Xu Hướng 2/2023 # 10 Nhóm Giải Pháp Phòng Chống Hiv # Top 3 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # 10 Nhóm Giải Pháp Phòng Chống Hiv # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết 10 Nhóm Giải Pháp Phòng Chống Hiv được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Nhóm giải pháp về chính trị và xã hội:

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS:

– Các cấp ủy Đảng tiếp tục tổ chức quán triệt và nghiêm túc thực hiện các chủ trương của Đảng, trong đó chú trọng thực hiện các nội dung của Chỉ thị số 54-CT/TW ngày 31 tháng 11 năm 2005 của Ban Bí thư về tăng cường    lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới và Thông báo   kết luận số 27-TB/TW ngày 09 tháng 5 năm 2011 của Ban Chấp hành Trung ương về sơ kết Chỉ thị 54-CT/TW ngày 31 tháng 11 năm 2005 của Ban Bí thư (khóa IX) về tăng cường lãnh đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới;

– Nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng Nghị quyết của Bộ Chính trị về  tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới;

– Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp nghiêm túc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS; đổi mới phương pháp chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS phù hợp với mô hình tổ chức, đặc thù công việc và tình hình kinh tế – xã hội; đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS thuộc thẩm quyền quản lý.

Tăng cường hơn nữa của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS:

– Tăng cường việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác phòng, chống HIV/AIDS thông qua hoạt động giám sát trực tiếp và báo cáo định kỳ của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp;

– Đẩy mạnh sự tham gia của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng việc phát huy vai trò cá nhân của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

2. Nhóm giải pháp về phối hợp liên ngành và huy động cộng đồng:

– Chú trọng việc lồng ghép, phối hợp với các chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo, giới thiệu việc làm; tăng cường việc ký kết và nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch liên tịch giữa cơ quan nhà nước các cấp với các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn về phòng, chống HIV/AIDS;

– Tiếp tục triển khai các phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư”; thi đua người tốt, việc tốt, xây dựng lối sống lành mạnh tại cộng đồng dân cư; xây dựng và nhân rộng các mô hình xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị điển hình trong công tác phòng, chống HIV/AIDS;

– Vận động các tổ chức tôn giáo, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp, các hiệp hội nghề nghiệp và mạng lưới người nhiễm HIV tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng việc vận động tham gia các hoạt động: xây dựng chính sách, kế hoạch, giám sát, đánh giá việc tổ chức thực hiện; đào tạo nghề, tìm việc làm, tạo việc làm và phát triển các mô hình lao động, sản xuất kinh doanh mang tính bền vững cho cho người nhiễm HIV, người dễ bị lây nhiễm HIV và người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;

– Bảo đảm cung cấp có hiệu quả các dịch vụ an sinh xã hội cho người nhiễm HIV, người dễ bị lây nhiễm HIV và người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, đồng thời tăng cường hoạt động vận động người nhiễm HIV,    người dễ bị lây nhiễm HIV tham gia đóng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội.

3. Nhóm các giải pháp về pháp luật, chế độ chính sách:

– Chống kỳ thị, phân biệt đối xử và bảo đảm quyền bình đẳng giới đối với người nhiễm HIV khi tiếp cận các dịch vụ xã hội;

– Rà soát, sửa đổi hoặc xây dựng mới các văn bản nhằm tăng cường sự phối hợp liên ngành, đặc biệt là việc phối hợp hoạt động phòng, chống  HIV/AIDS với hoạt động phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm;

– Xây dựng chế độ, chính sách về nguồn nhân lực, đổi mới cơ chế tài chính cho hoạt động phòng, chống HIV/AIDS, trong đó tập trung xây dựng cơ chế xã hội hóa một số hoạt động phòng, chống HIV/AIDS mà người dân có khả năng đóng góp;

– Rà soát, sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách hỗ trợ cho người nhiễm HIV thuộc đối tượng chính sách xã hội, chú trọng các chính sách hỗ trợ, chăm sóc trẻ em nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;

– Xây dựng chế độ, chính sách khuyến khích, huy động sự tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân   trong nước, ngoài nước, trong đó chú trọng vào các nội dung: Tiếp nhận, sử dụng lao động là người nhiễm HIV và người dễ bị lây nhiễm HIV, thành lập các cơ sở tư nhân và từ thiện về chăm sóc người bệnh AIDS, phát triển các  trung tâm, các cơ sở hỗ trợ xã hội, pháp lý cho người nhiễm HIV.

Thường xuyên tổ chức việc phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV.

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS.

4. Nhóm giải pháp về dự phòng lây nhiễm HIV:

Đổi mới, mở rộng, nâng cao chất lượng công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS:

– Đa dạng hóa về nội dung, phương thức thực hiện thông tin, giáo dục, truyền thông bảo đảm tính thân thiện, có chất lượng, phù hợp với đặc điểm  của từng nhóm đối tượng, văn hóa, ngôn ngữ ở các vùng miền khác nhau, trong đó chú trọng truyền thông cho người dễ bị lây nhiễm HIV, người trong   độ tuổi sinh đẻ, học sinh, sinh viên, đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa; lồng ghép các nội dung tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống HIV/AIDS với tuyên truyền về bình đẳng giới, nâng cao nhận thức về giới, giáo dục sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản và các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể    dục, thể thao và du lịch;

– Kết hợp giữa truyền thông đại chúng với truyền thông trực tiếp, trong đó chú trọng phát huy vai trò, trách nhiệm của hệ thống thông tin, truyền thông và tổ chức chính trị – xã hội các cấp, hệ thống quân y; đồng thời vận động các nhà lãnh đạo, các nhân vật nổi tiếng, tổ trưởng dân phố, trưởng cụm dân cư, trưởng thôn, già làng, trưởng bản, trưởng làng, trưởng ấp, trưởng phum, trưởng sóc, trưởng ban công tác mặt trận, trưởng các dòng họ, trưởng  tộc, các chức sắc tôn giáo, người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng, người nhiễm HIV tham gia công tác tuyên truyền về phòng, chống HIV/AIDS.

Mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng các dịch vụ can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm người dễ bị lây nhiễm HIV:

– Tiếp tục mở rộng phạm vi triển khai chương trình cung cấp, sử dụng bơm kim tiêm sạch, chương trình khuyến khích sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, các mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng;

– Nghiên cứu, triển khai thí điểm các hình thức mới về cung cấp bơm   kim tiêm sạch, bao cao su và các mô hình kết hợp các biện pháp can thiệp trong hoạt động phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm; triển khai thí điểm các mô hình cung cấp gói can thiệp toàn diện cho các nhóm người dễ bị lây nhiễm HIV và mô hình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, các thuốc mới và các bài thuốc y học cổ truyền; nghiên cứu áp dụng các mô hình dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp và các loại ma túy mới;

– Thực hiện việc lồng ghép các hoạt động can thiệp với các mô hình cai nghiện dựa vào cộng đồng, các mô hình quản lý sau cai;

– Tiếp tục triển khai và từng bước mở rộng phạm vi dịch vụ khám và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, chú trọng việc lồng ghép tư vấn, khám và điều trị các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục với khám sức khỏe định kỳ;

– Nghiên cứu, xây dựng các hướng dẫn về điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV, trong đó chú trọng việc xây dựng hướng dẫn về biện pháp điều trị dự phòng phổ cập ngoài cơ sở y tế.

Nâng cao chất lượng và mở rộng dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV và các hoạt động dự phòng lây nhiễm HIV khác:

– Đa dạng hóa các mô hình dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, trong đó chú trọng việc triển khai thí điểm các mô hình xét nghiệm sàng lọc HIV tại  cộng đồng; nghiên cứu đề xuất các biện pháp tăng cường khả năng tiếp cận với dịch vụ tư vấn, xét nghiệm HIV của người dân, chuyển gửi người xét nghiệm HIV dương tính tiếp cận với chương trình chăm sóc, điều trị;   

– Tăng cường đầu tư, giám sát việc dự phòng lây nhiễm HIV qua các   dịch vụ xã hội và y tế, trong đó chú trọng việc cung cấp trang thiết bị bảo đảm công tác vô trùng, tiệt trùng cho các cơ sở y tế; đào tạo tập huấn cho nhân viên y tế về dự phòng phổ cập trong các dịch vụ y tế; cung cấp thông tin về dự phòng phổ cập trong các dịch vụ xã hội.

5. Nhóm giải pháp về điều trị, chăm sóc người nhiễm HIV:

Mở rộng phạm vi cung cấp, bảo đảm tính liên tục và dễ tiếp cận của dịch vụ điều trị bằng thuốc kháng vi rút HIV, điều trị nhiễm trùng cơ hội, điều trị lao cho người nhiễm HIV, điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con thông qua việc đưa công tác điều trị về tuyến y tế cơ sở, lồng ghép với các chương trình y tế khác; tổ chức điều trị tại các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội, trại giam, trại tạm giam, trường giáo dưỡng; củng cố, phát triển hệ thống chăm sóc tại cộng đồng của người nhiễm HIV, các tổ chức tôn giáo, tổ chức xã hội và các tổ chức khác.

Nâng cao chất lượng các dịch vụ điều trị:

– Bảo đảm tính sẵn có, tính dễ tiếp cận với thuốc kháng vi rút HIV; đồng thời khuyến khích việc sử dụng các bài thuốc y học cổ truyền nhằm nâng cao  thể trạng và tăng cường hệ miễn dịch cho người nhiễm HIV;

– Nâng cao chất lượng và mở rộng hệ thống xét nghiệm phục vụ cho công tác chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS;

– Ứng dụng các mô hình điều trị mới cho người nhiễm HIV và các biện pháp nhằm giảm chi phí điều trị và tăng hiệu quả của điều trị bằng thuốc kháng vi rút HIV;

– Lồng ghép điều trị HIV/AIDS với các chương trình khác; thực hiện việc kết nối giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ điều trị, chăm sóc ở cộng đồng  với hệ thống cơ sở y tế trong và ngoài công lập để tạo thành chuỗi dịch vụ liên tục, có chất lượng bảo đảm thực hiện các gói dịch vụ dự phòng, điều trị,  chăm sóc toàn diện; thực hiện việc kết hợp điều trị thực thể với hỗ trợ tâm lý  cho người nhiễm HIV.

Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ vật chất, tinh thần cho người nhiễm HIV và gia đình họ để người nhiễm HIV ổn định cuộc sống, hoà nhập và được chăm sóc tại gia đình và cộng đồng.

6. Nhóm giải pháp về giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá:

Củng cố và kiện toàn hệ thống giám sát, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS bảo đảm có hệ thống theo dõi, đánh giá thống nhất và có tính đa ngành;

Củng cố và hoàn thiện hệ thống quản lý thông tin chương trình phòng, chống HIV/AIDS quốc gia bảo đảm đầy đủ, kịp thời và dễ tiếp cận;

Nâng cao chất lượng số liệu giám sát dịch HIV/AIDS, số liệu đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS;

Thường xuyên phân tích, đánh giá diễn biến dịch HIV/AIDS, đánh giá hiệu quả các hoạt động của chương trình và xác định các khu vực ưu tiên trong phòng, chống HIV/AIDS;

Tăng cường hướng dẫn, điều phối, phổ biến, chia sẻ dữ liệu, sử dụng dữ liệu trong các hoạt động của chương trình phòng, chống HIV/AIDS.

7. Nhóm giải pháp về nguồn tài chính:

Huy động nguồn lực cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS từ các nguồn của trung ương, địa phương, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong, ngoài nước và nhân dân để bảo đảm nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chiến lược, trong đó xác định nguồn đầu tư từ ngân sách là chính đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp nhằm tăng dần tỷ  trọng của bảo hiểm y tế tham gia chi trả cho các dịch vụ về HIV/AIDS và khuyến khích các địa phương, các tổ chức, các doanh nghiệp, cá nhân trong  và ngoài nước đầu tư nguồn lực cho công tác phòng, chống HIV/AIDS;

Tăng cường quản lý, giám sát và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí đầu tư cho công tác phòng, chống HIV/AIDS;

Phát huy tính chủ động quốc gia trong việc điều phối, quản lý, sử dụng các dự án viện trợ, bảo đảm các dự án phải theo đúng nội dung Chiến lược.

8. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:

Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống HIV/AIDS bảo đảm tính bền vững;

Xây dựng khung chương trình, chuẩn hóa tài liệu đào tạo về phòng, chống HIV/AIDS trong hệ thống trường y. Nâng cao năng lực giảng dạy, đào tạo về phòng, chống HIV/AIDS cho đội ngũ giáo viên cho các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;

Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS, trong đó chú trọng việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ hệ thống y tế tuyến huyện, xã và y tế thôn bản;

Nâng cao năng lực cho các Bộ, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ   chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, mạng lưới người nhiễm HIV, nhóm tự  lực, câu lạc bộ trong cung cấp dịch vụ phòng, chống HIV/AIDS, tăng cường  đào tạo cho người nhiễm HIV về kỹ năng chăm sóc, tư vấn để tham gia hỗ trợ công tác điều trị cho bệnh nhân.

9. Nhóm giải pháp về cung ứng thuốc, thiết bị:

Xây dựng và tổ chức chuỗi cung ứng thuốc, thiết bị thống nhất, dựa trên hệ thống tiêu chuẩn chất lượng;

Xây dựng kế hoạch nhu cầu thuốc, thiết bị cho cả giai đoạn;

Tăng cường năng lực của các nhà sản xuất trong nước và có chính sách hỗ trợ, ưu đãi cho việc sản xuất thuốc, thiết bị nhằm bảo đảm tính chủ động trong việc đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu;

Củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho các đơn vị thuộc hệ thống phòng, chống HIV/AIDS.

10. Nhóm giải pháp về hợp tác quốc tế:

Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và cam kết quốc tế trong phòng, chống HIV/AIDS;

Củng cố, tăng cường hợp tác quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ với các tổ chức Liên hợp quốc, song phương, đa phương để tranh thủ sự hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và kỹ năng quản lý cho  công tác phòng, chống HIV/AIDS;

Phối hợp chặt chẽ với các nước có chung biên giới đường bộ trong việc chia sẻ thông tin và triển khai các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS qua biên giới.

HT

Nhiều Giải Pháp Hiệu Quả Phòng, Chống Hiv/Aids

Chăm sóc sức khỏe cho trẻ có HIV tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội.

Quan tâm đến người có HIV

Đến thời điểm này, Hà Nội là số ít địa phương chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung trẻ em có HIV mất nguồn nuôi dưỡng ngoài cộng đồng. Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội (xã Yên Bài, huyện Ba Vì) là ngôi nhà chung của các cháu, hiện có hơn 70 trẻ đến từ Hà Nội và nhiều địa phương khác. Tại đây, các cháu được chăm lo chu đáo từ bữa ăn, giấc ngủ, uống đủ thuốc điều trị đến việc học tập, định hướng nghề nghiệp theo hình thức gia đình thay thế.

Từ kinh nghiệm chăm sóc, điều trị cho trẻ em có HIV, chị Hồ Thị Thu Chín, cán bộ y tế của Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội cho hay, nếu được chăm sóc đúng cách, uống thuốc điều trị đều đặn, trẻ có HIV vẫn sống khỏe mạnh, đủ khả năng hòa nhập xã hội. Trên thực tế, một số cháu lớn lên từ ngôi nhà chung dành cho trẻ có HIV đã trưởng thành. Điển hình là cháu N.Đ.Đ, đang học năm thứ ba đại học; hay N.T.T đã có việc làm ổn định. Nhiều trường hợp khác đang học trung học phổ thông song song với học nghề tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp gần Cơ sở cai nghiện ma túy số 2 Hà Nội.

Đối với trẻ có HIV sống ngoài cộng đồng, các cháu cũng được chăm sóc thường xuyên về y tế, giáo dục. Còn với người lớn, 100% số người có HIV được khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện để điều trị bằng thuốc kháng vi rút (ARV), giúp họ phục hồi hệ thống miễn dịch, tránh được các nhiễm trùng cơ hội, cải thiện sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nguy cơ lây truyền HIV cho người khác… Thậm chí, để thu hút người có HIV đi điều trị, thành phố Hà Nội còn có chính sách thưởng tiền cho những tổ chức, cá nhân vận động họ tiến hành điều trị lần đầu và cả những lần kế tiếp.

Những người cần vốn tạo dựng cuộc sống sẽ được ưu tiên tiếp cận với nguồn vốn vay ưu đãi từ hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội. Đây là giải pháp hiệu quả giúp người có HIV vượt qua tâm lý tự ti, mặc cảm để hòa nhập cộng đồng.

Phấn đấu đạt mục tiêu 90-90-90

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội, đến nay, lũy tích số người có HIV trên địa bàn thành phố là hơn 29.000 người, trong đó có hơn 23.000 người còn sống. Số người có HIV phát hiện mới trong những tháng đầu năm 2020 là hơn 600 người, chủ yếu là nam giới… Điều đáng nói, 99,5% xã, phường, thị trấn ở tất cả các quận, huyện, thị xã đã phát hiện người có HIV. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu không kiểm soát, phòng, chống tốt, nguy cơ lây truyền HIV/AIDS trong cộng đồng là rất lớn.

Trước thực trạng này, các địa phương tiếp tục triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống HIV/AIDS. Chẳng hạn, quận Hai Bà Trưng vừa kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống HIV/AIDS; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền giúp người dân nâng cao nhận thức, chủ động phòng, tránh. Đến nay, các lực lượng chức năng quận Hai Bà Trưng đã truyền thông gần 15.000 lượt cho nhóm nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS và nhóm thanh, thiếu niên; duy trì sinh hoạt các câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng, thu hút 90% số người có HIV trên địa bàn tham gia. Quận Thanh Xuân đã vận động nguồn lực xã hội hóa gây “Quỹ Hỗ trợ phòng, chống dịch, bệnh nguy hiểm”, trong đó có HIV/AIDS, nhằm hỗ trợ kịp thời những trường hợp khó khăn, giúp họ ổn định cuộc sống.

Trên phạm vi toàn thành phố, việc phòng, chống HIV/AIDS được triển khai đồng thời theo nhiều hướng, đó là truyền thông, can thiệp, dự phòng, chăm sóc điều trị… Vì thế, các hoạt động truyền thông đang được đẩy mạnh. Riêng tháng 6 vừa qua, các lực lượng chức năng đã thực hiện hơn 8.000 lượt truyền thông. Hoạt động can thiệp cũng được tăng cường thông qua chương trình phát bao cao su, bơm kim tiêm miễn phí.

Đối với công tác xét nghiệm phát hiện HIV, hiện nay, thành phố duy trì 73 phòng xét nghiệm sàng lọc, đồng thời cấp chứng nhận đủ điều kiện xét nghiệm HIV cho 11 cơ sở y tế (6 bệnh viện thành phố và 5 trung tâm y tế quận, huyện). Việc chăm sóc điều trị HIV/AIDS được quan tâm khi 100% cơ sở điều trị HIV/AIDS được giám sát hỗ trợ kỹ thuật; 100% bệnh nhân lao đồng nhiễm HIV được điều trị ARV trong quá trình điều trị lao…

Với những giải pháp đã, đang triển khai, bà Lã Thị Lan, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hà Nội tin tưởng, công tác phòng, chống HIV/AIDS sẽ đạt mục tiêu 90-90-90 trong tương lai gần (90% người có HIV biết được tình trạng bệnh của mình; 90% người có HIV được điều trị ARV; 90% số người được điều trị ARV kiểm soát được tải lượng vi rút ở mức thấp).

Xuân Trường Với Các Giải Pháp Phòng Chống Hiv/Aids

Huyện Xuân Trường có 20 xã, thị trấn. Với đặc thù là huyện có nhiều người dân đi làm ăn xa, đã mang nguồn kinh tế lớn về cho địa phương nhưng kèm theo đó là tỷ lệ người mắc HIV cũng tăng lên. Từ ca nhiễm HIV đầu tiên năm 1998 đến đầu năm 2019 huyện Xuân Trường có lũy tích 543 người nhiễm HIV/AIDS, nguyên nhân chủ yếu do tiêm chích ma túy. Trong tổng số người nhiễm HIV, có 357 người chuyển sang giai đoạn AIDS, đã tử vong 224 người.

Trước thực trạng trên, cấp uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh các hoạt động phòng chống HIV/AIDS. Trung tâm Y tế huyện đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai nhiều hình thức thông tin phong phú bao gồm: thông tin giáo dục truyền thông thay đổi hành vi, tư vấn trực tiếp cho các đối tượng là người nghiện chích ma tuý, người bán dâm, tiếp viên nhà hàng, người nhiễm HIV, gia đình người nhiễm HIV, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và các nhóm nguy cơ khác. Các hoạt động truyền thông được Trung tâm Y tế huyện tích cực triển khai tại cộng đồng với phương châm “Hướng về cơ sở” qua việc triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư” lồng ghép với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Công tác truyền thông được đa dạng hoá các loại hình để chuyển tải thông tin, kiến thức phòng, chống HIV/AIDS đến cộng đồng như: Tổ chức tháng chiến dịch truyền thông hưởng ứng ngày Thế giới phòng, chống HIV/AIDS với quy mô lớn. Các ngành chức năng phối hợp với các trường học tổ chức truyền thông phòng, chống HIV/AIDS thông qua các hình thức hội thảo, tập huấn, các buổi học ngoại khoá… Bên cạnh đó, Trung tâm nâng cao chất lượng, tăng số lượng tài liệu truyền thông (pano, tờ gấp, áp phích, sổ tay truyền thông, tranh lịch…); điều phối hợp lý các nguồn tài liệu truyền thông cung cấp cho cộng đồng; duy trì, củng cố hoạt động của đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên. Năm 2018, Trung tâm Y tế huyện phối hợp với các ngành chức năng tổ chức 178 lượt truyền thông về HIV bằng các hình thức cho 9.125 người. Bên cạnh đó, công tác giám sát dịch HIV/AIDS và can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV được tăng cường. Hàng năm các ngành chức năng đều tổ chức điều tra, đánh giá thực trạng tình hình nhiễm HIV/AIDS, số lượng đối tượng nguy cơ cao; rà soát số liệu định kỳ, giám sát bệnh nhân chuyển giai đoạn AIDS và tử vong do HIV/AIDS tại tuyến xã; ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác giám sát, quản lý, thống kê báo cáo số liệu HIV/AIDS; nâng cao chất lượng xét nghiệm sàng lọc, đào tạo nâng cao năng lực, cập nhật kiến thức mới về xét nghiệm HIV cho cán bộ làm công tác xét nghiệm. Hệ thống cán bộ chuyên trách về giám sát HIV/AIDS được củng cố nâng cao năng lực hoạt động nghiêm túc chế độ rà soát, báo cáo thống kê số liệu theo quy định. Cũng trong chương trình can thiệp giảm tác hại lây nhiễm HIV, các ngành chức năng tích cực thực hiện chương trình điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Từ tháng 7 năm 2011 đến nay, cơ sở Methadone huyện Xuân Trường đã tiếp nhận và điều trị cho 558 bệnh nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện; trong đó có 252 bệnh nhân hiện đang điều trị.

Để triển khai công tác điều trị ARV cho bệnh nhân HIV, được sự hỗ trợ của dự án Quỹ toàn cầu, từ năm 2006, Trung tâm Y tế huyện triển khai phòng khám ngoại trú cho bệnh nhân HIV/AIDS. Hiện phòng khám ngoại trú của Trung tâm đang điều trị ARV cho 138 người nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn huyện. Hàng tháng Trung tâm khám và cấp thuốc nhiễm trùng cơ hội cho trung bình gần 30 lượt bệnh nhân. Trước đây kinh phí điều trị cho bệnh nhân ARV do dự án Quỹ toàn cầu chi trả; từ năm 2019, kinh phí điều trị cho số bệnh nhân này do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán (nếu bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế). Cùng với công tác điều trị, Trung tâm tăng cường hoạt động tư vấn xét nghiệm để người nhiễm HIV/AIDS, người có nguy cơ cao được tiếp cận các dịch vụ y tế và dịch vụ xã hội khác; triển khai công tác chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng thông qua đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, cộng tác viên; phát huy trách nhiệm người nhiễm HIV trong chăm sóc HIV/AIDS tại cộng đồng; phối hợp tốt giữa chương trình phòng, chống HIV/AIDS và chương trình Lao trong công tác dự phòng, điều trị, chăm sóc. Năm 2018, Phòng Tư vấn và xét nghiệm tự nguyện của Trung tâm đã tư vấn và xét nghiệm cho 633 trường hợp, trong đó phát hiện 3 trường hợp dương tính (+) với HIV. Các trường hợp này đã được tư vấn và chuyển gửi đến phòng khám điều trị ngoại trú OPC của Trung tâm để được khám và điều trị.

Với nhiều giải pháp đồng bộ, công tác phòng chống HIV/AIDS ở huyện Xuân Trường đã đạt hiệu quả tích cực, chất lượng điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS ngày càng được nâng cao. Công tác dự phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng đã đến được các đối tượng nhiễm HIV; hàng nghìn người có hành vi nguy cơ cao được tiếp cận truyền thông tư vấn. Thông qua nhóm cộng tác viên, đồng đẳng viên, đã phát bơm kim tiêm và bao cao su cho hàng nghìn đối tượng nghiện chích ma túy trên địa bàn; tuyên truyền cho nhân dân và các đối tượng nguy cơ cao hiểu và biết cách phòng lây nhiễm HIV, góp phần giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trên địa bàn./.

Trình Vũ

Tháng Hành Động Quốc Gia Phòng, Chống Hiv/Aids Năm 2022 (Từ Ngày 10

Theo số liệu của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, toàn tỉnh có lũy tích 5.436 người nhiễm HIV, 3.024 người bị bệnh AIDS; trong đó số bệnh nhân AIDS đã tử vong là 1.371 người. Dịch HIV đã xuất hiện tại 10/10 huyện, thành phố, 97,4% xã, phường, thị trấn. Tại tỉnh ta dịch HIV vẫn trong giai đoạn tập trung, chủ yếu trong nhóm nghiện chích ma túy. Mặc dù dịch HIV/AIDS tại tỉnh ta có dấu hiệu chững lại song vẫn tiềm ẩn các yếu tố nguy cơ bùng phát trở lại.

Trước thực trạng đó, Ban Chỉ đạo Phòng, chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm từ tỉnh đến các huyện, thành phố đã tăng cường các giải pháp phòng, chống HIV/AIDS. Công tác truyền thông huy động cộng đồng được đẩy mạnh với việc tiếp tục mở rộng phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư” tại 52 xã, phường, thị trấn với 104 nhóm nòng cốt được hình thành, song song với việc duy trì mô hình xã (phường) toàn diện về phòng, chống HIV/AIDS tại xã Hải Nam (Hải Hậu), xã Giao Xuân (Giao Thủy), phường Ngô Quyền (TP Nam Định) với các hoạt động như: Tuyên truyền phòng, chống HIV/AIDS trên loa truyền thanh; phân phát tài liệu truyền thông điều trị Methadone, tư vấn xét nghiệm tự nguyện và điều trị ARV; tổ chức nói chuyện chuyên đề tại tổ dân phố và thôn, xóm; cung cấp thuốc sát khuẩn và gói chăm sóc cho trạm Y tế để chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS. Trong 9 tháng đầu năm 2016, đã có 1.350 cuốn tạp chí “AIDS và cộng đồng” được cấp phát tới các sở, ban, ngành và cơ sở; 45 nghìn tờ rơi về điều trị Methadone và điều trị HIV/AIDS được phân phát tới các sở, ban, ngành, các cơ sở dự phòng, chăm sóc điều trị HIV/AIDS, các xã, phường trên toàn tỉnh; 261.835 lượt người được truyền thông về phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn toàn tỉnh. Công tác giám sát HIV/AIDS và can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV được tiếp tục triển khai tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Thành phố Nam Định với các hoạt động như: Phân phát bơm kim tiêm (BKT) miễn phí cho nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) và thu gom BKT đã qua sử dụng thông qua đội ngũ cộng tác viên đồng đẳng và trạm y tế xã, phường với 584.400 BKT được phát cho 2.952 người NCMT và giới thiệu cho trên 960 người tiếp cận dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện; phân phát bao cao su (BCS) trong các nhóm NCMT tại các huyện Giao Thủy, Hải Hậu; nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) tại huyện Giao Thủy; nhóm nam có quan hệ tình dục với nam (MSM) tại Thành phố Nam Định thông qua đội ngũ nhân viên tiếp cận cộng đồng. Đã có 198.990 BCS được phân phát cho các nhóm tiếp cận và cho 2.064 người NCMT, 434 PNMD, 678 MSM; góp phần giúp dự phòng lây nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng này. Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone cho trên 1.700 bệnh nhân, ở 8 cơ sở Methadone trên địa bàn tỉnh. Qua đó giúp bệnh nhân không còn lệ thuộc và sử dụng ma túy, nâng cao sức khỏe, ổn định tập lý, tái hòa nhập cộng đồng. Chương trình tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS được thực hiện tại các bệnh viện đa khoa, các cơ sở y tế và các phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện và 10 phòng tư vấn xét nghiệm HIV đặt tại Trung tâm Y tế các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Xuân Trường, Ý Yên, Nam Trực, Mỹ Lộc, Trực Ninh, Thành phố Nam Định và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh. Trong 10 tháng đầu năm 2016 toàn tỉnh đã tư vấn và xét nghiệm cho 6.386 người, trong đó phát hiện 96 người có HIV dương tính.

Cán bộ Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục và Lao động xã hội huyện Xuân Trường tư vấn phòng tránh lây nhiễm HIV cho học viên.

Với các giải pháp tích cực, công tác dự phòng lây nhiễm HIV trong cộng đồng đã tới được các đối tượng nhiễm HIV, chất lượng điều trị cho bệnh nhân AIDS ngày càng được nâng cao. Thời gian tới các ngành chức năng, các địa phương tiếp tục tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống HIV/AIDS; thực hiện các chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ công tác trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS và các đối tượng bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS theo quy định. Tiếp tục duy trì mô hình điểm về phòng, chống HIV/AIDS tại 3 xã, phường của các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Thành phố Nam Định; duy trì hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV cho các nhóm NCMT, PNMD tại các địa bàn đã triển khai. Nâng cao chất lượng hoạt động điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone; mở rộng độ bao phủ dịch vụ điều trị HIV/AIDS tại các huyện chưa có phòng khám ngoại trú HIV/AIDS. Triển khai chương trình Cải thiện chất lượng chăm sóc và điều trị HIV/AIDS tại các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS trên toàn tỉnh; thực hiện Đề án đảm bảo tài chính cho các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2016-2020 để huy động các nguồn lực cho chương trình phòng, chống HIV/AIDS khi các dự án quốc tế cắt giảm viện trợ./.

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Nhóm Giải Pháp Phòng Chống Hiv trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!