Xu Hướng 2/2023 # 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 View | Phauthuatthankinh.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq được cập nhật mới nhất trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trang chủHOẠT ĐỘNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH

10 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-BCH và Chỉ thị 03/CT-TLĐ giai đoạn 2010 – 2020 

10 năm qua, đội ngũ nữ CNVCLĐ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ngày càng phát triển về số lượng và chất lượng, là lực lượng đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương; hiện nay, nữ đoàn viên công đoàn chiếm tỷ lệ 57,7%. 

Các đồng chí lãnh đạo LĐLĐ tỉnh biểu dương nữ CNVCLĐ tiêu biểu

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Nghị quyết 6b/NQ-BCH về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và Chỉ thị 03/CT-TLĐ về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”; ngay sau khi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết, Liên đoàn Lao động tỉnh đã kịp thời xây dựng Kế hoạch triển khai đến các cấp công đoàn trong tỉnh. Trong công tác chỉ đạo đã gắn với việc tổ chức quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đặc biệt là triển khai thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới; Chỉ thị 05-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”… Đồng thời, chỉ đạo công đoàn trực thuộc tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phối hợp với chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp.

 Kết quả thực hiện chương trình phối hợp với Hội Phụ nữ cùng cấp trong công tác vận động nữ CNVCLĐ được duy trì thường xuyên; đồng thời, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện từ tỉnh đến cơ sở; qua đó, tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước sâu rộng trong các cấp công đoàn được đông đảo nữ đoàn viên nhiệt tình hưởng ứng. Hầu hết Trưởng Ban nữ công LĐLĐ từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố đều tham gia BCH Hội LHPN cùng cấp, lãnh đạo Hội LHPN từ tỉnh đến cấp huyện đều tham gia BCH LĐLĐ cùng cấp; vì vậy, các chủ trương, chương trình của công đoàn cũng như của hội đều được phối hợp triển khai đầy đủ, kịp thời.

Thực hiện Nghị quyết 12b/NQ-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động về Ban nữ công quần chúng doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; đến nay, có 878/878 CĐCS đủ điều kiện đã thành lập ban nữ công quần chúng. Hoạt động của Ban nữ công quần chúng các cấp công đoàn đã phát huy được vai trò tham mưu trong đề xuất những giải pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng cho lao động nữ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nữ công nhân, viên chức lao động.

Phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ đã phát huy được vai trò, tiềm năng to lớn của nữ CNVCLĐ trong công cuộc đổi mới, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; phong trào đã được triển khai sâu rộng, gắn với các phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; “Phụ nữ Quảng Bình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Lao động giỏi, lao động sáng tạo” và các phong trào thi đua khác tạo nên khí thế sôi nổi trong lao động sản xuất, học tập, công tác được đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia. Thông qua các phong trào thi đua, nữ CNVCLĐ đã không ngừng phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành nhiều mặt; phát huy được năng lực, phẩm chất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cơ quan, đơn vị; thực hiện tốt vai trò người mẹ, người vợ, người con trong gia đình. Nhiều nữ CNVCLĐ đã vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, được đảm nhận vị trí lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, đơn vị, doanh nghiệp; hàng năm có trên 95% nữ CNVCLĐ được công nhận danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ: tỷ lệ nữ tham gia BCH công đoàn các cấp đạt 39% (chỉ tiêu 30%); 100% công đoàn cơ sở có 30% nữ CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn trở lên có cán bộ lãnh đạo chủ chốt công đoàn là nữ hoặc có nữ là ủy viên Ban Thường vụ, Ban chấp hành công đoàn. Có 100% số cán bộ chủ chốt công đoàn các cấp, 100% số cán bộ nữ công công đoàn cấp trên cơ sở được bồi dưỡng, tập huấn nội dung về bình đẳng giới, lồng ghép giới trong hoạt động công đoàn.

Với những thành tích đã đạt được 10 năm, Tổng LĐLĐ Việt Nam Bằng khen chuyên đề cho 02 cá nhân; LĐLĐ tỉnh tặng Bằng khen chuyên đề cho 20 tập thể, 33 cá nhân, Hội LHPN tỉnh tặng Bằng khen cho 4 cá nhân. Trong công tác chuyên môn, nhiều chị được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, thầy thuốc ưu tú, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen…

Trong những năm tiếp theo, dự báo sẽ có nhiều thuận lợi, khó khăn đặt ra đối với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn nói chung và nữ CNVCLĐ nói riêng. Vì vậy, đặt ra cho tổ chức công đoàn các cấp phải đổi mới, sáng tạo, vận dụng linh hoạt trong phương pháp vận động nữ CNVCLĐ và tổ chức các phong trào thi đua trong lao động nữ; cần lựa chọn hình thức tuyên truyền phù hợp với điều kiện sống và làm việc của nữ CNVCLĐ, chú trọng hơn ở doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài nhà nước; tăng cường công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, nâng cao chất lượng nghiệp vụ công tác nữ công; vận động nữ CNVCLĐ tích cực học tập, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, tay nghề; tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao, các phong trào thi đua do các cấp công đoàn phát động; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” gắn với phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, chú trọng xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, cụ thể hóa nội dung thi đua, tiêu chuẩn thi đua phù hợp với nữ CNVCLĐ trong từng cơ quan, đơn vi, doanh nghiệp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác vận động nữ CNVCLĐ của các cấp công đoàn trong tỉnh.

                                                                                      Thu Hạnh 

[Trở về]

Các tin đã đăng

Liên đoàn Lao đông tỉnh hỗ trợ xây dựng 29 nhà “Mái ấm Công đoàn”. 

Lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh: Thăm hỏi gia đình có nạn nhân bị tai nạn giao thông 

Liên đoàn Lao động tỉnh: Tổ chức “Ngày hội hiến máu tình nguyện” năm 2020 

Công đoàn Quảng Bình: Niềm tin, cầu nối của người lao động 

Hỗ trợ 200 triệu đồng cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn 

Hiệu quả Chương trình phối hợp giữa Liên đoàn Lao động tỉnh và Bảo hiểm xã hội tỉnh năm 2019 

Những giải pháp trong công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các chính sách BHXH cho người lao động 

Hướng Dẫn Sơ Kết Việc Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq

Sơ kết việc thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ về công tác vận động nữ

công nhân, viên chức, lao động thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2010 – 2015

Nghị Quyết 6b/NQ-TLĐ ngày 29/01/2011 của Tổng LĐLĐ Việt Nam về công tác vận động nữ công nhân, viên chức, lao động (CNVCLĐ) thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ( CNH-HĐH) đất nước (sau đây viết tắt là Nghị quyết 6b) đã được Ban Thường vụ Công đoàn Giáo dục Việt Nam nghiên cứu và ban hành Kế hoạch số 610/KH-CĐN ngày 29/8/2011 thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước (sau đây viết tắt là Kế hoạch 610) để chỉ đạo, triển khai thực hiện trong hệ thống công đoàn ngành Giáo dục.

Thực hiện Hướng dẫn số 21/HD-TLĐ ngày 07/01/2015 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 6b, Công đoàn Giáo dục Việt Nam hướng dẫn các đơn vị tiến hành tổ chức sơ kết như sau:

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch 610, làm rõ những ưu điểm, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân; xây dựng nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2015 – 2020 nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 6b, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị khóa X “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

2. Tổ chức sơ kết một cách nghiêm túc, thiết thực, hiệu quả, đảm bảo về nội dung và phù hợp với tình hình địa phương, đơn vị.

II. NỘI DUNG

– Kiểm điểm, đánh giá công tác chỉ đạo của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành công đoàn giáo dục các cấp; vai trò tham mưu của Ban Nữ công; kết quả thực hiện các nội dung của Kế hoạch 610.

– Báo cáo sơ kết cần nêu bật được những nét mới, sáng tạo; những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm; đề xuất, kiến nghị; xác định nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp của giai đoạn 2015 – 2020 nhằm tiếp tục thực hiện tốt công tác vận động nữ cán bộ, nhà giáo, người lao động (CBNGNLĐ) thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước; gắn với triển khai kế hoạch hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Công đoàn Giáo dục Việt Nam thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Đề nghị Công đoàn đại học Quốc gia, đại học vùng, Công đoàn cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn các trường đại học, cao đẳng và đơn vị trực thuộc nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và tiến hành sơ kết nghiêm túc, chất lượng, phù hợp với tình hình thực tiễn của đơn vị (có thể lồng ghép với tổng kết “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” giai đoạn 2010 – 2015).

Báo cáo sơ kết (theo đề cương đính kèm), gửi về CĐGD Việt Nam qua Ban Tuyên giáo – Nữ công trước ngày 25/6/2015 theo địa chỉ tuyengiaonucong@congdoangdvn.org.vn hoặc tuyengiaonucong tại trang lãnh đạo Website CĐGD Việt Nam./.

Kèm theo là đề cương báo cáo: HD Số: 04/HD-CĐN

Tọa Đàm Triển Khai Tuyên Truyền Các Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết 11/Nq

Chiều 29/3, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh tổ chức tọa đàm triển khai tuyền truyền các giải pháp thực hiện Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ và kỷ niệm 60 năm thành lập ngành Ngân hàng Việt Nam.

Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Huy Tiến đề nghị các cơ quan báo chí quan tâm đến những nội dung cụ thể trong hoạt động ngân hàng như: nâng cao chất lượng hoạt động tuyên truyền phổ biến cơ chế, chính sách và các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng đến người dân; công khai minh bạch thông tin về chất lượng hoạt động ngân hàng và phối hợp chặt chẽ trong việc chọn lọc, kiểm tra, kiểm duyệt thông tin; tuyên truyền các dự án, mô hình SX-KD phát huy hiệu quả vốn vay ngân hàng.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, việc cung cấp thông tin và lý giải các cơ chế chính sách của ngành với bạn đọc về việc triển khai các giải pháp thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP là nội dung trọng tâm. Cụ thể là tuyên truyền về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, các biện pháp quản lý về tín dụng và lãi suất, về quản lý ngoại hối đang được thực thi tại địa bàn. Từ cầu nối báo chí, ngành Ngân hàng sẽ tìm được tiếng nói chung với người dân và các cấp ngành trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng nhằm góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh tập trung phản ánh về các giải pháp của ngành để thực hiện Nghị quyết 11, thời gian này, ngành Ngân hàng cũng đề nghị các cơ quan thông tấn báo chí trên địa bàn quan tâm tuyên truyền về truyền thống 60 năm của ngành Ngân hàng Việt Nam và các hoạt động của các ngân hàng Hà Tĩnh trong dịp lễ kỷ niệm này.

Tại buổi tọa đàm, lãnh đạo và phóng viên các cơ quan báo chí thống nhất những nội dung tuyên tuyền theo yêu cầu của ngành Ngân hàng và đề nghị các ngân hàng cần tạo điều kiện thuận lợi cho phóng viên trong quá trình tác nghiệp, nhất là trong giai đoạn hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn và nhạy cảm như hiện nay thì cần có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa giữa ngành và báo chí.

Phát biểu tại buổi tọa đàm, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh và Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh thống nhất cao với những nội dung kế hoạch phối hợp tuyên truyền giữa ngành Ngân hàng với các cơ quan báo chí và mong muốn đợt tuyên tuyền sẽ góp phần thực hiện thành công các mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô mà Nghị quyết 11 đề ra, đồng thời thể hiện được vai trò, vị trí quan trọng của ngành ngân hàng trong giai đoạn mới.

m.t

Các tin đã đưa

Nhiều Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6

(BĐT) – Thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII, thời gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tập trung xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, pháp luật, cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước, tích cực chủ động đổi mới tư duy, phương pháp, cách làm từ công tác chỉ đạo đến tổ chức thực hiện.

Đó là khẳng định của ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT tại Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết TW6 của Đảng bộ KH&ĐT sáng ngày 4/1/2018.

Xây dựng khung pháp lý cho động lực tăng trưởng mới

Tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đánh giá, năm 2017, các đơn vị của Bộ đã triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ được giao; từng bước đổi mới tư duy, chuyển từ việc xây dựng kế hoạch, giao vốn hàng năm sang nhiệm vụ chính là tập trung nghiên cứu, tham mưu tổng hợp về xây dựng cơ chế, chính sách trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp kịp thời để chỉ đạo, điều hành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội tốt hơn; đồng thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Theo đánh giá, việc xây dựng, trình Quốc hội thông qua Luật Quy hoạch trong năm 2017 đã tạo được bước cải cách về thể chế, tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật về quy hoạch. Điều này đã góp phần thay đổi phương thức quản lý nhà nước theo hướng Nhà nước kiến tạo và phục vụ. Theo đó, Nhà nước chỉ quy hoạch những ngành thiết yếu để kiến tạo sự phát triển theo cơ chế thị trường, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội và thúc đẩy việc huy động các nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển, giảm bớt gánh nặng đầu tư công.

Các quy định của Luật Quy hoạch tăng cường liên kết vùng, phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Luật Quy hoạch cũng loại bỏ các quy hoạch sản phẩm và các giấy phép trái với quy luật của kinh tế thị trường. Đây cũng là bước đột phá về thủ tục hành chính trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đảm bảo công khai, minh bạch, thông thoáng và hiệu quả.

Bên cạnh đó, trong năm 2017, Bộ KH&ĐT đã nghiên cứu trình Chính phủ, Quốc hội Luật Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt theo định hướng mỗi đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt lựa chọn phát triển thế mạnh riêng có nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của mỗi đơn vị, tạo động lực phát triển mới. Đây thực sự là bước đột phá được thể chế hóa, nâng cao hiệu quả và chất lượng của dòng vốn đầu tư vào nền kinh tế, tạo cú hích đồng bộ cho nền kinh tế chứ không chỉ đặc khu, thể chế hóa tinh thần của Nghị quyết TW6 về xây dựng chính quyền địa phương.

Nhiều đổi mới trong công tác quản lý đầu tư

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, trong bối cảnh hiện nay, các cán bộ của Bộ cần phát huy truyền thống bề dày đóng góp của ngành KH&ĐT, thay đổi tư duy, đổi mới công tác quản lý nguồn vốn đầu tư phát triển, mạnh dạn cải tổ quan điểm, tiếp tục đổi mới trong tình hình mới.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế hoạch phù hợp với chủ trương của Đảng, Chính phủ về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ cải cách hành chính, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý các dự án đầu tư công, bảo đảm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.

Cập nhật thông tin chi tiết về 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B/Nq trên website Phauthuatthankinh.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!