đó, tính thấm của lỗ mao mạch với các chất khác nhau tùy theo đường kính phân tử của chúng.

Cần biết rằng các mao mạch ở các mô khác nhau có tính thấm khác nhau. Ví dụ, lỗ mao mạch của các xoang mao mạch gan có tính thấm rất cao mà ngay cả protein huyết tương cũng vượt qua gần như dễ dàng như nước và các chất khác. Ngoài ra, tính thấm của màng cầu thận thận với nước và các chất điện giải cao gấp khoảng 500 lần so với tính thấm của mao mạch cơ, tuy nhiên màng này không để lọt protein huyết tương; các protein có tính thấm mao mạch là rất nhỏ, như trong các mô và các cơ quan khác.

Khi chúng ta nghiên cứu sự khác nhau của các cơ quan trong sách này, sẽ dễ dàng hiểu lý do tại sao một số mô đòi hỏi tính thấm mao mạch hơn so với các mô khác. Ví dụ, mức độ cao hơn của tính thấm mao mạch được yêu cầu cho gan để vận chuyển một lượng lớn các chất dinh dưỡng giữa các tế bào máu và nhu mô gan và thận để cho phép lọc một số lượng lớn dịch cho việc tạo thành nước tiểu.

Ảnh hưởng của hiệu nồng độ lên tốc độ khuếch tán chung qua màng tế bào nội mô. Thông qua các màng tế bào nội mô. Tốc độ khuếch tán thực của chất qua màng tế bào bất kỳ tỷ lệ thuận với hiệu nồng độ các chất giữa hai bên của màng tế bào. Đó là: hiệu nồng độ một chất càng lớn thì chất đó vận chuyển trực tiếp qua màng càng lớn. Ví dụ, nồng độ oxy trong máu mao mạch thường lớn hơn trong dịch kẽ. Do vậy, một lượng lớn oxy thường di chuyển từ máu vào các mô. Ngược lại, nồng độ carbon dioxide trong các mô hơn trong máu, tạo ra carbon dioxide dư thừa để di chuyển vào trong máu và được mang đi khỏi các mô.

Tốc độ khuếch tán qua màng mao mạch của hầu hết các chất dinh dưỡng quan trọng nhất lớn đến nỗi chỉ hiệu nồng độ thấp cũng đủ để tạo ra nhiều sự vận chuyển hơn trong vận chuyển giữa huyết tương và dịch kẽ. Ví dụ, nồng độ oxy trong dịch kẽ ngay bên ngoài mao mạch là không nhiều hơn một vài phần trăm so với nồng độ của nó trong huyết tương của máu, nên chỉ cần sự chênh lệch nồng độ rất nhỏ cũng đủ oxy để cung cấp cho quá trình chuyển hóa các mô-thường nhiều như vài lít oxy mỗi phút trong trạng thái hoạt động nặng của cơ thể.

4.KHOẢNG KẼ VÀ DỊCH KẼ

Khoảng một phần sáu tổng thể tích của cơ thể là không gian giữa các tế bào, chúng được gọi là khoảng kẽ. Các chất lỏng trong các không gian này được gọi là dịch kẽ.

“Chất keo” trong khoảng kẽ. Dịch trong khoảng kẽ được tạo thành bằng cách lọc và khuếch tán từ mao mạch. Nó gần như chứa các thành phần tương tự như huyết tương ngoại trừ nồng độ protein thấp hơn nhiều vì protein không dễ dàng vượt qua bên ngoài qua các lỗ mao mạch. Dịch kẽ được tạo ra chủ yếu trong không gian nhỏ giữa các sợi proteoglycan. Sự gắn kết của dịch kẽ và proteoglycan bên trong tạo nên những đặc điểm của một gel và do đó được gọi là mô gel.

Do có rất nhiều sợi proteoglycan, thực sự là khó khăn đối với dịch để lưu thông dễ dàng qua các mô gel. Thay vào đó, dịch chủ yếu là khuếch tán qua gel; nghĩa là, nó chuyển động qua phân tử từ nơi này đến nơi khác bằng động năng, chuyển động nhiệt hơn số lượng lớn các phân tử chuyển động cùng nhau.

Khoảng 95-99 phần trăm khuếch tán qua gel xảy ra nhanh như qua dịch tự do. Đối với khoảng cách ngắn giữa các mao mạch và các tế bào mô, khuếch tán này cho phép vận chuyển nhanh chóng thông qua khoảng kẽ không chỉ của các phân tử nước mà còn các chất điện giải, các chất dinh dưỡng trọng lượng phân tử nhỏ, oxy, carbon dioxide, …

Dịch “tự do” trong khoảng kẽ. Mặc dù gần như tất cả các chất lỏng trong các kẽ thường bị kẹt trong mô gel, thỉnh thoảng có những dòng nhỏ dịch tự do và những túi dịch nhỏ cũng hiện diện, có nghĩa là chất lỏng đó không có các phân tử proteoglycan và do đó có thể chảy tự do. Khi một loại thuốc nhuộm được tiêm vào máu lưu thông, nó thường có thể được nhìn thấy chảy qua khoảng kẽ trong kẽ nhỏ, thường chảy dọc theo các bề mặt của các sợi collagen hoặc các bề mặt của các tế bào.

Sự có mặt của dịch tự do trong các mô bình thường là ít, thường nhỏ hơn 1 phần trăm. Ngược lại, khi các mô bị phù nề, những túi nhỏ và dòng kẽ nhỏ của dịch tự do mở rộng rất nhiều cho đến khi một nửa hoặc nhiều hơn dịch phù chảy tự do không phụ thuộc vào sợi phân tử proteoglycan.

5.DỊCH LỌC QUA MAO MẠCH ĐƯỢC XÁC ĐỊNH BỞI ÁP LỰC THỦY TĨNH VÀ ÁP LỰC KEO HUYẾT TƯƠNG VÀ HỆ SỐ LỌC MAO MẠCH

Áp lực thủy tĩnh trong mao mạch có xu hướng để đẩy dịch và các chất hòa tan của nó thông qua các lỗ mao mạch vào khoảng kẽ. Ngược lại, áp lực thẩm thấu gây ra bởi các protein huyết tương (được gọi là áp suất thẩm thấu keo) có xu hướng gây ra chuyển động của dịch bằng cách thẩm thấu từ các khoảng kẽ vào máu. Áp suất thẩm thấu này được tạo ra bởi các protein huyết tương, thường ngăn chặn việc mất một lượng đáng kể dịch từ máu vào khoảng kẽ.

Hệ thống bạch huyết cũng rất quan trọng trong việc trả về cho tuần hoàn một lượng nhỏ protein dư thừa và dịch rò rỉ từ máu vào khoảng kẽ.

Áp lực thủy tĩnh và áp lực keo quyết định sự vận chuyển của dịch qua màng mao mạch:

Áp suất mao mạch (Pc), có xu hướng đẩy chất lỏng ra ngoài qua màng mao mạch.

Áp suất dịch kẽ (Pif), có xu hướng giữ chất lỏng bên trong các màng mao mạch khi Pif là dương, nhưng đẩy ra bên ngoài khi Pif là âm.

Áp suất thẩm thấu (∏p) của huyết tương trong lòng mao mạch, có xu hướng gây thẩm thấu chất lỏng vào bên trong qua màng mao mạch.

Áp suất thẩm thấu (∏if) của dịch kẽ, có xu hướng tạo ra áp lực thẩm thấu của chất lỏng ra bên ngoài qua màng mao mạch.

Tính tổng của các lực, nếu áp lực lọc tổng hợp là dương, dịch lọc sẽ đi qua các mao mạch. Nếu tổng của các lực lượng Starling là âm, sẽ có một sự hấp thụ chất lỏng từ các khoảng kẽ vào các mao mạch. Áp lực lọc thực (NFP) được tính như sau:

Do đó Kf là thước đo khả năng của màng mao mạch để lọc nước cho một NFP nhất định và thường được biểu diễn bằngml / phút cho mỗi mm Hg NFP.

Do đó, tỷ lệ lọc chất lỏng trong mao mạch được xác định như sau:

6.ÁP LỰC THỦY TĨNH MAO MẠCH

Nhiều phương pháp đã được sử dụng để ước tính áp lực thủy tĩnh các mao mạch: (1) luồn pipet trực tiếp vào các mao mạch đo được kết quả trung bình khoảng 25 mmHg trong một số mô như cơ xương và ruột, và (2) đo gián tiếp áp lực mao dẫn, đưa ra một áp lực mao dẫn trung bình khoảng 17 mm Hg trong các mô.

Phương pháp đo áp suất mao mạch bằng pipet vi thể. Để đo áp lực trong mao mạch bằng cannul, pipet kính hiển vi được đẩy trực tiếp vào các mao mạch, và áp lực được đo bằng một hệ thống vi áp kế (đơn vị đo gần bằng đơn vị nm). Đó là phương pháp đã dùng cho mao mạch của các mô đã mổ ra ở động vật và dùng cho quai mao mạch to ở gốc móng tay người. Kết quả là 30 đến 40 mmHg ở đầu mao động mạch, từ 10 đến 15 ở đầu mao tĩnh mạch và khoảng 25 mm Hg ở quãng giữa của đoạn mao mạch.

Trong một số mao mạch, chẳng hạn như các mao mạch cầu thận của thận, áp lực đo bằng phương pháp pipet vi thể cao hơn nhiều, trung bình khoảng 60 mmHg. Ngược lại các cuộn mao mạch của thận, có áp lực thủy tĩnh trung bình chỉ khoảng 13 mm Hg. Như vậy, áp lực thủy tĩnh các mao mạch trong các mô khác nhau là rất khác nhau, tùy thuộc vào mô cụ thể và điều kiện sinh lý.

Phương pháp đẳng trọng đo gián tiếp áp suất “chức năng” của mao mạch. Hình 16-6 chỉ ra phương pháp đẳng trọng gián tiếp ước tính áp lực mao mạch. Hình vẽ cho thấy một đoạn ruột được đặt lên bàn cân và máu được tiếp lưu qua mạch ruột. Khi áp lực động mạch bị giảm, dẫn đến áp lực mao mạch giảm đến một mức làm áp suất thẩm thấu của các protein huyết tương gây ra sự hấp thụ của chất lỏng ra khỏi thành ruột và làm cho trọng lượng của đoạn ruột giảm làm cán cân nghiêng. Để ngăn ngừa việc giảm trọng lượng này, áp lực tĩnh mạch được tăng lên một lượng đủ để khắc phục những ảnh hưởng của việc giảm áp lực động mạch. Nói cách khác, áp lực mao mạch được hằng định trong khi cùng lúc (1) giảm áp lực động mạch và (2) tăng áp lực tĩnh mạch.

7.ÁP SUẤT THỦY TĨNH CỦA DỊCH KẼ

Rõ ràng phương pháp đẳng trọng đã xác định áp suất mao mạch đo một cách chính xác bởi các lực có xu hướng kéo dịch ra hay đẩy dịch vào mao mạch, đưa ra một giá trị thấp hơn so với áp lực mao mạch đo trực tiếp bằng phương pháp pipet vi thể. Một lý do chính cho sự khác biệt này là áp lực lọc mao mạch không được cân chính xác với sự tái hấp thu dịch trong hầu hết các mô. Dịch đã được lọc vượt quá những gì được tái hấp thu trong hầu hết các mô được mang đi bởi mạch bạch huyết.Trong các mao mạch cầu thận, có một lượng rất lớn dịch, khoảng 125 ml/phút được lọc liên tục.

Có nhiều phương pháp để đo áp suất thủy tĩnh dịch kẽ, mỗi trong số đó mang lại giá trị hơi khác nhau, tùy thuộc vào phương pháp được sử dụng và áp suất mô được đo. Trong mô lỏng lẻo dưới da, áp lực dịch kẽ đo bằng các phương pháp khác nhau là thường là một vài mmHg – nhỏ hơn áp suất khí quyển; do vậy, giá trị này được gọi là áp suất âm dịch kẽ. Trong các mô khác được bao quanh bởi nang, như thận, áp lực dịch kẽ thường dương (tức là lớn hơn áp suất khí quyển). Các phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất đã được sử dụng là: (1) đo áp lực với một pipette vi thể đưa vào các mô, (2) đo áp suất dịch kẽ tự do trong nang có lỗ đặt ở mô (3) đo áp suất dịch kẽ tự do bằng bấc bông.

Những phương pháp khác nhau cung cấp các giá trị khác nhau cho áp lực thủy tĩnh dịch kẽ, ngay cả trong các mô tương tự nhau.

Đo áp suất dịch kẽ sử dụng pipette vi thể.Cùng một loại pipette vi thể sử dụng để đo áp lực mao mạch cũng có thể được sử dụng trong một số mô để đo áp lực dịch kẽ. Đầu của pipette vi thể có đường kính khoảng 1 micromet, nhưng cũng lớn hơn so với kích thước của khoảng cách giữa các sợi proteoglycan trong dịch kẽ 20 lần hoặc hơn thế. Do đó, áp lực được đo có thể là áp lực trong một túi chất lỏng tự do.

Áp lực đo bằng cách sử dụng phương pháp pipette vi thể dao động từ -2 đến 2 mmHg trong các mô lỏng lẻo, như da, nhưng trong nhiều trường hợp giá trị trung bình thấp hơn một chút so với áp suất khí quyển.

Đo áp suất dịch kẽ tự do trong nang có lỗ đặt ở mô áp suất dịch tự do trong dịch kẽ đo được khi sử dụng nang có đường kính 2 cm ở mô dưới da lỏng bình thường khoảng -6 mm Hg, nhưng với viên nang nhỏ hơn, các giá trị không khác nhau nhiều hơn -2 mm Hg so với đo bằng pipette vi thể.

Áp suất dịch kẽ ở mô có khung cứng bọc kín. Một số mô của cơ thể được bao quanh bởi khung cứng, chẳng hạn như sọ xung quanh não, bao xơ quanh thận, các màng xơ bọc xung quanh các cơ bắp, và củng mạc xung quanh mắt. Trong hầu hết các mô, không phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng để đo lường, áp suất dịch kẽ là dương. Tuy nhiên, áp lực đó vẫn luôn ít hơn áp lực bên ngoài khung cứng. Ví dụ, áp suất dịch não tủy bao quanh não của một con vật trung bình khoảng 10 mmHg, trong khi áp suất dịch kẽ trung bình khoảng 4-6 mm Hg. Trong thận, áp suất xung quanh bao xơ thận trung bình là 13 mm Hg, trong khi áp lực dịch kẽ thận được ghi nhận trung bình khoảng 6 mmHg.

Như vậy, nếu nhớ rằng áp suất bên ngoài da là áp suất khí quyển, được coi là không áp lực, có thể xây dựng một quy tắc chung là bình thường áp lực dịch kẽ thường âm vài milimet thủy ngân đối với áp lực xung quanh mỗi tế bào.

Trong hầu hết các hốc tự nhiên của cơ thể, nơi có dịch tự do ở trạng thái cân bằng động với chất lỏng xung quanh, những áp lực đo được là âm. Một số các khoang và áp suất đo được như sau:

Khoang màng phổi: -8 mm Hg

Khoang trong khớp hoạt dịch: -4 đến -6 mm Hg

Khoang ngoài màng cứng: -4 đến -6 mm Hg

Tóm tắt: áp suất dịch kẽ trong mô lỏng dưới da luôn thấp hơn áp suất khí quyển. Mặc dù các phương pháp khác nhau nói trên cho giá trị hơi khác nhau cho áp suất dịch kẽ, hầu hết các nhà sinh lý học tin rằng trong điều kiện bình thường áp suát dịch kẽ trong mô lỏng lẻo dưới da, thấp hơn áp suất khí quyển trung bình khoảng -3 mm Hg.

Thuật ngữ áp lực thẩm thấu “keo” được bắt nguồn từ thực tế là một dung dịch protein giống như một chất keo mặc dù thực tế rằng nó thực sự đúng là một phân tử.

Giá trị bình thường của áp suất thẩm thấu keo huyết tương. Áp suất thẩm thấu keo của huyết tương trung bình của con người bình thường khoảng 28 mmHg; 19 mm của áp suất này được gây ra bởi hiệu ứng phân tử của các protein hòa tan và 9 mm được gây ra bởi hiệu ứng Donnan -áp lực thẩm thấu được thêm vào gây ra bởi natri, kali, và các cation khác giữ trong huyết tương bởi protein.

9.ÁP SUẤT THẨM THẤU KEO DỊCH KẼ

Như vậy, khoảng 80 phần trăm tổng số áp lực thẩm thấu keo huyết tương chắc chắn từ albumin, 20 phần trăm từ các globulin, và gần như không có từ fibrinogen. Do đó, theo phương diện động học của dịch mô, albumin đóng vaitrò quan trọng.

Mặc dù kích thước của lỗ mao mạch thông thường nhỏ hơn so với kích thước phân tử của protein huyết tương, điều này là không đúng với tất cả các lỗ. Do đó, một lượng nhỏ protein huyết tương rò rỉ vào khoảng kẽ thông qua lỗ mao mạch và vận chuyển trong các túi nhỏ.

Tổng số lượng của protein trong toàn bộ 12 lít dịch kẽ của cơ thể lớn hơn tổng lượng protein trong huyết tương, nhưng vì thể tích dịch kẽ gấp bốn lần huyết tương, nồng độ protein trung bình của dịch kẽ của hầu hết các mô thường chỉ bằng 40 phần trăm so với huyết tương, tương đương khoảng 3 g/dl.

10.TRAO ĐỔI DỊCH QUA MÀNG MAO MẠCH

Về mặt định lượng, người ta thấy trung bình áp suất thẩm thấu keo dịch kẽ cho nồng nồng của protein là khoảng 8 mmHg.

Áp lực mao mạch trung bình ở hai đầu mao động mạch là 15-25 mm Hg lớn hơn ở hai đầu mao tĩnh mạch. Bởi vì sự khác biệt này, chất lỏng “lọc” ra khỏi đầu mao động mạch của chúng, nhưng ở đầu mao tĩnh mạch dịch được tái hấp thu trở lại vào các mao mạch. Do đó, một lượng nhỏ chất lỏng thực sự “chảy” qua các mô từ các đầu mao mạch động mạch đến đầu mao tĩnh mạch. Động học của dòng chảy này được thể hiện như sau.

Như vậy, tổng của các lực vào đầu mao động mạch cho thấy một áp lực lọc là 13 mmHg, xu hướng đẩy

dịch ra ngoài qua các lỗ mao mạch.

Áp lực lọc 13 mm Hg này, trung bình chiếm khoảng 1/200 dịch của huyết tương chảy để lọc ra khỏi đầu các mao động mạch vào các khoảng kẽ tế mỗi khi máu đi qua các mao mạch.

Do đó, các lực lượng gây ra sự chuyểnđộng của dịch vào các mao mạch, 28 mmHg, lớn hơn so với đối hấp phụ 21 mm Hg. Sự khác biệt, 7 mm Hg, là áp lực tái hấp thu ròng ở hai đầu mao tĩnh mạch. Áp lực tái hấp thu này thấp hơn đáng kể so với áp suất lọc ở cuối mao mạch động mạch, nhưng hãy nhớ rằng số lượng các mao mạch tĩnh mạch nhiều hơn và tính thấm cao hơn các mao mạch động mạch, do đó áp suất tái hấp thu ít cần thiết để gây ra chuyển động của dịch vào bên trong.

11.CÂN BẰNG STARLING CHO TRAO ĐỔI QUA THÀNH MAO MẠCH

Áp lực tái hấp thu làm cho khoảng9/10 lượng dịch đã được lọc ra khỏi đầu mao động mạch được hấp thụ lại ở mao tĩnh mạch. Một phần mười còn lại chảy vào các mạch bạch huyết và trả về tuần hoàn chung.

Cách đây hơn một thế kỷ, Ernest Starling đã chỉ ra trong điều kiện bình thường, màng mao mạch tồn tại một trạng thái gần như cân bằng. Có nghĩa là, lượng dịch lọc ra bên ngoài từ các đầu mao động mạch của mao mạch gần bằng lượng dịch lọc trở lại lưu thông bằng cách hấp thu. Chênh lệch một lượng dịch rất nhỏ đó về tim bằng con đường bạch huyết.

Lực trung bình làm dịch di chuyển ra ngoài mmHg

Bảng dướiđây cho thấy các nguyên lí của cân bằng Starling. Đối với bảng này, các áp suất trong các mao mạch động mạch và mao tĩnh mạch được tính trung bình để tính áp suất mao mạch chức năng trung bình cho toàn bộ chiều dài của các mao mạch. Áp suất mao mạch chức năng trung bình đã tính là 17,3 mm Hg.

Áp suất trung bình mao mạch 17.3

Áp suất âm của dịch tự do trong dịch kẽ 3.0

Áp suất thẩm thấu keo của dịch kẽ 8.0

Lực trung bình làm dịch di chuyển vào trong mmHg

TỔNG LỰC ĐẨY RA NGOÀI 28.3

Áp suất thẩm thấu keo huyết tương 28.0

Tổng hợp trung bình các lực

TỔNG LỰC ĐƯA VÀO TRONG 28.0

Ra ngoài 28.3

Vào trong 28.0

LỰC ĐẨY RA NGOÀI THỰC SỰ 0.3

12.HỆ SỐ LỌC Ở MAO MẠCH

Do đó, với tổng tuần hoàn mao mạch, chúng ta tìm thấy một sự gần cân bằng giữa tổng các lực lượng bên ngoài, 28,3 mm Hg, và tổng lực vào trong, 28,0 mmHg. sự mất cân bằng này nhẹ của các lực, 0,3 mm Hg, gây ra dịch được lọc vào khoảng kẽ hơn là tái hấp thu. Lượng dịch lọc thừa này được gọi là lưu lượng lọc thực (net filtration), và nó là lượng dịch lọc phải được trả lại cho lưu thông qua hệ bạch huyết. Bình thường tốc độ của lưu lượng lọc thực trong toàn bộ cơ thể, không bao gồm thận, chỉ khoảng 2 ml/phút.

Trong ví dụ trước, một sự mất cân bằng của các lực lọc tại các màng mao mạch 0,3 mmHg gây ra lưu lượng lọc thực trong toàn bộ cơ thể là 2 ml/phút. Nhấn mạnh lưu lượng lọc thực cho mỗi mmHg bị mất cân bằng, người ta thấy lưu lượng lọc thực là 6,67 ml/phút mỗi mmHg cho toàn bộ cơ thể. Giá trị này được gọi là hệ số lọc mao mạch toàn bộ cơ thể.

Hệ số lọc cũng có thể được biểu diễn cho các bộ phận riêng biệt của cơ thể về lưu lượng lọc mỗi phút mỗi mmHg cho mỗi 100 gam mô cơ thể. Trên cơ sở đó, hệ số lọc mao mạch của mô trung bình là khoảng 0,01 ml/phút / mm Hg / 100 g mô. Tuy nhiên, vì sự khác biệt trong khả năng thấm của hệ thống mao mạch ở các mô khác nhau, hệ số lọc này thay đổi nhiều hơn 100 lần trong các mô khác nhau. Nó là rất nhỏ trong não và cơ bắp, khá lớn trong mô dưới da, lớn trong ruột, và cực kỳ lớn trong gan và tiểu cầu thận, nơi mà các lỗ mao mạch hoặc là nhiều hoặc là mở rộng. Tương tự như vậy, sự thẩm thấu của các protein qua màng mao mạch khác nhau rất nhiều cũng ảnh hưởng tới hệ số lọc. Nồng độ protein trong dịch kẽ của cơ bắp là khoảng 1,5 g/dl; trong mô dưới da, 2 g/dl; trong ruột, 4 g/dl; và trong gan 6g/dl.

Ảnh hưởng của sự mất cân bằng của các lực tại các màng mao mạch. Nếu áp lực mao mạch trung bình tăng lên trên 17 mmHg, lực thực có xu hướng đẩy dịch lọc vào khoảng kẽ tăng lên. Do đó, gia tăng áp lực mao mạch trung bình 20mmHg, làm tăng áp lực lọc mao mạch thực 0,3 mm Hg- 20,3 mmHg, kết quả này cao gấp 68 lần lưu lượng lọc mao mạch thực của dịch vào khoảng kẽ ở điều kiện bình thường.

Để ngăn chặn sự tích lũy của dịch dư thừa trong khoảng kẽ sẽ yêu cầu tốc độ dòng chảy bình thường của chất lỏng vào hệ thống bạch huyết tăng 68 lần, một lượng mà là 2-5 lần cũng là quá nhiều cho các mạch bạch huyết mang đi. Kết quả là, dịch sẽ bắt đầu tích tụ trong khoảng kẽ và kết quả là phù nề.

CÁC KÊNH BẠCH HUYẾT CỦA CƠ THỂ

Hệ thống bạch huyết đại diện cho một con đường phụ mà qua đó chất lỏng có thể chảy từ khoảng kẽ vào máu. Quan trọng nhất, các mạch bạch huyết có thể mang theo các protein và các phân tử lớn đi từ khoảng kẽ mà không thể được gỡ bỏ bằng cách hấp thụ trực tiếp vào các mao mạch máu. Sự hấp thu trở lại này của protein máu từ các khoảng kẽ là một chức năng quan trọng mà nếu không có, chúng ta sẽ chết trong vòng khoảng 24h.

Hầu như tất cả các mô của cơ thể có kênh bạch huyết đặc biệt dẫn dịch dư thừa trực tiếp từ khoảng kẽ. Các trường hợp ngoại lệ bao gồm các phần của bề mặt da, hệ thống thần kinh trung ương, các màng của cơ bắp và xương. Tuy nhiên, ngay cả những mô có kênh dịch kẽ trong thời gian ngắn gọi là tiền bạch huyết qua đó dịch kẽ có thể chảy; cuối cùng dịch này đổ vào một trong hai mạch bạch huyết hoặc trong trường hợp của bộ não, vào dịch não tủy và sau đó trực tiếp trở lại máu.

Bạch huyết từ phía bên trái của đầu, tay trái, và phần trái của ngực cũng đi vào ống ngực trước khi nó đổ vào tĩnh mạch.

Bạch huyết từ phía bên phải của đầu và cổ, cánh tay phải, và các bộ phận của ngực phải đi vào ống dẫn bạch huyết bên phải (nhỏ hơn nhiều so với ống ngực), đổ vào hệ thống tĩnh mạch tại giao điểm của tĩnh mạch dưới đòn phải và tĩnh mạch cảnh trong phải.

Tận cùng mạch bạch huyết và tính thấm của chúng. Hầu hết dịch lọc từ các mao động mạch chảy giữa các tế bào và cuối cùng đã được tái hấp thu trở lại vào mao tĩnh mạch, trung bình, khoảng một phần mười lượng dịch đi vào các mao mạch bạch huyết và trở về máu qua hệ bạch huyết chứ không thông qua các mao tĩnh mạch. Tổng lượng dịch bạch huyết này bình thường chỉ 2-3 lít mỗi ngày.

Bạch huyết có nguồn gốc từ dịch kẽ chảy vào hệ bạch huyết. Vì vậy, đầu tiên bạch huyết đi vào hệ bạch huyết với thành phần tương tự dịch kẽ.

Nồng độ protein trong dịch kẽ của hầu hết các mô trung bình khoảng 2 g/dl, và nồng độ protein của bạch huyết chảy từ các mô cũng gần giá trị này. Bạch huyết được hình thành trong gan có nồng độ protein thực sự cao tới 6 g/dl, và bạch huyết hình thành trong ruột có nồng độ protein cao khoảng 3-4g/dl. Vì khoảng hai phần ba các hạch bạch huyết thường có nguồn gốc từ gan và ruột, các bạch huyết ống ngực, là nơi trộn lẫn bạch huyết từ tất cả các vùng của cơ thể, thường có nồng độ protein khoảng 3-5 g/dl.

Mỗi giờ, khoảng 100 ml bạch huyết chảy qua ống ngực ở một con người trong trạng thái nghỉ ngơi, và thêm khoảng 20 ml mỗi giờ chảy vào tuần hoàn thông qua các kênh khác, đưa tổng số ước tính dòng chảy bạch huyết của khoảng 120 ml / giờ hoặc 2-3 lít mỗi ngày.

Sau đó, khi áp lực tăng lên tới 0mmHg (áp suất khí quyển) lưu lượng dòng chảy tăng lên hơn 20 lần. Do đó, bất kỳ yếu tố nào làm tăng áp lực dịch kẽ cũng làm tăng lưu lượng dòng chảy bạch huyết, nếu các mạch bạch huyết đang hoạt động bình thường. Những yếu tố này bao gồm:

Áp suất thủy tĩnh mao mạch cao

Áp suất thẩm thấu keo huyết tương giảm

Áp suất thẩm thấu keo dịch kẽ tăng

Tính thấm của các mao mạch tăng

Tất cả những yếu tố này gây ra một cân bằng trao đổi dịch ở màng mao mạch để đẩy dịch vào khoảng kẽ, do đó tăng thể tích dịch kẽ, áp lực dịch kẽ, và dòng chảy bạch huyết ở cùng một lúc.

Hình ảnh chuyển động của các mạch bạch huyết được chỉ ra ở động vật và ở người cho thấy rằng khi một mạch bạch huyết thu thập dịch, các cơ trơn trong thành mạch bạch huyết tự động co lại. Hơn nữa, mỗi phân đoạn của mạch bạch huyết giữa các van chức năng như một máy bơm tự động riêng biệt. Đầy nhẹ một đoạn làm cho nó nhỏ lại, và dịch được bơm qua van tiếp theo vào đoạn bạch huyết tiếp theo.

Dịch này đổ đầy các đoạn sau trong một vài giây sau đó, quá trình tiếp tục dọc theo mạch bạch huyết cho đến khi dịch cuối cùng được đổ vào tuần hoàn chung. Trong một mạch bạch huyết rất lớn như ống ngực, bơm bạch huyết này có thể tạo ra áp lực lớn tới 50 đến 100 mm Hg .

Bơm được tạo ra bởi sự co bóp ngắt quãng bên ngoài hệ bạch huyết. Ngoài việc bơm gây ra bởi sự co bóp ngắt quãng nội tại của thành mạch bạch huyết, bất kỳ yếu tố bên ngoài nào ép vào mạch bạch huyết không liên tục cũng có thể tạo ra bơm. Theo thứ tự quan trọng của chúng, các yếu tố như là như sau:

Sự co bóp của cơ xung quanh các xương

Sự chuyển động của các bộ phận của cơ thể

Nhịp đập của động mạch tiếp giáp với các mạch bạch huyết

Áp lực của các mô bên ngoài cơ thể.

Các bơm bạch huyết hoạt động mạnh hơn khi lao động, thường gia tăng dòng chảy bạch huyết từ 10 đến 30 lần. Ngược lại, trong thời gian nghỉ ngơi, dòng chảy bạch huyết là rất chậm (gần như bằng không).

Bơm mao mạch bạch huyết. Đầu tận cùng các mao mạch bạch huyết cũng có khả năng bơm bạch huyết, ngoài việc bơm bởi các mạch bạch huyết lớn hơn. Như đã giải thích ở chương trước, các thành của các mao mạch bạch huyết dính chặt vào các tế bào mô xung quanh bằng các phương tiện giữ chúng. Vì vậy, mỗi khi dịch dư thừa chảy vào các mô và làm cho các mô bị sưng lên, các sợi kéo trên thành của các mao mạch bạch huyết và dịch chảy vào các đầu mao mạch bạch huyết thông qua khe kẽ của các tế bào nội mô. Sau đó, khi mô bị nén, áp lực bên trong mao mạch tăng và gây ra sự chồng chéo của các tế bào nội mạc để đóng lại như van. Do đó, áp lực đẩy bạch huyết về phía trước vào bạch huyết thay vì quay ngược ra sau qua các khe giữa các tế bào nội mô.

Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin.

Tóm tắt các yếu tố tạo ra dòng chảy bạch huyết:

Các tế bào nội mô mao mạch bạch huyết cũng có một vài sợi co actomyosin. Trong một số mô động vật (ví dụ, cánh của dơi), đã quan sát được nguyên nhân gây sự co bóp nhịp nhàng trên là do sự kết hợp của rất nhiều mao mạch nhỏ và các mạch bạch huyết lớn. Vì vậy, có lẽ phần thêm vào của bơm bạch huyết ít nhất là kết quả của sự kết hợp giữa các tế bào nội mô và các cơ lớn hơn của hệ bạch huyết.

Rõ ràng chức năng của hệ thống bạch huyết như một “cơ chế tràn” để nhận lại protein dư thừa và lượng nước thừa trong khoảng kẽ vào tuần hoàn chung. Do đó, hệ thống bạch huyết cũng đóng một vai trò trung tâm trong việc kiểm soát (1) nồng độ protein trong dịch kẽ, (2) khối lượng của dịch kẽ, và (3) áp lực dịch kẽ. Hãy để chúng tôi giải thích làm thế nào những yếu tố này tương tác với nhau.

Đầu tiên, hãy nhớ rằng một lượng nhỏ protein bị rò rỉ liên tục ra khỏi các mao mạch máu vào khoảng kẽ. Chỉ một lượng nhỏ, nếu có, các protein bị rò rỉ trở lại tuần hoàn bằng cách vào mao tĩnh mạch. Do đó, các protein này có xu hướng tích lũy trong dịch kẽ, vì vậy làm tăng áp lực thẩm thấu keo của dịch kẽ.

Thứ hai, tăng áp lực thẩm thấu keo trong dịch kẽ làm dịch chuyển cân bằng lực ở các màng mao mạch máu trong việc đẩy dịch vào khoảng kẽ. Do đó, có hiệu lực, chất lỏng được vận chuyển ra bên ngoài thành mao mạch vào khoảng kẽ bởi áp lực thẩm thấu gây ra bởi các protein, do đó tăng cả thể tích và áp suất dịch kẽ.

Thứ ba, việc tăng áp lực dịch kẽ làm tăng đáng kể tốc độ của dòng chảy bạch huyết, mang đi thể tích dịch kẽ dư thừa và protein dư thừa tích tụ trong khoảng kẽ. Vì vậy, một khi nồng độ protein dịch kẽ đạt đến một mức độ nhất định và gây ra tăng tương đương về thể tích dịch kẽ và áp lực, sự trở lại của protein và dịch bằng cách vào hệ của hệ bạch huyết trở nên đủ lớn để cân bằng tỷ lệ rò rỉ của chúng vào khoảng kẽ từ các mao mạch.

Ý nghĩa của áp suất âm của dịch kẽ có ý nghĩa gắn kết các mô của cơ thể với nhau.

Do đó, các giá trị định lượng của tất cả các yếu tố này đạt được một trạng thái ổn định, và chúng sẽ duy trì cân bằng ở mức ổn định cho đến khi một cái gì đó thay đổi tốc độ rò rỉ protein và dịch từ các mao mạch máu.

Cập nhật thông tin chi tiết về 11 Sự Thật Thú Vị Về Hệ Tuần Hoàn trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!